Wiki

Tuyển tập những bài văn Phân tích thơ hiện đại lớp 9 hay đặc sắc nhất

Ngày đăng: 26/06/2014, 07:29

THƠ HIỆN ĐẠI VIỆT NAM ( 1945 – 1985) §ång chÝ I. Nhà thơ Chính Hữu – Tên thật là Trần Đình Đắc. Quê: Can Lộc – Hà Tĩnh – Là nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Pháp, bắt đầu làm thơ năm 1947 – Thơ ông xoay quanh đề tài người lính chiến tranh – Thơ Chính Hữu ngắn gọn, cô đọng, hàm xúc, ngôn ngữ giản dị, hình ảnh chân thực, mộc mạc như bản chất của người dân xứ Nghệ nhưng lại mang nét hào hoa của người từng sống ở HN. II. Bài thơ “Đồng chí” 1. Hoàn cảnh sáng tác: Đầu năm 1948, sau những trải nghiệm của bản thân nhà thơ trong Chiến dịch VB Thu động 1947. “Bài thơ được khơi nguồn từ những sâu sa mới mẻ sâu lắng trong những ngày CH trực tiếp tham gia chiến dịch VB thu đông 1947” 2. Đề tài: Người lính trong cuộc kháng chiến chống Pháp 3. Chủ đề: Bài thơ ca ngợi tình đồng chí – phẩm chất cao đẹp của những người chiến sĩ cách mạng trong cuộc kháng chiến chống P. Đó là những người lính xuất thân từ những miền quê nghèo, vượt lên mọi gian khổ khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ. Ở họ có tình yêu nước tha thiết, cháy bỏng. tinh thần lạc quan, yêu đời, tình đồng chí, đồng đội kéo sơn gắn bó. 4. Nội dung: Bài thơ xây dựng h/ả những anh bộ đội từ những miền quê nghèo khắp mọi miền đn đi đánh giặc. Yếu tố quyết định mọi chiến thắng của các anh là tc mới nảy sinh được tôi luyện trong thử thách chiến đấu. Đó chính là tình đ.chí thiêng liêng cao cả. 5. Nghệ thuật – Bài thơ ngắn gọn, súc tích, cô đọng. – Hình ảnh chân thực, mộc mạc. Nhà thơ chú ý khai thác chất liệu hiện thực của cs chiến trường. – Ngôn ngữ bình dị giàu sắc thái biểu cảm – Sử dụng thể thơ tự do với kết cấu bó mạ. Số tiếng trong câu số câu trong khổ không đều nhau, phù hợp với việc diễn tả tc theo mạch cảm xúc. – Sự hòa quyện giữa chất hiện thực khắc nghiệt chất lãng mạn bay bổng. => Đây được coi là bài thơ hay nhất, thành công nhất viết về người lính trong cuộc kháng chiến chống P. Mở đầu cho khuynh hướng viết về anh bộ đội Cụ Hồ. 6. Mạch cảm xúc bố cục: * Mạch cảm xúc: Bài thơ theo thể tự do, 20 dòng chia làm 3 đoạn. Cả bài thơ tập trung thể hiện vẻ đẹp sức mạnh của tình đồng chí, đồng đội, nhưng ở mỗi đoạn sức nặng của tư tưởng cảm xúc được dẫn dắt để dồn tụ vào những dòng thơ gây ấn tượng sâu đậm (các dòng 7, 17 20). Sáu dòng đầu có thể xem là sự lý giải về cơ sở của tình đồng chí. Dòng 7 có cấu trúc đặc biệt (chỉ một từ với dấu chấm than) như một phát hiện, một lời khẳng định sự kết tinh tình cảm giữa những người lính. Mười dòng tiếp theo, mạch cảm xúc sau khi dồn tụ ở dòng 7 lại tiếp tục khơi mở trong những hình ảnh, chi tiết biểu hiện cụ thể, thấm thía tình đồng chí sức mạnh của nó. Ba dòng thơ cuối được tác giả tách ra thành một đoạn kết, đọng lại ngân rung với hình ảnh đặc sắc “Đầu súng trăng treo” như là một biểu tượng giàu chất thơ về người lính. * Câu hỏi: Tại sao bài thơ viết về tình đồng đội lại có nhan đề là “đồng chí”? Bài thơ viết về tình đồng đội nhưng lại được đặt tên là “Đồng chí”. “Đồng chí” là những người có chung trí hướng, lí tưởng, (đồng: cùng; chí: chí hướng). Người cùng trong một đoàn thể chính trị hay một tổ chức cách mạng thường gọi nhau là “đồng chí”. Ở đây là những người nông dân mặc áo lính cùng chung lí tưởng đánh giặc cứu nước. Họ sống trong quân ngũ, cùng kề vai sát cánh bên nhau đánh giặc, đó là tình đồng đội. Nhưng nghĩ sâu xa hơn về cơ sở hình thành, lí tưởng chiến đấu thì đó là tình đồng chí. Tình đồng đội thực chất cũng là tình đồng chí. Nhưng nói tình đồng chí thì bao trùm hơn, đầy đủ hơn 49 thiêng liêng hơn. Tình đồng chí là kết tinh của mọi tc: tình người, tình bạn, tình tri kỉ, tình đồng đội. Đây là nét mới của người chiến sĩ CM. Đặt nhan đề bài thơ là “Đồng chí”, nhà thơ muốn nhấn mạnh vào vẻ đẹp tâm hồn của người lính. III. Đề Tập làm văn * Đề bài: Phân tích khổ thứ nhất của bài thơ Đồng chí.( Cơ sở hình thành tình đồng chí) I. Mở bài – Tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác – Khái quát nội dung + nghệ thuật – Giới thiệu, chép lại khổ thơ VD: Là nhà thơ trưởng thành trong cuộc k/c chống P, CH bắt đầu sáng tác thơ năm 1947. Ông tên thật là Trần Đình Đắc, quê ở Can Lộc – Hà Tĩnh. Thơ CH xoay quanh đề tài người lính chiến tranh. Thơ ông ngắn gọn, cô đọng, hàm xúc, ngôn ngữ giản dị, hình ảnh chân thực, mộc mạc như bản chất người xứ Nghệ nhưng lại mang nét hào hoa của người từng sống ở HN. “Đồng chí” là tác phẩm tiêu biểu của ông. Khổ thơ đầu, nhà thơ đã lí giải sâu sắcsở hình thành lên tình đồng chí. Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá ………………… Đồng chí! II. Thân bài 1. Khái quát: Với những lời thơ mộc mạc, giản dị, ý thơ đằm thắm, tg đã khắc họa thành công h/ả người lính Cụ Hồ trong cuộc k/c chống P. Đoạn thơ mở đầu đã để lại bao xúc động. Bởi ta hiểu được cơ sở hình thành nên tình đồng chí. Họ đã gắn kết với nhau bởi rất nhiều điểm chung: chung giai cấp, nhiệm vụ, khó khăn, thiếu thốn, lí tưởng. 2. Phân tích * Chung giai cấp: Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá – Hai câu thơ với cấu trúc sóng đôi, giọng thơ trầm lắng như lời tâm sự, ngôn ngữ giản dị mộc mạc như lời ăn tiếng nói hằng ngày, đặc biệt là cách sử dụng thành ngữ dân gian đã diễn tả đầy đủ hoàn cảnh xuất thân của những người lính. “Nước mặn đồng chua” gợi h/ả những vùng đồng bằng chiêm trũng lắm mặn, nhiều phèn. Cây cối khó trồng vì đất đai thiếu màu mỡ, phì nhiều. “Đất cày sỏi đá” gợi lên liên tưởng đến những vùng trung du, đồi núi, đất đai cằn cỗi, bạc màu. Anh tôi tuy xuất thân từ những vùng quê khác nhau, kẻ miền núi, người miền biển nhưng đều có chung hoàn cảnh nghèo khó, vất vả, lam lũ. Chúng ta đều là những người nông dân nghèo quanh năm gắn bó với ruộng đồng, với cái cày, cái cuốc, con trâu. -> Có thế thấy, tình giai cấp chính là t/c đầu tiên gắn bó những người lính nông dân ấy lại với nhau. – Trước khi chiến tranh xảy ra, họ vẫn là người xa lạ: Anh với tôi đôi người xa lạ – Họ tuy là những người xa lạ nhưng tác giả lại gọi họ là “đôi”. “Đôi” cũng có nghĩa là hai nhưng đó là hai người có mối quan hệ gần gũi, khăng khít. Bởi từ trong sâu thẳm, họ gắn kết với nhau trong mối quan hệ của người cùng một dân tộc, cùng chung nỗi đau, cùng chung nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ TQ. Họ nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của TQ để rồi: Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau – Chiến tranh xảy ra, đất nước bị lâm nguy, tiếng gọi ấy thôi thúc các chàng trai ra trận. Họ vốn là những con người nông dân quen với cái cày ,cái cuốc, con trâu, với ruộng vườn. Giờ dây họ phải giã từ tất cả để lại sau lưng: mái đình, giếng nước, gốc đa ánh mắt đăm đắm của người thân. Những con người xa lạ ấy đã trở thành thân thiết, gắn bó vì cùng đứng trên một trận tuyến chiến đấu với kẻ thù. * Chung nhiệm vụ 50 – Những con người xa lạ ấy luôn sát cánh bên nhau. H/ả “súng bên súng” vừa là hình ảnh thực, vừa là hình ảnh tượng trưng. Súng là vũ khí, là phương tiện của người lính, là biểu tượng của chiến tranh. Những người lính luôn có cây súng kề bên trong bất cứ hoàn cảnh nào. Cây súng không chỉ là vũ khí, phương tiện mà còn là người bạn gần gũi, thân thiết với họ. Đồng thời nó còn có sức gợi tả những người lính luôn có chung nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc. khi họ cùng đứng trên một trận tuyến, cùng có chung nhiệm vụ thì họ đã trở thành đồng đội của nhau. * Chung khó khăn, thiếu thốn – Họ không chỉ có chung nhiệm vụ mà còn cùng nhau chịu những khó khăn, thiếu thốn của c/s đời thường: Đêm rét chung chăn – Lời thơ giản dị, hình ảnh chân thực, giọng thơ trầm lắng như lời thì thầm tâm sự về những khó khăn thiếu thốn mà “tôi” “anh” đang phải chịu. H/ả thơ thật giản dị nhưng lại nói lên nhiều hơn bất kì lời nói hoa mĩ nào. Họ – những con người nông dân bước vào c/chiến với trang bị vô cùng thô thiếu thốn.: Áo anh rách vai. Quần tôi có vài mảnh Chân không giày Vậy mà họ vẫn phải đương đầu với thiên nhiên khắc nghiệt giá rét lạnh của núi rừng VB. Câu thơ không chỉ nói lên cái thiếu thốn của họ mà còn diễn tả một cách xúc động tình cảm gắn bó giữa những người lính. Dường như càng khó khăn thiếu thốn bao nhiêu, thì tình đồng chí, đồng đội càng gắn bó bấy nhiêu. Tấm chăn ấy tuy không đủ để sưởi ấm họ về thể xác nhưng lại sưởi ấm họ về tâm hồn. Có lẽ không ở đâu trên trái đất này, tình cảm của người lính lại thân thiết, gắn bó như vậy. chính trong những đêm đông lạnh giá, cùng đắp chung tấm chăn mỏng, họ đã sẻ chia với nhau bao tâm sự, nỗi niềm. . để rồi từ sự gắn bó thân thiết ấy, họ trở thành bạn tri âm, tri kỉ của nhau. * Chung lí tưởng: – Mỗi người lính khi bước vào chiến trường đều mang trong mình ty nước thiết tha cháy bỏng. Khó khăn thiếu thốn không làm họ lùi bước. vất vả gian truân không làm họ nản lòng. Điều gì đã giúp họ có được sức mạnh như vậy? Đó chính là khát vọng, là lí tưởng, là mục đích chiến đấu của họ: Đánh đuổi giặc ngoại xâm. ba tiếng “đầu bên đầu” đều sử dụng vần bằng, diễn tả thái độ nhẹ nhàng nhưng kiên quyết về ý thức của người lính. Tất cả họ đều đứng chung trong một hàng ngũ, một trận tuyến để cùng nhau chia sẻ ngọt bùi. từ trong những chia sẻ gắn bó ấy, tình đồng đội đã trở thành tình đồng chí thiêng liêng. – “Đồng chí” – câu thơ chỉ có 2 tiếng kết hợp với dấu chấm than như một tiếng gọi thốt lên từ tận đáy lòng với bao t/c trìu mến trân trọng. Đó cũng chính là một phát hiện, một khẳng định về một tình cảm vô cùng thiêng liêng. Hai tiếng “Đồng chí” ngắn gọn nhưng không khô khan bởi nó là kết tinh của rất nhiều tình cảm: tình người, tình đồng đội, tình tri kỉ. Nó như gói gọn mọi cung bậc cảm xúc để phát triển thành thứ tình cảm mới vô cùng thiêng liêng. – “ Đồng chí” – câu thơ được tách thành một dòng riêng, có vị trí đặc biệt. Nó như một bản lề gắn kết hai phần bài thơ, vừa khép lại ý của bẩy câu thơ trên: cùng hoàn cảnh xuất thân, cùng lý tưởng thì trở thành đồng chí của nhau. Đồng thời nó cũng mở ra ý tiếp theo: Đó chính là biểu hiện cụ thể cảm động của tình đồng chí ở mười câu thơ sau. -> Câu thơ như một nốt nhạc làm bừng sáng cả bài thơ. Bởi đó là kết tinh của tình cảm cách mạng mới mẻ chỉ có ở thời đại mới. Câu thơ thứ 7 thực sự là một câu thơ đặc biệt. III. Kết bài: Khổ thơ kết thúc nhưng lại mở ra những suy nghĩ mới trong lòng người đọc. Bởi nó đã khơi gợi lại những kỷ niệm đẹp, những tình cảm tha thiết gắn bó yêu thương để hình thành nên tình đồng chí mà chỉ có những người đã từng là lính mới có thể hiểu cảm nhận hết được. Bài thơ đã ca ngợi tình đồng chí hết sức thiêng liêng như là một ngọn lửa vẫn cháy mãi, bập bùng, không bao giờ tắt. 51 Đề bài 2: Phân tích khổ thứ hai bài thơ “Đồng chí” ( Biểu hiện cụ thể của tình đồng chí”) I. Mở bài – Tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác – Khái quát nội dung + nghệ thuật – Giới thiệu, chép lại khổ thơ VD: Văn học Việt Nam 1945 – 1975 đã gắn bó mật thiết với vận mệnh cũng như với sự nghiệp cách mạng, sáng tạo nhiều hình tượng cao đẹp về Tổ quốc con người Việt Nam trong chiến đấu, lao động, sinh hoạt. Lẽ tất nhiên, ở một đất nước không rời tay súng suốt ba mươi năm, hình tượng người lính là hình tượng đẹp nhất, nổi bật nhất trong văn thơ thời ấy là niềm tự hào lớn của dân tộc. Bài thơ “Đồng chí” của Chính Hữu là một trong những tác phẩm viết về hình tượng cao đẹp ấy. Đặc biệt khổ 2 của bài thơ đã khiến người đọc cảm nhận được những biểu hiện cụ thể, cao đẹp của tình đồng chí. II. Thân bài 1. Khái quát: Đoạn thơ chỉ vỏn vẹn có 10 câu nhưng lại có sức lay động trái tim của rất nhiều người độc giả. Bởi nó ghi lại một cách chân thực cảm động mối tình keo sơn gắn bó giữa những người lính. Họ đang cùng nhau chia sẻ những khó khăn, thiếu thốn; cùng nhau vượt qua mọi khó khăn, thử thách của cuộc chiến ác liệt để đến với nhau bằng tình đoàn kết, yêu thương. 2. Phân tích * Hiểu thấu hoàn cảnh, tâm tư, tình cảm của nhau – Những người lính cũng là những người bạn tri âm tri kỉ của nhau. Trong cuộc chiến đấu cam go ác liệt, họ đã cùng nhau chia sẻ ngọt bùi. Những lời tâm sự về quê anh, làng tôi đã giúp họ hiểu hoàn cảnh của nhau hơn. Họ đều là những người nông dân ở những miền quê nghèo khó. Nghe theo tiếng gọi của TQ, họ đã rời bỏ mái đình, cây đa, giếng nước, để lại sau lưng tất cả những gì yêu dấu bước vào cuộc chiến. Họ đã hiểu bạn như hiểu mình: Ruộng nương………… ra lính. – Hoàn cảnh của anh cũng giống tôi. Ta gửi lại ruộng nương cho bạn thân giúp đỡ. “Gian nhà không mặc kệ gió lung lay”. Hình ảnh “ gian nhà không” kết hợp với từ láy “lung lay” ở cuối câu thơ giúp ta cảm nhận được sự trống trải, khó khăn của một gia đình vắng người trụ cột. Người lính cũng hiểu điều đó, lòng anh cũng lưu luyến muốn ở lại. Nhưng đứng trước cảnh xâm lăng, là một người con của Tổ quốc, anh đã đặt lòng yêu nước lên trên tất cả, đặt nghĩa chung lên trên tình riêng. Hai chữ “mặc kệ” đã thể hiện thái độ lên đường thật rõ ràng, dứt khoát. Nó gợi cho ta nhớ đến hình ảnh những anh Vệ quốc đoàn trong bài “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi : “Người ra đi đầu không ngoảnh lại / Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy.” Nhưng người lính của Chính Hữu vẫn còn nặng lòng với quê hương nhiều lắm. Từ “mặc kệ” mang đậm chất khẩu ngữ rất ít khi xuất hiện trong thơ nhưng lại mang ý nghĩa khẳng định ý chí quyết tâm, sự dứt khoát của người lính khi họ bước vào cuộc chiến. Đây không phải là sự phó mặc, mà theo ngôn ngữ của người lính chỉ là một sự hoãn lại, đợi chờ cách mạng thành công. Vì nếu vô tình thì ở nơi chiến trường, làm sao họ cảm nhận được từng cơn gió lạnh lùa vào gian nhà trống của gia đình mình. Làm sao họ cảm nhận được tình thương nhớ hồn hậu của quê hương : Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính Hình ảnh ẩn dụ “giếng nước gốc đa” thường được sử dụng trong ca dao để nói về quê hương làng xóm. Nhà thơ đã vận dụng tài tình chi tiết ấy, kết hợp với phép nhân hóa để gợi tả cảm giác phía sau người lính còn cả một gia đình, một hậu phương vững chắc đang chờ đợi. Ở đây chủ thể trong câu thơ không phải người lính, mà chính “giếng nước gốc đa” mới là chủ thể trữ tình. Đó là nơi họ sinh ra, lớn lên, dù có dứt khoát thế nào họ cũng không thể quên được. Chính cái thâm tình với hậu phương ấy đã biến thành động lực để người lính chiến đấu, không chỉ vì độc lập tự do cho Tổ quốc, mà còn để giải phóng quê hương. ở đây, nơi chiến trường, những người lính lại tìm được những tình cảm ấm áp hồn hậu của quê nhà 52 trong người bạn đồng chí của mình. Họ soi vào nhau, thấu hiểu đồng cảm về tất cả. Tình đồng chí là bước đệm để nhà thơ mở ra vẻ đẹp tâm hồn của người lính : hy sinh thầm lặng vì Tổ quốc nhưng vẫn luôn nhớ về quê hương, gia đình ở hậu phương. * Chia sẻ những khó khăn, khắc nghiệt của thiên nhiên, của vật chất đời thường. chính tâm hồn cao đẹp của tình đồng chí ấy đã giúp người lính vượt qua mọi gian lao, thách thức : Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnh Miệng cười buốt giá Chân không giày Một loạt những từ ngữ “ớn lạnh”, “sốt run người”, “ướt mồ hôi” đã đặc tả những cơn sốt rét rừng khủng khiếp mà rất quen thuộc với người lính thời ấy. Nếu trong cuộc sống gia đình, anh được bàn tay dịu dàng của người mẹ, người vợ ân cần chăm sóc thì ở đây, bàn tay ấy được thay bằng bàn tay của đồng đội. Sự chăm sóc ấy có thể vụng về, nhưng vẫn tràn đầy sự quan tâm, thấm đẫm tình đồng chí. Câu thơ đang vươn dài bỗng rút ngắn lại, chuyển sang âm điệu chậm rãi của phép liệt kê, tái hiện lại cuộc sống thiếu thốn của đời lính. Đi kháng chiến, anh lính nông dân mang theo cả cái nghèo vào chiến khu. Quân đội ta ngày ấy thiếu thốn đủ thứ, từ quân lương, quân y đến quân phục, quân trang, quân dụng,… Thiếu cả đến cái phương tiện tối thiểu để giữ ấm bàn chân là đôi giày. Nhưng khi ta đọc đoạn thơ lên, cái khổ chỉ là một yếu tố phụ, vì tình đồng chí đã tỏa hơi ấm tiếp thêm sức mạnh cho người lính. Cặp đối ứng “áo anh rách vai” – “quần tôi có vài mảnh vá” là gợi cái thiếu thốn nhưng thực chất lại mang ý nghĩa bổ sung. Tác giả miêu tả hai con người nhưng người đọc lại cảm thấy chỉ có một hình ảnh duy nhất – “đồng chí”. “Đồng chí” không còn chỉ là tình cảm gắn bó keo sơn giữa những người lính mà đã trở thành một hình tượng có thực. Hình tượng ấy hóa thân vào những chi tiết nhỏ nhặt nhất trong cuộc sống của người lính : “rách vai”, “có vài mảnh vá”, “chân không giày”. Ở dây không còn sự khoa trương, tô vẽ như trong bài thơ “Ngày về” : “Rách tả tơi rồi đôi giày vạn dặm / Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa”. Chất liệu hiện thực trong “Đồng chí” rất thật, thật tới mức trần trụi. Bài thơ lấy cảm hứng từ chiến dịch Việt Bắc thu đông 1947 mà tác giả tham gia cùng đồng đội nên ông hiểu cảm nhận được rất rõ cái gian khổ mà người lính phải chịu đựng. * Lạc quan, tin tưởng: Nhưng trong hoàn cảnh đó, người lính vẫn “miệng cười buốt giá”. Tác giả đã rất tài tình khi tả nụ cười mà khiến người đọc cảm nhận được cái lạnh giá tê buốt của núi rừng mùa đông. Hình ảnh ấy vượt qua cái khắc nghiệt của chiến trường để đọng lại trong ta một ấn tượng thật đẹp về tinh thần lạc quan, về khí phách anh hùng, về sức chịu đựng bền bỉ, về sự hy sinh âm thầm của người chiến sĩ. Nó gợi cho ta nhớ đến cái cười âm vang cả Trường Sơn của những người lính lái xe trong thơ Phạm Tiến Duật : “Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha”. * Đoàn kết thương yêu nhau – Sức mạnh đoàn kết đã khiến họ vượt qua tất cả. Không chỉ có tinh thần lạc quan t in tưởng mà còn có tình yêu thương đoàn kết gắn bó với nhau. Đó chình là nét đẹp khiến cho những người lính trong bài thơ “Đồng chí” sống mãi. Thương nhau tay nắm lấy bàn tay Trong bất cứ hoàn cảnh nào, dù khó khăn gian khổ đến đâu, chỉ cần một cái nắm tay là hai con người hòa vào làm một, hòa vào thành “đồng chí”. Với họ, bàn tay đã thay cho những lời nói, lời hứa, lời quyết tâm cùng nhau chiến đấu để bảo vệ tổ quốc. Họ đã truyền cho nhau hơi ấm, sức mạnh niềm tin qua bàn tay nắm chặt. Đó là bàn tay giao cảm thay lời muốn nói, bàn tay của sự đoàn kết, gắn bó keo sơn. Bàn tay ấy truyền hơi ấm, cảm thông, động viên, chia sẻ, thắt chặt tình người, tình bạn. Nếu như trong thơ Phạm 53 Tiến Duật, người lính “Bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi” để gần nhau hơn trên chặng đường dài thì với Chính Hữu, cái nắm tay đầy tình thương kia là biểu tượng cao đẹp, nồng ấm thiêng liêng nhất của tình đồng chí. Chiến tranh có thể tàn phá, cướp đi tất cả, nhưng không thể giết chết mối liên kết ấy. Chất liệu hiện thực sinh động chỉ là cái nền để tôn lên vẻ đẹp sâu lắng sức mạnh của tình đồng chí – tình cảm đã giúp tác giả biết bao người lính khác sống qua những tháng ngày lửa đạn. * Đánh giá nâng cao III. Kết bài : Đối với nghệ thuật, người nghệ sĩ phải bén rễ vào cuộc đời, hút lấy nguồn nhựa dạt dào ngầm chảy trong lòng cuộc sống, đem tôi luyện trong cảm xúc của mình để kết tinh thành những viên ngọc sáng ngời để lại cho đời. Nhà thơ Chính Hữu đã làm được điều đó. Đến với “Đồng chí”, ta cảm nhận được hình ảnh người lính cách mạng tình cảm gắn bó keo sơn của họ qua ngôn ngữ, hình ảnh cô đọng, chân thực gợi cảm. Bài thơ đã khắc họa nên bức tranh sống động hiện thực nhất về một quá khứ gian khổ vô cùng nhưng đầy ắp tình đồng đội, về những con người đã vượt qua tất cả để giành lấy hòa bình, độc lập ngày hôm nay. ………………………………………………………… * Đề bài 3 : Phân tích khổ thứ ba của bài thơ “Đồng chí I. Mở bài – Tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác – Khái quát nội dung + nghệ thuật – Giới thiệu, chép lại khổ thơ II. Thân bài 1. Khái quát: Ba câu thơ là bức tranh đẹp về tình đồng chí, đồng đội của người lính, là biểu tượng đẹp về cuộc đời người chiến sĩ. Trong bức tranh trên, nổi bật là ba hình ảnh gắn kết với nhau : Người lính, khẩu súng, vầng trăng giữa cảnh rừng hoang sương muối phục kích giặc. Sức mạnh của tình đồng đội đã giúp họ vượt lên tất cả những khắc nghiệt của thời tiết mọi gian khổ, thiếu thốn. Tình đồng chí đã sưởi ấm lòng họ. Hình ảnh “Đầu súng trăng treo” là hình ảnh đẹp nhất vì nó vừa là hình ảnh thực vừa là hình ảnh tượng trưng. 2. Phân tích: Đêm nay rừng hoang sương muối – Câu thơ vừa gợi không gian, vừa gợi thời gian tính chất của thời tiết. – Hai chữ “ Đêm nay” gợi mọt thời điểm cụ thể. Đó là lúc trời đã khuya, con người vũ trụ đi vào sự nghỉ ngơi nhưng người lính vẫn thức – “ Rừng hoang” gợi liên tưởng đến không gian rộng lớn mênh mông, hoang vụ, lạnh lẽo, thiếu vắng sự sống con người. ->Thiên nhiên thời tiết như đang thử thách người lính giữa núi rừng hoang vu trong sương muối phủ dày. Cái lạnh thấm sâu vào da thịt thì người lính vẫn: Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới – Ba chữ “đứng cạnh bên” vang lên như một lời khẳng định sự gắn bó sẻ chia của những người lính. Giữa núi rừng hoang vu, giữa cái rét run người, người lính vẫn sát cánh bên nhau để chờ giặc tới. – Họ đón đợi giặc trong tư thế hoàn toàn chủ động. Với cây súng, người lính trở thành linh hồn của đất nước, của không gian thời gian. Đêm đã khuya nhưng người lính vẫn toàn tâm toàn ý hướng lên mũi súng. Trong giây phút đó, anh phát hiện một điều vô cùng kì diệu. Đầu súng đang treo * Tầng nghĩa thực: – Câu thơ ngắn gọn, hàm súc tối đa, được sáng tạo trên mộtsở thực tế: Đêm càng khuya, trăng càng xuống thấp, người lính hướng mũi súng lên trời cao họ có cảm giác như trăng treo lơ lửng trên đầu mũi súng của mình. * Tầng nghĩa tượng trưng: Câu thơ mở ra một tầng nghĩa phong phú. Chính từ tình đồng chí đã trải qua bao thử thách gian nan đã tạo cho nhà thơ một cái nhìn thi vị. Sự hòa quyện giữa chất hiện thực khốc liệt 54 với chất lãng mãn bay bổng đã khiến cho “đầu súng đang treo”– trở thành hình ảnh đẹp nhất trong thơ ca kháng chiến chống Pháp. – Câu thơ thể hiện bản lĩnh nghệ thuật tài hoa của CH. Chỉ trong một câu thơ bốn chữ, nhà thơ đã xây dựng thành công hai hình ảnh đối lập, đó là súng trăng – Từ xa xưa, trăng vốn là nguồn cảm hứng vô tận của các nhà thơ. Nét độc đáo trong thơ Chính Hữu là ông đặt trăng trong mối quan hệ với súng. Nếu súng là biểu tượng của chiến tranh chết chóc thì trăng là hiện thân của hòa bình, của khát vọng hạnh phúc muôn đời. Nếu súng là hiện thực khốc liệt thì trăng là lãng mãn bay bổng. Nếu súng mang đậm chất chiến sĩ thì trăng thể hiện vẻ đẹp của người thi sĩ. Nếu súng ở rất gần thì trăng lại ở rất xa…… => Hai hình ảnh tưởng chừng hoàn toàn đối lập lại được sử dụng cùng chung một dụng ý nghệ thuật đều góp phần hoàn thiện tôn vinh vẻ đẹp người lính. – Chiến tranh gian khổ ác liệt, vật chất thiếu thốn, thiên nhiên khắc nghiệt cũng không làm cho trái tim người lính trở nên khô cằn. Mà ngược lại trái tim ấy lại trở nên đằm thắm hơn, tình người hơn, lãng mạn hơn. Họ không chỉ phát hiện mà còn cảm nhận thấy vẻ đẹp của thiên nhiên ngay trong hoàn cảnh gian khổ, ác liệt nhất. Điều đó cho thấy tâm hồn của những người lính thật tinh tế, nhạy cảm. c. Đánh giá: Có thể thấy đây là bức tranh không gian ba chiều. Sự xuất hiện của “trăng” tạo chiều cao, người lính “đứng bên nhau” tạo chiều ngang, ý chí tạo chiều xa. Trăng vốn mang vẻ đẹp mềm mại nhưng vĩnh hằng, kéo trăng về với súng cho thấy ý chí chiến đấu cũng theo đó mà hóa thành vĩnh hằng. Sự khắc nghiệt của chiến tranh khói lửa trong một phút bỗng nhạt nhòa đi trong bởi yếu tố trữ tình. Câu thơ cuối thể hiện góc nhìn tinh tế để chụp lấy cái thần của hình ảnh. Vẻ đẹp người chiến sĩ được tôn vinh, đặt ngang với vóc dáng kì vĩ của trời đất, tầm vóc con người sánh ngang với tầm vóc vũ trụ, tầm vóc sử thi. Ba câu thơ giúp người đọc cảm nhận đầy đủ hơn vẻ đẹp của người lính. Họ không chỉ dũng cảm can trường trong khí phách mà rất đằm thắm, tinh tế trong tâm hồn, những con người đã từng được ca ngợi: Lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa 3. Kết bài: Đoạn là hình ảnh thơ đẹp, giàu ý nghĩa. Đó là sự kết hợp giữa bút pháp hiện thực lãng mạn, vừa thực, vừa mơ, vừa xa vừa gần, vừa mang tính chiến đấu, vừa mang tính trữ tình. Vừa chiến sĩ vừa thi sĩ. Đây là hình ảnh tượng trưng cho tình cảm trong sáng của người chiến sĩ. Mối tình đồng chí đang nảy nở, vươn cao, tỏa sáng từ cuộc đời chiến đấu. Hình ảnh thơ thật độc đáo, gây xúc động bất ngờ, thú vị cho người đọc. Đồng thời nói lên đầy đủ ý nghĩa cao đẹp của mục đích lí tưởng chiến đấu tình nghĩa thiêng liêng của anh bộ đội Cụ Hồ. Chính đêìu đó đã khiến hình ảnh các anh sống mãi với thời gian. ……………………………………………… Đề 4 : Phân tích hình ảnh người lính trong bài thơ ĐC 1.MB: Nhà thơ Chính Hữu trưởng thành từ người lính thuộc trung đoàn thủ đô, rồi nổi lên trong thơ ca yêu nước chống Pháp với phong cách thơ bình dị, cảm xúc dồn nén, vừa thiết tha trầm hùng, vừa sâu lắng, hàm xúc. Phần lớn các sáng tác của ông đều tập trung vào hình ảnh người lính, đặc biệt khai thác sâu tình cảm, tình đồng chí, đồng đội. “Đồng chí” là bài thơ được sáng tác vào năm 1948, cũng là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách thơ Chính Hữu. Bài thơ nói về tình đồng chí, đồng đội thắm thiết, sâu nặng của những người lính cách mạng, đồng thời còn hiện lên hình ảnh chân thực, giản dị mà cao đẹp của anh bộ đội cụ Hồ thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. 2.TB – Phân tích: Làm rõ hệ thống luận điểm của nhân vật * LĐ 1: Xuất thân từ những miền quê nghèo, Chung nhiệm vụ, chung khó khăn, thiếu thốn, chung lí tưởng (súng bên súng … )=> Hình ảnh ĐC thiên liêng, cao đẹp.( Bảy câu thơ đầu) * LĐ 2: Tình động đội keo sơn gắn bó – Hiếu thấu tâm tư tình cảm hoàn cảnh của nhau. – Cùng chia sẻ những khó khăn về thời tiết những thiếu thốn của vật chất đời thường, – Thương yêu gắn bó, khăng khít keo sơn ( Thương nhau tay nắm lấy bàn tay) * LĐ 3 Lạc quan yêu đời 55 * LĐ 4: Dũng cảm kiên cường trong khí phách, đằm thắm trong tâm hồn, hòa quyện giữa chất thi sĩ chiến sĩ. * Đánh giá nâng cao: Cách xây dựng nhân vật: Bút pháp hiện thực, h/ả, ngôn ngữ bình dị chọn lọc…-> Tạc vào thế kỉ XX bức tượng đài người lính. Cùng với “ Nhớ”, “Tây Tiến”, “ Đồng chí” đã góp phần làm cho hình ảnh người lính sống mãi trong lòng người đọc III. Kết bài: Bài thơ đã kết thúc nhưng nó sẽ còn sống mãi chừng nào con người chưa mất đi bản năng của chính mình: sự rung động. Quả thật văn chương đã tạo ra cho mình một thế đứng riêng còn mạnh hơn lịch sử. Cùng tái hiện lại một thời đau thương nhưng vĩ đại hình tượng người chiến sĩ, nhưng văn chương đã đến với người đọc theo con đường của trái tim, gây nên những xung động thẫm mĩ trong tâm hồn con người, làm thành sự xúc cảm tận đáy tâm hồn những ấn tượng không thể nào quên . Đó là những năm đau thương chứng kiến những con người dũng cảm, kiên cường. Họ không khô khan mà bầu nhiệt huyết nung nấu, tràn đầy lòng hy sinh, tình đồng đội trong sáng, thân ái. Chính những điều đó làm bài thơ “Đồng Chí ” trên những trang giấy vẫn có lúc được lật lại, vẫn nhỏ từng giọt ngân vang, tưởng đến những con người thần kì mà bình dị với niềm tự hào kiêu hãnh , cho hôm nay mai sau mãi nhớ về. ……………………………………………… Bài tham khảo: Phân tích hình ảnh “Đầu súng trăng treo” trong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu. Không biết tự bao giờ ánh trăng đã đi vào văn học như một huyền thoại đẹp. Ở truyền thuyết “Chú cuội cung trăng” hay Hằng Nga trộm thuốc trường sinh là những mảng đời sống tinh thần bình dị đậm đà màu sắc dân tộc của nhân dân ta. Hơn thế nữa, trăng đã đi vào cuộc chiến đấu, trăng bảo vệ xóm làng, trăng được nhà thơ Chính Hữu kết tinh thành hình ảnh “đầu súng trăng treo” rất đẹp trong bài thơ “Đồng chí” của mình. Sau hơn mười năm làm thơ, Chính Hữu cho ra mắt tập “Đầu súng trăng treo”. Thế mới biết tác giả đắc ý như thế nào về hình ảnh thật đẹp, thơ mộng, rất thực nhưng không thiếu nét lãng mạn đó. Đầu súng trăng treo- đó là một hình ảnh tả thực một bức tranh tả thực sinh động. Giữa núi rừng heo hút “rừng hoang sương muối” giữa đêm thanh vắng tĩnh mịch bỗng xuất hiện một ánh trăng treo lơ lửng giữa bầu trời. hình ảnh này cũng thật lạ làm sao, súng trăng vốn tương phản với nhau, xa cách nhau vời vợi bỗng hoà quyện vào nhau thành một hình tượng gắn liền. Nhà thơ không phải tả mà chỉ gợi, chỉ đưa hình ảnh nhưng ta liên tưởng nhiều điều. Đêm thanh vắng người lính bên nhau chờ giặc tới, trăng chếch bóng soi sáng rừng hoang bao la rộng lớn, soi sáng tình cảm họ, soi sáng tâm hồn họ. Giờ đây, người chiến sĩ như không còn vướng bận về cảnh chiến đấu sắp diễn ra, anh thả hồn theo trăng, anh say sưa ngắm ánh trăng toả ngời trên đỉnh núi, tâm hồn người nông dân “nước mặn đồng chua” hay “đất cày trên sỏi đá” cằn cỗi ngày nào bỗng chốc trở thành người nghệ sĩ đang ngắm nhìn vẻ đẹp ánh trăng vốn có tự ngàn đời. Phải là một người có tâm hồn giàu lãng mạn một phong thái ung dung bình tĩnh lạc quan thì anh mới có thể nhìn một hình ảnh nên thơ như thế. Chút nữa đây không biết ai sống chết, chút nữa đây cũng có thể là giây phút cuối cùng ta còn ở trên đời này nhưng ta vẫn “mặc kệ”, vẫn say sưa với ánh trăng. Ánh trăng như xua tan cái lạnh giá của đêm sương muối, trăng toả sáng làm ngời ngời lòng người, trăng như cùng tham gia, cùng chứng kiến cho tình đồng chí đồng đội thiêng liêng của những ngươì linh. Trăng truyền thêm sức mạnh cho họ, tắm gội tâm hồn họ thanh cao hơn, trong sạch hơn, trăng cũng là bạn, là đồng chí của anh bộ đội Cụ Hồ. Đầu súng trăng treo- hình ảnh thật đẹp giàu sức khái quát. Súng tr¨ng kết hợp nhau; súng tượng trưng cho chiến đấu- trăng là hình ảnh của thanh bình hạnh phúc. Súng là con người, trăng là đất nước quê hương của bốn nghìn năm văn hiến. Súng là hình ảnh người chiến sĩ gan dạ kiên cường- Trăng là hình ảnh người thi sĩ. Sự kết hợp hài hoà tạo nên nét lãng mạn bay bổng vừa gợi tả cụ thể đã nói lên lí tưởng, mục đích chiến đấu mà người lính ấy đang tham gia. Họ chiến đấu cho sự thanh bình, chiến đấu 56 cho ánh trăng mãi nghiêng cười trên đỉnh núi. Ta hãy tưởng tượng xem: giữa đêm khuya rừng núi trập trùng bỗng hiện lên hình ảnh người lính đứng đó với súng khoác trên vai, nòng súng chếch lên trời ánh trăng lơ lửng ngay nòng ngọn súng. Đó là biểu tượng Khát Vọng Hoà Bình, nó tượng trưng cho tư thế lạ quan bình tĩnh, lãng mạn của người bảo vệ Tổ quốc. Cái thần của câu thơ “Đầu súng trăng treo” nằm ở từ “treo”, ta thử thay bằng từ mọc thì thật thà quá, làm sao còn nét lãng mạn ?. hãy thay một lần nữa bằng từ “lên” cũng không phù hợp, vì nó là hiện tượng tự nhiên: trăng tròn rồi khuyết, trăng lên trăng lặn sẽ không còn cái bất ngờ màu nhiệm nữa. Chỉ có trăng “treo”. Phải, chỉ có “Đầu súng trăng treo” mới diễn tả hết được cái hay, cái bồng bềnh thơ mộng của một đêm trăng “đứng chờ giặc tới”, chẳng thơ mộng chút nào. Ta nên hiểu bài thơ dường như được sáng tác ở thời điểm hiện tại “đêm nay” trong một không gian mà mặt đất là “rừng hoang sương muối” lạnh lẽo lòng đầy phấp phỏng giặc sẽ tới có nghĩa là cái chết có thể đến từng giây từng phút. Thế nhưng người lính ấy vẫn đứng cạnh nhau để tâm hồn họ vút lên nở thành vầng trăng. Nếu miêu tả hiện thực thì vầng trăng ấy sẽ có hình khối của không gian ba chiều. ở đây, từ điểm nhìn xa, cả vầng trăng súng đều tồn tại trên một mặt phẳng trong hội hoạ nó mang tính biểu tượng cao. Tố Hữu cũng có một câu thơ kiểu này: “ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan” Phạm Tiến Duật thì “Và vầng trăng vượt lên trên quầng lửa” hay Hoàng Hữu “Chỉ một nửa vầng trăng thôi một nửa. Ai bỏ quên ở phía chân trời…”. Nhưng có lẽ cô kết nhất, hay nhất vẫn là “Đầu súng trăng treo”. Như đã nói ở trên, không phải ngẫu nhiên mà Chính Hữu lấy hình ảnh “Đầu súng trăng treo” làm tựa đề cho tập thơ của mình. Nó là biểu tượng, là khát vọng cũng là biểu hiện tuyệt vời chất lãng mạn trong bài thơ cách mạng. Lãng mạng nhưng không thoát li, không quên được nhiệm vụ trách nhiệm của mình. Lãng mạn vì con người cần có những phút sống cho riêng mình. Trước cái đẹp mà con người trở nên thờ ơ lãnh đạm thì cuộc sống vô cùng tẻ nhạt. Âm hưởng của câu thơ đã đi đúng với xu thế lịch sử của dân tộc. Hình ảnh trăng súng đã có nhiều trong thơ Việt Nam nhưng chưa có sự kết hợp kì diệu nào bằng hình ảnh Đầu súng trăng treo của Chính Hữu. Nếu như Elsa Trioslet – nữ văn sĩ Pháp có nói “Nhà văn là người cho máu” thì tôi hãnh diện nói với văn sĩ rằng: Chính Hữu đã cho máu để tạo nên câu thơ tuyệt vời để cống hiến cho cuộc kháng chiến của chúng ta. bạn ơi! Bạn hãy thả cùng tôi những chú chim trắng trên bầu trời, hãy hát vang lên ca khúc Hoà Bình vì hình ảnh đầu súng trăng treo mà nhà thơ đã gởi vào đó bao nhiêu khát vọng nay đã thành hiện thưc. Phải chăng chất lính đã thấm dần vào chất thi ca, tạo nên dư vị tuyệt vời cho tình ” Đồng chí”. Nói đến thơ trước hết là nói đến cảm xúc sự chân thành. Không có cảm xúc, thơ sẽ không thể có sức lay động hồn người, không có sự chân thành chút hồn của thơ cũng chìm vào quên lãng. Một chút chân thành, một chút lãng mạn, một chút âm vang mà Chính Hữu đã gieo vào lòng người những cảm xúc khó quên. Bài thơ ” Đồng chí” với nhịp điệu trầm lắng mà như ấm áp, tươi vui; với ngôn ngữ bình dị dường như đã trở thành những vần thơ của niềm tin yêu, sự hy vọng, lòng cảm thông sâu sắc của một nhà thơ cách mạng Phải chăng, chất lính đã thấm dần vào chất thơ, sự mộc mạc đã hòa dần vào cái thi vị của thơ ca tạo nên những vần thơ nhẹ nhàng đầy cảm xúc? Trong những năm tháng kháng chiến chống thực dân Pháp gian lao, lẽ đương nhiên, hình ảnh những người lính, những anh bộ đội sẽ trở thành linh hồn của cuộc kháng chiến, trở thành niềm tin yêu hy vọng của cả dân tộc. Mở đầu bài thơ”Đồng chí”, Chính Hữu đã nhìn nhận, đã đi sâu vào cả xuất thân của những người lính: “Quê hương anh đất mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá” Sinh ra ở một đất nước vốn có truyền thống nông nghiệp, họ vốn là những người nông dân mặc áo lính theo bước chân anh hùng của những nghĩa sĩ Cần Giuộc năm xưa. đất nước bị kẻ thù xâm lược, Tổ quốc nhân dân đứng dưới một tròng áp bức. “Anh” “tôi”, hai người bạn mới quen, đều xuất than từ những vùng quê nghèo khó. Hai câu thơ vừa như đối nhau, vừa như song hành, thể hiện tình cảm của 57 những người lính. Từ những vùng quê nghèo khổ ấy, họp tạm biệt người thân, tạm biệt xóm làng, tạm biệt những bãi mía, bờ dâu, những thảm cỏ xanh mướt màu,họ ra đi chiến đấu để tìm lại, giành lại linh hồn cho Tổ quốc. Những khó khăn ấy dường như không thể làm cho những người lính chùn bước: “Anh với tôi đôi người xa lạ Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau Súng bên súng, đầu sát bên đầu Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ” Họ đến với Cách mạng cũng vì lý tưởng muốn dâng hiến cho đời. “Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình”. Chung một khát vọng, chung một lý tưởng, chung một niềm tin khi chiến đấu, họ lại kề vai sát cánh chung một chiến hào Dường như tình đồng đọi cũng xuất phát từ những cái chung nhỏ bé ấy. Lời thơ như nhanh hơn, nhịp thơ dồn dập hơn,câu thơ cũng trở nên gần gũi hơn: “Súng bên súng đầu sát bên đầu Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ Đồng chí ! ” Một loạt từ ngữ liệt kê với nghệ thuật điệp ngữ tài tình, nhà thơ không chỉ dưa bài thơ lên tận cùng của tình cảm mà sự ngắt nhịp đột ngột, âm điệu hơi trầm cái âm vang lạ lùng cũng làm cho tình đồng chí đẹp hơn, cao quý hơn. Câu thơ chỉ có hai tiếng nhưng âm điệu lạ lùng đã tạo nên một nốt nhạc trầm ấm, thân thương trong lòng người đọc. Trong muôn vàn nốt nhạc của tình cảm con người phải chăng tình đồng chí là cái cung bậc cao đẹp nhất, lí tưởng nhất. Nhịp thở của bài thơ như nhẹ nhàng hơn, hơi thở của bài thơ cũng như mảnh mai hơn Dường như Chính Hữu đã thổi vào linh hồn của bài thơ tình đồng chí keo sơn, gắn bó một âm vang bất diệt làm cho bài thơ mãi trở thành một phần đẹp nhất trong thơ Chính Hữu. Hồi ức của những người lính, những kĩ niệm riêng tư quả là bất tận: “Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không mặc kệ gió lung lay” Cái chất nông dân thuần phác của những anh lính mới đáng quý làm sao ! Đối với những người nông dân, ruộng nương, nhà cửa là những thứ quý giá nhất. Họ sống nhờ vào đồng ruộng,họ lớn lên theo câu hát ầu ơ của bà của mẹ.Họ lơn lên trong những “gian nhà không mặc kẹ gió lung lay”. Tuy thế, họ vẫn yêu, yêu lắm chứ những mảnh đất thân quen, những mái nhà thân thuộc Nhưng họ đã vượt qua chân trời của cái tôi bé nhỏ để đến với chân trời của tất cả. Đi theop con đường ấy là đi theo khát vọng, đi theo tiếng gọi yêu thương của trái tim yêu nước. Bỏ lại sau lưng tất cả nhưng bóng hình của quê hương vẫn trở thành nỗi nhớ khôn nguôi của mỗi người lính. Dẫu rằng” mặc kệ” nhưng trong lòng họ vị trí của quê hương vẫn bao trùm như muốn ôm ấp tất cả mọi kỉ niệm. Không liệt kê, cũng chẳng phải lối đảo ngữ thường thấy trong thơ văn,nhưng hai câu thơ cũng đủ sức lay đọng hồn thơ, hồn người: “Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính” Sự nhớ mong chờ đợi của quê hương với những chàng trai ra đi tạo cho hồn quê có sức sống mãnh liệt hơn. Nhà thơ nhân hóa”gieengs nước gốc đa” cũng có nỗi nhớ khôn nguôi với những người lính. Nhưng không kể những vật vô tri, tác giả còn sử dụng nghệ thuật hoán dụ để nói lên nỗi nhớ của những người ở nhà, nỗi ngóng trông của người mẹ đối với con, những người vợ đối với chòng những đôi trai gái yêu nhau Bỏ lại nỗi nhớ, niềm thương, rời xa quê hương những người lính chiến đấu trong gian khổ: “Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vầng trán đẫm mồ hôi Áo anh rách vai Quần anh có vài mảnh Miệng cười buốt giá Chân không giày” Câu thơ chầm chậm vang lên nhưng lại đứt quãng, phải chăng sự khó khăn, vất vả, thiếu thốn 58 […]… hng, vi T quc, vi th h hụm nay, ngy mai hay mói mói v sa 9 – 197 0, sau ny bi th c a vo tp th ” Vng trng, qung la” 2 ti : Ngi lớnh lỏi xe trờn tuyn ng Trng Sn trong cuc khỏng chin chng M 3 Ch : Bi th ca ngi nhng ngi lớnh lỏi xe… tỏc nm 194 8 giai on u ca cuc khỏng chin chng M cũn bi th v tiu i xe khụng kớnh ra i sau ú 20 nm(18 nm) gia thi kỡ ỏc lit nht khỏng chin chng M – Tuy ra i 2 thi a im khỏc nhau nhng 2 nh th u vit chung 1 ti: hỡnh tng anh b i C H ú cng chớnh l hỡnh tng tiờu biu ca Vit Nam giai on 194 5 197 5 a Nột chung ca hỡnh tng ngi lớnh trong bi th * Lũng yờu nc – Dự l ngi lớnh trong khỏng chin chng Phỏp hay chng… nhng gian lao th thỏch ca cuc chin (0,5) + bt tay qua ca kớnh v ri: l s gp g, cỏi bt tay thay li cho h hi, trong khụng khớ khn trng ca chin trng ỏc lit, tip thờm cho nhau sc mnh v nhng ha hn lp cụng ú cng l s sụi ni, ngang tng, tinh nghch ca nhng anh lớnh tr Đoàn thuyền đánh cá I Nh th Huy Cn – Huy Cn ( 191 9 – 2005) tờn y l Cự Huy Cn, quờ n Phỳ – V Quang – H Tnh – L nh th ni ting ca phong tro… chin s lỏi xe trờn ng Trng Sn ú l nhng con ngi dng cm n ngang tng m rt gin d, yờu i, lc quan II Thõn bi : a, Khỏi quỏt : “Bi th v tiu i xe khụng kớnh” ó t c gii Nht trong cuc thi trờn bỏo vn ngh nm 196 9 Trong ú, chõn dung nhng ngi chin s ó c khc ha bng nhng chi tit sng thc chin trng Cú th thy PTD ó khai thỏc c cht th rt lớnh nhng li bc l phm cht cao p ca nhng ngi lớnh lỏi xe núi riờng v nhng chin… th h sng rt p, rt anh hựng H ý thc sõu sc v s mnh lch s ca mỡnh, trong gian kh, hy sinh vn phi phi lc quan Nh li nh th T Hu, h l th h X dc Trng Sn i cu nc – M lũng phi phi dy tng lai hay i chin trng nh try hi mựa xuõn hay Ma bom bóo n lũng thanh thn Chớnh vỡ vy, mói mói cỏc th h ngi Vit vn t ho, khõm phc v bit n h – Nhng ngi lớnh trong ng chớ v Bi th v tiu i xe khụng kớnh cho thy hỡnh nh ngi lớnh trong… sỏng to ca hỡnh nh chi tit, s linh hot ca nhc iu, bi th ó khc ho, tụn vớnh v p phm giỏ con ngi, ho nhp vi cm hng lóng mn cỏch mng v õm hng s thi ho hựng ca vn hc Vit Nam trong ba mi nm chng xõm lc 194 5 – 197 5 bi 3 : Hỡnh nh ngi lớnh trong BTTXKK v ng Chớ 1 MB: – Hỡnh nh ngi lớnh (2 cuc chng Phỏp v M) – V trớ ca h trong lũng c gi – H ó tr thnh ngun cm hng vụ tn cho cỏc nh vn, nh th Cú nhiu nh vn thnh… thuyn ỏnh cỏ” 1 Hon cnh sỏng tỏc: – Bi th c vit vo nm 195 8, khi t nc ó kt thỳc thng li cuc khỏng chin chng thc dõn Phỏp, min Bc c hon ton gii phúng v i vo xõy dng cuc sng mi Khụng khớ ho hng, phn chn, tin tng bao trựm trong i sng xó hi v khp ni dy lờn phong tro phỏt trin sn xut xõy dng t nc Chuyn thõm nhp thc t vựng m Qung Ninh vo na cui 68 nm 195 8 ó giỳp nh th Huy Cn thy rừ v sng trong khụng khớ lao… th Bi th va c kớnh va mi m trong hỡnh nh, ngụn ng m iu to nờn õm hng va khe khon sụi ni li phi phi bay bng iu ú ó to nờn sc hp dn ca bi th cho n bõy gi c li ta vn thy hay trong khi mt s bi th khỏc cựng vit v ti ny ó ri vo quờn lóng * 9: Thiờn nhiờn trong bi th on thuyn ỏnh cỏ I M bi: – Tỏc gi, tỏc phm, hon cnh sỏng tỏc – Bi th khụng ch khc ha thnh cụng hỡnh tng con ngi lao ng mi m cũn v lờn bc tranh… lờn trong ting hỏt ca nhng con ngi chy ua cựng mt tri V p ca thnh qu lao ng cng chớnh l v p ca nhng ngi lao ng mi, lm n tp th, lm ch thiờn nhiờn, lm ch i mỡnh 79 Cõu 3: Bi th cú bao nhiờu t hỏt, c bi cng l mt khỳc ca, õy l khỳc ca gỡ v tỏc gi lm thay li ai? Em cú nhn xột gỡ v õm hng, ging iu ca bi th? Cỏc yu t: th th, vn, nhp ó gúp phn to nờn õm hng ca bi th nh th no? Bi th on thuyn ỏnh cỏ cú õm hng va . và riêng ở hai câu thơ. Về n i dung: Cảm nhận được i m chung: – Cùng miêu tả nụ cư i của ngư i chiến sĩ – Đều biểu hiện niểm lạc quan vượt m i khó khăn, nguy hiểm – Tiếng cư i giúp ngư i lính. b i 3 : Phân tích khổ thứ ba của b i thơ “Đồng chí I. Mở b i – Tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác – Kh i quát n i dung + nghệ thuật – Gi i thiệu, chép l i khổ thơ II. Thân b i 1. Kh i. mu i – Câu thơ vừa g i không gian, vừa g i th i gian và tính chất của th i tiết. – Hai chữ “ Đêm nay” g i mọt th i i m cụ thể. Đó là lúc tr i đã khuya, con ngư i và vũ trụ i vào sự nghỉ ngơi

Xem thêm :  10 phim Trung Quốc hot nhất khiến mọt phim bỏ cả thanh xuân để hóng ngày lên sóng

Nhận xét về bài thơ “ Sang thu” có ý kiến cho rằng: “ Sang thu – khúc giao mùa nhẹ nhàng, thơ mộng bâng khuâng mà cũng thì thầm triết lí đã nối tiếp hành trình thơ thu dân tộc, góp một tiếng thu đằm thắm về mùa thu quê hương, đem đến cho thế hệ trẻ tình yêu đn qua nét thơ thu VN” Qua bài thơ “ Sang thu”, em hãy làm sáng tỏ nhận định trên.HIỆN ĐẠI VIỆT NAM ( 1945 – 1985) §ång chÝ I. NhàChính Hữu – Tên thật là Trần Đình Đắc. Quê: Can Lộc – Hà Tĩnh – Là nhàtrưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Pháp, bắt đầu làmnăm 1947 -ông xoay quanh đề tài người línhchiến tranh -Chính Hữu ngắn gọn, cô đọng, hàm xúc, ngôn ngữ giản dị, hình ảnh chân thực, mộc mạc như bản chất của người dân xứ Nghệ nhưng lại mang nét hào hoa của người từng sống ở HN. II.”Đồng chí” 1. Hoàn cảnh sáng tác: Đầu năm 1948, sau những trải nghiệm của bản thân nhàtrong Chiến dịch VB Thu động 1947. “Bàiđược khơi nguồn từ những sâu sa mới mẻsâu lắng trong những ngày CH trực tiếp tham gia chiến dịch VB thu đông 1947” 2. Đề tài: Người lính trong cuộc kháng chiến chống Pháp 3. Chủ đề:ca ngợi tình đồng chí – phẩm chất cao đẹp của những người chiến sĩ cách mạng trong cuộc kháng chiến chống P. Đó là những người lính xuất thân từ những miền quê nghèo, vượt lên mọi gian khổ khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ. Ở họ có tình yêu nước tha thiết, cháy bỏng. tinh thần lạc quan, yêu đời, tình đồng chí, đồng đội kéo sơn gắn bó. 4. Nội dung:xây dựng h/ả những anh bộ đội từ những miền quê nghèo khắp mọi miền đn đi đánh giặc. Yếu tố quyết định mọi chiến thắng của các anh là tc mới nảy sinh được tôi luyện trong thử tháchchiến đấu. Đó chính là tình đ.chí thiêng liêng cao cả. 5. Nghệ thuật -ngắn gọn, súc tích, cô đọng. – Hình ảnh chân thực, mộc mạc. Nhàchú ý khai thác chất liệu hiện thực của cs chiến trường. – Ngôn ngữ bình dị giàuthái biểu cảm – Sử dụng thểtự do với kết cấu bó mạ.tiếng trong câucâu trong khổ không đều nhau, phù hợp với việc diễn tả tc theo mạch cảm xúc. – Sự hòa quyện giữa chất hiện thực khắc nghiệtchất lãng mạn bay bổng. => Đây được coi lànhất, thành công nhất viết về người lính trong cuộc kháng chiến chống P. Mở đầu cho khuynh hướng viết về anh bộ đội Cụ Hồ. 6. Mạch cảm xúcbố cục: * Mạch cảm xúc:theo thể tự do, 20 dòng chia làm 3 đoạn. Cảtập trung thể hiện vẻ đẹpsức mạnh của tình đồng chí, đồng đội, nhưng ở mỗi đoạn sức nặng của tư tưởngcảm xúc được dẫn dắt để dồn tụ vào những dònggây ấn tượng sâu đậm (các dòng 7, 1720). Sáu dòng đầu có thể xem là sự lý giải về cơcủa tình đồng chí. Dòng 7 có cấu trúcbiệt (chỉtừ với dấu chấm than) nhưphát hiện,lời khẳng định sự kết tinh tình cảm giữa những người lính. Mười dòng tiếp theo, mạch cảm xúc sau khi dồn tụ ở dòng 7 lại tiếp tục khơi mở trong những hình ảnh, chi tiết biểu hiện cụ thể, thấm thía tình đồng chísức mạnh của nó. Ba dòngcuối được tác giả tách ra thànhđoạn kết, đọng lạingân rung với hình ảnh“Đầu súng trăng treo” như làbiểu tượng giàu chấtvề người lính. * Câu hỏi: Tại saoviết về tình đồng đội lại có nhan đề là “đồng chí”?viết về tình đồng đội nhưng lại được đặt tên là “Đồng chí”. “Đồng chí” là những người có chung trí hướng, lí tưởng, (đồng: cùng; chí: chí hướng). Người cùng trongđoàn thể chính trịtổ chức cách mạng thường gọi nhau là “đồng chí”. Ở đây là những người nông dân mặc áo lính cùng chung lí tưởng đánh giặc cứu nước. Họ sống trong quân ngũ, cùng kề vai sát cánh bên nhau đánh giặc, đó là tình đồng đội. Nhưng nghĩ sâu xa hơn về cơhình thành, lí tưởng chiến đấu thì đó là tình đồng chí. Tình đồng đội thực chất cũng là tình đồng chí. Nhưng nói tình đồng chí thì bao trùm hơn, đầy đủ hơn49 thiêng liêng hơn. Tình đồng chí là kết tinh của mọi tc: tình người, tình bạn, tình tri kỉ, tình đồng đội. Đây là nét mới của người chiến sĩ CM. Đặt nhan đềlà “Đồng chí”, nhàmuốn nhấn mạnh vào vẻ đẹp tâm hồn của người lính. III. Đề Tập làm văn * Đề bài:khổ thứ nhất củaĐồng chí.( Cơhình thành tình đồng chí) I. Mở- Tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác – Khái quát nội dung + nghệ thuật – Giới thiệu, chép lại khổVD: Là nhàtrưởng thành trong cuộc k/c chống P, CH bắt đầu sáng tácnăm 1947. Ông tên thật là Trần Đình Đắc, quê ở Can Lộc – Hà Tĩnh.CH xoay quanh đề tài người línhchiến tranh.ông ngắn gọn, cô đọng, hàm xúc, ngôn ngữ giản dị, hình ảnh chân thực, mộc mạc như bản chất người xứ Nghệ nhưng lại mang nét hào hoa của người từng sống ở HN. “Đồng chí” là tác phẩm tiêu biểu của ông. Khổđầu, nhàđã lí giải sâucơhình thành lên tình đồng chí. Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá ………………… Đồng chí! II. Thân1. Khái quát: Với những lờimộc mạc, giản dị, ýđằm thắm, tg đã khắc họa thành công h/ả người lính Cụ Hồ trong cuộc k/c chống P. Đoạnmở đầu đã để lại bao xúc động. Bởi ta hiểu được cơhình thành nên tình đồng chí. Họ đã gắn kết với nhau bởi rất nhiều điểm chung: chung giai cấp, nhiệm vụ, khó khăn, thiếu thốn, lí tưởng. 2.* Chung giai cấp: Quê hương anh nước mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá – Hai câuvới cấu trúc sóng đôi, giọngtrầm lắng như lời tâm sự, ngôn ngữ giản dị mộc mạc như lời ăn tiếng nói hằng ngày,biệt là cách sử dụng thành ngữ dân gian đã diễn tả đầy đủ hoàn cảnh xuất thân của những người lính. “Nước mặn đồng chua” gợi h/ả những vùng đồng bằng chiêm trũng lắm mặn, nhiều phèn. Cây cối khó trồng vì đất đai thiếu màu mỡ, phì nhiều. “Đất cày sỏi đá” gợi lên liên tưởng đến những vùng trung du, đồi núi, đất đai cằn cỗi, bạc màu. Anhtôi tuy xuất thân từ những vùng quê khác nhau, kẻ miền núi, người miền biển nhưng đều có chung hoàn cảnh nghèo khó, vất vả, lam lũ. Chúng ta đều là những người nông dân nghèo quanh năm gắn bó với ruộng đồng, với cái cày, cái cuốc, con trâu. -> Có thế thấy, tình giai cấp chính là t/c đầu tiên gắn bó những người lính nông dân ấy lại với nhau. – Trước khi chiến tranh xảy ra, họ vẫn là người xa lạ: Anh với tôi đôi người xa lạ – Họ tuy là những người xa lạ nhưng tác giả lại gọi họ là “đôi”. “Đôi” cũng có nghĩa là hai nhưng đó là hai người có mối quan hệ gần gũi, khăng khít. Bởi từ trong sâu thẳm, họ gắn kết với nhau trong mối quan hệ của người cùngdân tộc, cùng chung nỗi đau, cùng chung nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ TQ. Họ nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của TQ để rồi: Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau – Chiến tranh xảy ra, đất nước bị lâm nguy, tiếng gọi ấy thôi thúc các chàng trai ra trận. Họ vốn là những con người nông dân quen với cái cày ,cái cuốc, con trâu, với ruộng vườn. Giờ dây họ phải giã từ tất cả để lại sau lưng: mái đình, giếng nước, gốc đaánh mắt đăm đắm của người thân. Những con người xa lạ ấy đã trở thành thân thiết, gắn bó vì cùng đứng trêntrận tuyến chiến đấu với kẻ thù. * Chung nhiệm vụ 50 – Những con người xa lạ ấy luôn sát cánh bên nhau. H/ả “súng bên súng” vừa là hình ảnh thực, vừa là hình ảnh tượng trưng. Súng là vũ khí, là phương tiện của người lính, là biểu tượng của chiến tranh. Những người lính luôn có cây súng kề bên trong bất cứ hoàn cảnh nào. Cây súng không chỉ là vũ khí, phương tiện mà còn là người bạn gần gũi, thân thiết với họ. Đồng thời nó còn có sức gợi tả những người lính luôn có chung nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc.khi họ cùng đứng trêntrận tuyến, cùng có chung nhiệm vụ thì họ đã trở thành đồng đội của nhau. * Chung khó khăn, thiếu thốn – Họ không chỉ có chung nhiệm vụ mà còn cùng nhau chịu những khó khăn, thiếu thốn của c/s đời thường: Đêm rét chung chăn – Lờigiản dị, hình ảnh chân thực, giọngtrầm lắng như lời thì thầm tâm sự về những khó khăn thiếu thốn mà “tôi”“anh” đang phải chịu. H/ảthật giản dị nhưng lại nói lên nhiều hơn bất kì lời nói hoa mĩ nào. Họ – những con người nông dân bước vào c/chiến với trang bị vô cùngthiếu thốn.: Áo anh rách vai. Quần tôi có vài mảnhChân không giày Vậy mà họ vẫn phải đương đầu với thiên nhiên khắc nghiệtgiá rét lạnh của núi rừng VB. Câukhông chỉ nói lên cái thiếu thốn của họ mà còn diễn tảcách xúc động tình cảm gắn bó giữa những người lính. Dường như càng khó khăn thiếu thốn bao nhiêu, thì tình đồng chí, đồng đội càng gắn bó bấy nhiêu. Tấm chăn ấy tuy không đủ để sưởi ấm họ về thể xác nhưng lại sưởi ấm họ về tâm hồn. Có lẽ không ở đâu trên trái đất này, tình cảm của người lính lại thân thiết, gắn bó như vậy.chính trong những đêm đông lạnh giá, cùng đắp chung tấm chăn mỏng, họ đã sẻ chia với nhau bao tâm sự, nỗi niềm. . để rồi từ sự gắn bó thân thiết ấy, họ trở thành bạn tri âm, tri kỉ của nhau. * Chung lí tưởng: – Mỗi người lính khi bước vào chiến trường đều mang trong mình ty nước thiết tha cháy bỏng. Khó khăn thiếu thốn không làm họ lùi bước. vấtgian truân không làm họ nản lòng. Điều gì đã giúp họ có được sức mạnh như vậy? Đó chính là khát vọng, là lí tưởng, là mục đích chiến đấu của họ: Đánh đuổi giặc ngoại xâm. ba tiếng “đầu bên đầu” đều sử dụng vần bằng, diễn tả thái độ nhẹ nhàng nhưng kiên quyết về ý thức của người lính. Tất cả họ đều đứng chung tronghàng ngũ,trận tuyến để cùng nhau chia sẻ ngọt bùi.từ trong những chia sẻ gắn bó ấy, tình đồng đội đã trở thành tình đồng chí thiêng liêng. – “Đồng chí” – câuchỉ có 2 tiếng kết hợp với dấu chấm than nhưtiếng gọi thốt lên từ tận đáy lòng với bao t/c trìu mến trân trọng. Đó cũng chính làphát hiện,khẳng định vềtình cảm vô cùng thiêng liêng. Hai tiếng “Đồng chí” ngắn gọn nhưng không khô khan bởi nó là kết tinh của rất nhiều tình cảm: tình người, tình đồng đội, tình tri kỉ. Nó như gói gọn mọi cung bậc cảm xúc để phát triển thành thứ tình cảm mới vô cùng thiêng liêng. – “ Đồng chí” – câuđược tách thànhdòng riêng, có vị tríbiệt. Nó nhưbản lề gắn kết haithơ, vừa khép lại ý của bẩy câutrên: cùng hoàn cảnh xuất thân, cùng lý tưởng thì trở thành đồng chí của nhau. Đồng thời nó cũng mở ra ý tiếp theo: Đó chính là biểu hiện cụ thểcảm động của tình đồng chí ở mười câusau. -> Câunhưnốt nhạc làm bừng sáng cảthơ. Bởi đó là kết tinh của tình cảm cách mạng mới mẻ chỉ có ở thời đại mới. Câuthứ 7 thực sự làcâubiệt. III. Kết bài: Khổkết thúc nhưng lại mở ra những suy nghĩ mới trong lòng người đọc. Bởi nó đã khơi gợi lại những kỷ niệm đẹp, những tình cảm tha thiết gắn bó yêu thương để hình thành nên tình đồng chí mà chỉ có những người đã từng là lính mới có thể hiểucảm nhận hết được.đã ca ngợi tình đồng chí hết sức thiêng liêng như làngọn lửa vẫn cháy mãi, bập bùng, không bao giờ tắt. 51 Đề2:khổ thứ hai”Đồng chí” ( Biểu hiện cụ thể của tình đồng chí”) I. Mở- Tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác – Khái quát nội dung + nghệ thuật – Giới thiệu, chép lại khổVD: Văn học Việt Nam 1945 – 1975 đã gắn bó mật thiết với vận mệnh cũng như với sự nghiệp cách mạng, sáng tạo nhiều hình tượng cao đẹp về Tổ quốccon người Việt Nam trong chiến đấu, lao động, sinh hoạt. Lẽ tất nhiên, ởđất nước không rời tay súng suốt ba mươi năm, hình tượng người lính là hình tượng đẹp nhất, nổi bật nhất trong vănthời ấylà niềm tự hào lớn của dân tộc.“Đồng chí” của Chính Hữu làtrong những tác phẩm viết về hình tượng cao đẹp ấy.biệt khổ 2 củađã khiến người đọc cảm nhận được những biểu hiện cụ thể, cao đẹp của tình đồng chí. II. Thân1. Khái quát: Đoạnchỉ vỏn vẹn có 10 câu nhưng lại có sức lay động trái tim của rất nhiều người độc giả. Bởi nó ghi lạicách chân thựccảm động mối tình keo sơn gắn bó giữa những người lính. Họ đang cùng nhau chia sẻ những khó khăn, thiếu thốn; cùng nhau vượt qua mọi khó khăn, thử thách của cuộc chiến ác liệt để đến với nhau bằng tình đoàn kết, yêu thương. 2.* Hiểu thấu hoàn cảnh, tâm tư, tình cảm của nhau – Những người lính cũng là những người bạn tri âm tri kỉ của nhau. Trong cuộc chiến đấu cam go ác liệt, họ đã cùng nhau chia sẻ ngọt bùi. Những lời tâm sự về quê anh, làng tôi đã giúp họ hiểu hoàn cảnh của nhau hơn. Họ đều là những người nông dân ở những miền quê nghèo khó. Nghe theo tiếng gọi của TQ, họ đã rời bỏ mái đình, cây đa, giếng nước, để lại sau lưng tất cả những gì yêu dấubước vào cuộc chiến. Họ đã hiểu bạn như hiểu mình: Ruộng nương………… ra lính. – Hoàn cảnh của anh cũng giống tôi. Ta gửi lại ruộng nương cho bạn thân giúp đỡ. “Gian nhà không mặc kệ gió lung lay”. Hình ảnh “ gian nhà không” kết hợp với từ láy “lung lay” ở cuối câugiúp ta cảm nhận được sự trống trải, khó khăn củagia đình vắng người trụ cột. Người lính cũng hiểu điều đó, lòng anh cũng lưu luyến muốn ở lại. Nhưng đứng trước cảnh xâm lăng, làngười con của Tổ quốc, anh đã đặt lòng yêu nước lên trên tất cả, đặt nghĩa chung lên trên tình riêng. Hai chữ “mặc kệ” đã thể hiện thái độ lên đường thật rõ ràng, dứt khoát. Nó gợi cho ta nhớ đến hình ảnh những anh Vệ quốc đoàn trong“Đất nước” của Nguyễn Đình Thi : “Người ra đi đầu không ngoảnh lại / Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy.” Nhưng người lính của Chính Hữu vẫn còn nặng lòng với quê hương nhiều lắm. Từ “mặc kệ” mang đậm chất khẩu ngữ rất ít khi xuất hiện trongnhưng lại mang ý nghĩa khẳng định ý chí quyết tâm, sự dứt khoát của người lính khi họ bước vào cuộc chiến. Đây không phải là sự phó mặc, mà theo ngôn ngữ của người lính chỉ làsự hoãn lại, đợi chờ cách mạng thành công. Vì nếu vô tình thì ở nơi chiến trường, làm sao họ cảm nhận được từng cơn gió lạnh lùa vào gian nhà trống của gia đình mình. Làm sao họ cảm nhận được tình thương nhớ hồn hậu của quê hương : Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính Hình ảnh ẩn dụ “giếng nước gốc đa” thường được sử dụng trong ca dao để nói về quê hương làng xóm. Nhàđã vận dụng tài tình chi tiết ấy, kết hợp với phép nhân hóa để gợi tả cảm giác phía sau người lính còn cảgia đình,hậu phương vững chắc đang chờ đợi. Ở đây chủ thể trong câukhông phải người lính, mà chính “giếng nước gốc đa” mới là chủ thể trữ tình. Đó là nơi họ sinh ra, lớn lên, dù có dứt khoát thế nào họ cũng không thể quên được. Chính cái thâm tình với hậu phương ấy đã biến thành động lực để người lính chiến đấu, không chỉ vì độc lập tự do cho Tổ quốc, mà còn để giải phóng quê hương.ở đây, nơi chiến trường, những người lính lại tìm được những tình cảm ấm áphồn hậu của quê nhà 52 trong người bạn đồng chí của mình. Họ soi vào nhau, thấu hiểuđồng cảm về tất cả. Tình đồng chí là bước đệm để nhàmở ra vẻ đẹp tâm hồn của người lính : hy sinh thầm lặng vì Tổ quốc nhưng vẫn luôn nhớ về quê hương, gia đình ở hậu phương. * Chia sẻ những khó khăn, khắc nghiệt của thiên nhiên, của vật chất đời thường.chính tâm hồn cao đẹp của tình đồng chí ấy đã giúp người lính vượt qua mọi gian lao, thách thức : Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi Áo anh rách vai Quần tôi có vài mảnhMiệng cười buốt giá Chân không giàyloạt những từ ngữ “ớn lạnh”, “sốt run người”, “ướt mồ hôi” đãtả những cơn sốt rét rừng khủng khiếp mà rất quen thuộc với người lính thời ấy. Nếu trong cuộc sống gia đình, anh được bàn tay dịu dàng của người mẹ, người vợ ân cần chăm sóc thì ở đây, bàn tay ấy được thay bằng bàn tay của đồng đội. Sự chăm sóc ấy có thể vụng về, nhưng vẫn tràn đầy sự quan tâm, thấm đẫm tình đồng chí. Câuđang vươn dài bỗng rút ngắn lại, chuyển sang âm điệu chậm rãi của phép liệt kê, tái hiện lại cuộc sống thiếu thốn của đời lính. Đi kháng chiến, anh lính nông dân mang theo cả cái nghèo vào chiến khu. Quân đội ta ngày ấy thiếu thốn đủ thứ, từ quân lương, quân y đến quân phục, quân trang, quân dụng,… Thiếu cả đến cái phương tiện tối thiểu để giữ ấm bàn chân là đôi giày. Nhưng khi ta đọc đoạnlên, cái khổ chỉ làyếu tố phụ, vì tình đồng chí đã tỏa hơi ấmtiếp thêm sức mạnh cho người lính. Cặp đối ứng “áo anh rách vai” – “quần tôi có vài mảnh vá” là gợi cái thiếu thốn nhưng thực chất lại mang ý nghĩa bổ sung. Tác giả miêu tả hai con người nhưng người đọc lại cảm thấy chỉ cóhình ảnh duy nhất – “đồng chí”. “Đồng chí” không còn chỉ là tình cảm gắn bó keo sơn giữa những người lính mà đã trở thànhhình tượng có thực. Hình tượng ấy hóa thân vào những chi tiết nhỏ nhặt nhất trong cuộc sống của người lính : “rách vai”, “có vài mảnh vá”, “chân không giày”. Ở dây không còn sự khoa trương, tô vẽ như trong“Ngày về” : “Rách tả tơi rồi đôi giày vạn dặm / Bụi trường chinh phai bạc áo hào hoa”. Chất liệu hiện thực trong “Đồng chí” rất thật, thật tới mức trần trụi.lấy cảm hứng từ chiến dịch Việt Bắc thu đông 1947 mà tác giả tham gia cùng đồng đội nên ông hiểucảm nhận được rất rõ cái gian khổ mà người lính phải chịu đựng. * Lạc quan, tin tưởng: Nhưng trong hoàn cảnh đó, người lính vẫn “miệng cười buốt giá”. Tác giả đã rất tài tình khi tả nụ cười mà khiến người đọc cảm nhận được cái lạnh giá tê buốt của núi rừng mùa đông. Hình ảnh ấy vượt qua cái khắc nghiệt của chiến trường để đọng lại trong taấn tượng thật đẹp về tinh thần lạc quan, về khí phách anh hùng, về sức chịu đựng bền bỉ, về sự hy sinh âm thầm của người chiến sĩ. Nó gợi cho ta nhớ đến cái cười âm vang cả Trường Sơn của những người lính lái xe trongPhạm Tiến Duật : “Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha”. * Đoàn kết thương yêu nhau – Sức mạnh đoàn kết đã khiến họ vượt qua tất cả. Không chỉ có tinh thần lạc quan t in tưởng mà còn có tình yêu thương đoàn kết gắn bó với nhau. Đó chình là nét đẹp khiến cho những người lính trong”Đồng chí” sống mãi. Thương nhau tay nắm lấy bàn tay Trong bất cứ hoàn cảnh nào, dù khó khăn gian khổ đến đâu, chỉ cầncái nắm tay là hai con người hòa vào làm một, hòa vào thành “đồng chí”. Với họ, bàn tay đã thay cho những lời nói, lời hứa, lời quyết tâm cùng nhau chiến đấu để bảo vệ tổ quốc. Họ đã truyền cho nhau hơi ấm, sức mạnh niềm tin qua bàn tay nắm chặt. Đó là bàn tay giao cảm thay lời muốn nói, bàn tay của sự đoàn kết, gắn bó keo sơn. Bàn tay ấy truyền hơi ấm, cảm thông, động viên, chia sẻ, thắt chặt tình người, tình bạn. Nếu như trongPhạm 53 Tiến Duật, người lính “Bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi” để gần nhau hơn trên chặng đường dài thì với Chính Hữu, cái nắm tay đầy tình thương kia là biểu tượng cao đẹp, nồng ấmthiêng liêng nhất của tình đồng chí. Chiến tranh có thể tàn phá, cướp đi tất cả, nhưng không thể giết chết mối liên kết ấy. Chất liệu hiện thực sinh động chỉ là cái nền để tôn lên vẻ đẹp sâu lắngsức mạnh của tình đồng chí – tình cảm đã giúp tác giảbiết bao người lính khác sống qua những tháng ngày lửa đạn. * Đánh giá nâng cao III. Kết: Đối với nghệ thuật, người nghệ sĩ phải bén rễ vào cuộc đời, hút lấy nguồn nhựa dạt dào ngầm chảy trong lòng cuộc sống, đem tôi luyện trong cảm xúc của mình để kết tinh thành những viên ngọc sáng ngời để lại cho đời. NhàChính Hữu đã làm được điều đó. Đến với “Đồng chí”, ta cảm nhận được hình ảnh người lính cách mạngtình cảm gắn bó keo sơn của họ qua ngôn ngữ, hình ảnh cô đọng, chân thựcgợi cảm.đã khắc họa nên bức tranh sống độnghiện thực nhất vềquá khứ gian khổ vô cùng nhưng đầy ắp tình đồng đội, về những con người đã vượt qua tất cả để giành lấy hòa bình, độc lập ngày hôm nay. ………………………………………………………… * Đề3 :khổ thứ ba của”Đồng chí I. Mở- Tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác – Khái quát nội dung + nghệ thuật – Giới thiệu, chép lại khổII. Thân1. Khái quát: Ba câulà bức tranh đẹp về tình đồng chí, đồng đội của người lính, là biểu tượng đẹp về cuộc đời người chiến sĩ. Trong bức tranh trên, nổi bật là ba hình ảnh gắn kết với nhau : Người lính, khẩu súng, vầng trăng giữa cảnh rừng hoang sương muối phục kích giặc. Sức mạnh của tình đồng đội đã giúp họ vượt lên tất cả những khắc nghiệt của thời tiếtmọi gian khổ, thiếu thốn. Tình đồng chí đã sưởi ấm lòng họ. Hình ảnh “Đầu súng trăng treo” là hình ảnh đẹp nhất vì nó vừa là hình ảnh thực vừa là hình ảnh tượng trưng. 2.tích: Đêm nay rừng hoang sương muối – Câuvừa gợi không gian, vừa gợi thời giantính chất của thời tiết. – Hai chữ “ Đêm nay” gợithời điểm cụ thể. Đó là lúc trời đã khuya, con ngườivũ trụ đi vào sự nghỉ ngơi nhưng người lính vẫn thức – “ Rừng hoang” gợi liên tưởng đến không gian rộng lớn mênh mông, hoang vụ, lạnh lẽo, thiếu vắng sự sống con người. ->Thiên nhiênthời tiết như đang thử thách người lính giữa núi rừng hoang vu trong sương muối phủ dày. Cái lạnh thấm sâu vào da thịt thì người lính vẫn: Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới – Ba chữ “đứng cạnh bên” vang lên nhưlời khẳng định sự gắn bó sẻ chia của những người lính. Giữa núi rừng hoang vu, giữa cái rét run người, người lính vẫn sát cánh bên nhau để chờ giặc tới. – Họ đón đợi giặc trong tư thế hoàn toàn chủ động. Với cây súng, người lính trở thành linh hồn của đất nước, của không gianthời gian. Đêm đã khuya nhưng người lính vẫn toàn tâm toàn ý hướng lên mũi súng. Trong giây phút đó, anh phát hiệnđiều vô cùng kì diệu. Đầu súng đang treo * Tầng nghĩa thực: – Câungắn gọn, hàm súc tối đa, được sáng tạo trêncơthực tế: Đêm càng khuya, trăng càng xuống thấp, người lính hướng mũi súng lên trời caohọ có cảm giác như trăng treo lơ lửng trên đầu mũi súng của mình. * Tầng nghĩa tượng trưng: Câumở ratầng nghĩa phong phú. Chính từ tình đồng chí đã trải qua bao thử thách gian nan đã tạo cho nhàcái nhìn thi vị. Sự hòa quyện giữa chất hiện thực khốc liệt 54 với chất lãng mãn bay bổng đã khiến cho “đầu súng đang treo”– trở thành hình ảnh đẹp nhất trongca kháng chiến chống Pháp. – Câuthể hiện bản lĩnh nghệ thuật tài hoa của CH. Chỉ trongcâubốn chữ, nhàđã xây dựng thành công hai hình ảnh đối lập, đó là súngtrăng – Từ xa xưa, trăng vốn là nguồn cảm hứng vô tận của các nhà thơ. Nét độc đáo trongChính Hữu là ông đặt trăng trong mối quan hệ với súng. Nếu súng là biểu tượng của chiến tranh chết chóc thì trăng là hiện thân của hòa bình, của khát vọng hạnh phúc muôn đời. Nếu súng là hiện thực khốc liệt thì trăng là lãng mãn bay bổng. Nếu súng mang đậm chất chiến sĩ thì trăng thể hiện vẻ đẹp của người thi sĩ. Nếu súng ở rất gần thì trăng lại ở rất xa…… => Hai hình ảnh tưởng chừng hoàn toàn đối lập lại được sử dụng cùng chungdụng ý nghệ thuật đều góphoàn thiệntôn vinh vẻ đẹp người lính. – Chiến tranh gian khổ ác liệt, vật chất thiếu thốn, thiên nhiên khắc nghiệt cũng không làm cho trái tim người lính trở nên khô cằn. Mà ngược lại trái tim ấy lại trở nên đằm thắm hơn, tình người hơn, lãng mạn hơn. Họ không chỉ phát hiện mà còn cảm nhận thấy vẻ đẹp của thiên nhiên ngay trong hoàn cảnh gian khổ, ác liệt nhất. Điều đó cho thấy tâm hồn của những người lính thật tinh tế, nhạy cảm. c. Đánh giá: Có thể thấy đây là bức tranh không gian ba chiều. Sự xuất hiện của “trăng” tạo chiều cao, người lính “đứng bên nhau” tạo chiều ngang, ý chí tạo chiều xa. Trăng vốn mang vẻ đẹp mềm mại nhưng vĩnh hằng, kéo trăng về với súng cho thấy ý chí chiến đấu cũng theo đó mà hóa thành vĩnh hằng. Sự khắc nghiệt của chiến tranh khói lửa trongphút bỗng nhạt nhòa đi trong bởi yếu tố trữ tình. Câucuối thể hiện góc nhìn tinh tế để chụp lấy cái thần của hình ảnh. Vẻ đẹp người chiến sĩ được tôn vinh, đặt ngang với vóc dáng kì vĩ của trời đất, tầm vóc con người sánh ngang với tầm vóc vũ trụ, tầm vóc sử thi. Ba câugiúp người đọc cảm nhận đầy đủ hơn vẻ đẹp của người lính. Họ không chỉ dũng cảm can trường trong khí phách mà rất đằm thắm, tinh tế trong tâm hồn, những con người đã từng được ca ngợi: Lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa 3. Kết bài: Đoạn là hình ảnhđẹp, giàu ý nghĩa. Đó là sự kết hợp giữa bút pháp hiện thựclãng mạn, vừa thực, vừa mơ, vừa xa vừa gần, vừa mang tính chiến đấu, vừa mang tính trữ tình. Vừa chiến sĩ vừa thi sĩ. Đây là hình ảnh tượng trưng cho tình cảm trong sáng của người chiến sĩ. Mối tình đồng chí đang nảy nở, vươn cao, tỏa sáng từ cuộc đời chiến đấu. Hình ảnhthật độc đáo, gây xúc động bất ngờ, thú vị cho người đọc. Đồng thời nói lên đầy đủ ý nghĩa cao đẹp của mục đích lí tưởng chiến đấutình nghĩa thiêng liêng của anh bộ đội Cụ Hồ. Chính đêìu đó đã khiến hình ảnh các anh sống mãi với thời gian. ……………………………………………… Đề 4 :hình ảnh người lính trongĐC 1.MB: NhàChính Hữu trưởng thành từ người lính thuộc trung đoàn thủ đô, rồi nổi lên trongca yêu nước chống Pháp với phong cáchbình dị, cảm xúc dồn nén, vừa thiết tha trầm hùng, vừa sâu lắng, hàm xúc.lớn các sáng tác của ông đều tập trung vào hình ảnh người lính,biệt khai thác sâu tình cảm, tình đồng chí, đồng đội. “Đồng chí” làđược sáng tác vào năm 1948, cũng là tác phẩm tiêu biểu cho phong cáchChính Hữu.nói về tình đồng chí, đồng đội thắm thiết, sâu nặng của những người lính cách mạng, đồng thời còn hiện lên hình ảnh chân thực, giản dị mà cao đẹp của anh bộ đội cụ Hồ thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp. 2.TB -tích: Làm rõ hệ thống luận điểm của nhân vật * LĐ 1: Xuất thân từ những miền quê nghèo, Chung nhiệm vụ, chung khó khăn, thiếu thốn, chung lí tưởng (súng bên súng … )=> Hình ảnh ĐC thiên liêng, cao đẹp.( Bảy câuđầu) * LĐ 2: Tình động đội keo sơn gắn bó – Hiếu thấu tâm tư tình cảmhoàn cảnh của nhau. – Cùng chia sẻ những khó khăn về thời tiếtnhững thiếu thốn của vật chất đời thường, – Thương yêu gắn bó, khăng khít keo sơn ( Thương nhau tay nắm lấy bàn tay) * LĐ 3 Lạc quan yêu đời 55 * LĐ 4: Dũng cảm kiên cường trong khí phách, đằm thắm trong tâm hồn, hòa quyện giữa chất thi sĩchiến sĩ. * Đánh giá nâng cao: Cách xây dựng nhân vật: Bút pháp hiện thực, h/ả, ngôn ngữ bình dị chọn lọc…-> Tạc vào thế kỉ XX bức tượng đài người lính. Cùng với “ Nhớ”, “Tây Tiến”, “ Đồng chí” đã góplàm cho hình ảnh người lính sống mãi trong lòng người đọc III. Kết bài:đã kết thúc nhưng nó sẽ còn sống mãi chừng nào con người chưa mất đi bản năng của chính mình: sự rung động. Quả thật văn chương đã tạo ra cho mìnhthế đứng riêng còn mạnh hơn lịch sử. Cùng tái hiện lạithời đau thương nhưng vĩ đạihình tượng người chiến sĩ, nhưng văn chương đã đến với người đọc theo con đường của trái tim, gây nên những xung động thẫm mĩ trong tâm hồn con người, làm thành sự xúc cảm tận đáy tâm hồnnhững ấn tượng không thể nào quên . Đó là những năm đau thương chứng kiến những con người dũng cảm, kiên cường. Họ không khô khan mà bầu nhiệt huyết nung nấu, tràn đầy lòng hy sinh, tình đồng đội trong sáng, thân ái. Chính những điều đó làm“Đồng Chí ” trên những trang giấy vẫn có lúc được lật lại, vẫn nhỏ từng giọt ngân vang, tưởng đến những con người thần kì mà bình dị với niềm tự hào kiêu hãnh , cho hôm naymai sau mãi nhớ về. ………………………………………………tham khảo:hình ảnh “Đầu súng trăng treo” trongĐồng chí của Chính Hữu. Không biết tự bao giờ ánh trăng đã đi vào văn học nhưhuyền thoại đẹp. Ở truyền thuyết “Chú cuội cung trăng”Hằng Nga trộm thuốc trường sinh là những mảng đời sống tinh thần bình dị đậm đà màudân tộc của nhân dân ta. Hơn thế nữa, trăng đã đi vào cuộc chiến đấu, trăng bảo vệ xóm làng, trăng được nhàChính Hữu kết tinh thành hình ảnh “đầu súng trăng treo” rất đẹp trong“Đồng chí” của mình. Sau hơn mười năm làm thơ, Chính Hữu cho ra mắt tập “Đầu súng trăng treo”. Thế mới biết tác giảý như thế nào về hình ảnh thật đẹp,mộng, rất thực nhưng không thiếu nét lãng mạn đó. Đầu súng trăng treo- đó làhình ảnh tả thựcbức tranh tả thựcsinh động. Giữa núi rừng heo hút “rừng hoang sương muối” giữa đêm thanh vắng tĩnh mịch bỗng xuất hiệnánh trăng treo lơ lửng giữa bầu trời.hình ảnh này cũng thật lạ làm sao, súngtrăng vốn tươngvới nhau, xa cách nhau vời vợi bỗng hoà quyện vào nhau thànhhình tượng gắn liền. Nhàkhông phải tả mà chỉ gợi, chỉ đưa hình ảnh nhưng ta liên tưởng nhiều điều. Đêm thanh vắng người lính bên nhau chờ giặc tới, trăng chếch bóng soi sáng rừng hoang bao la rộng lớn, soi sáng tình cảm họ, soi sáng tâm hồn họ. Giờ đây, người chiến sĩ như không còn vướng bận về cảnh chiến đấu sắp diễn ra, anh thả hồn theo trăng, anh say sưa ngắm ánh trăng toả ngời trên đỉnh núi, tâm hồn người nông dân “nước mặn đồng chua”“đất cày trên sỏi đá” cằn cỗi ngày nào bỗng chốc trở thành người nghệ sĩ đang ngắm nhìn vẻ đẹp ánh trăng vốn có tự ngàn đời. Phải làngười có tâm hồn giàu lãng mạnphong thái ung dung bình tĩnh lạc quan thì anh mới có thể nhìnhình ảnh nênnhư thế. Chút nữa đây không biết ai sống chết, chút nữa đây cũng có thể là giây phút cuối cùng ta còn ở trên đời này nhưng ta vẫn “mặc kệ”, vẫn say sưa với ánh trăng. Ánh trăng như xua tan cái lạnh giá của đêm sương muối, trăng toả sáng làm ngời ngời lòng người, trăng như cùng tham gia, cùng chứng kiến cho tình đồng chí đồng đội thiêng liêng của những ngươì linh. Trăng truyền thêm sức mạnh cho họ, tắm gội tâm hồn họ thanh cao hơn, trong sạch hơn, trăng cũng là bạn, là đồng chí của anh bộ đội Cụ Hồ. Đầu súng trăng treo- hình ảnh thật đẹpgiàu sức khái quát. Súngtr¨ng kết hợp nhau; súng tượng trưng cho chiến đấu- trăng là hình ảnh của thanh bình hạnh phúc. Súng là con người, trăng là đất nước quê hương của bốn nghìn năm văn hiến. Súng là hình ảnh người chiến sĩ gan dạ kiên cường- Trăng là hình ảnh người thi sĩ. Sự kết hợp hài hoà tạo nên nét lãng mạn bay bổng vừa gợi tả cụ thể đã nói lên lí tưởng, mục đích chiến đấu mà người lính ấy đang tham gia. Họ chiến đấu cho sự thanh bình, chiến đấu 56 cho ánh trăng mãi nghiêng cười trên đỉnh núi. Tatưởng tượng xem: giữa đêm khuya rừng núi trập trùng bỗng hiện lên hình ảnh người lính đứng đó với súng khoác trên vai, nòng súng chếch lên trờiánh trăng lơ lửng ngay nòng ngọn súng. Đó là biểu tượng Khát Vọng Hoà Bình, nó tượng trưng cho tư thế lạ quan bình tĩnh, lãng mạn của người bảo vệ Tổ quốc. Cái thần của câu“Đầu súng trăng treo” nằm ở từ “treo”, ta thử thay bằng từ mọc thì thật thà quá, làm sao còn nét lãng mạn ?.thaylần nữa bằng từ “lên” cũng không phù hợp, vì nó là hiện tượng tự nhiên: trăng tròn rồi khuyết, trăng lên trăng lặn sẽ không còn cái bất ngờ màu nhiệm nữa. Chỉ có trăng “treo”. Phải, chỉ có “Đầu súng trăng treo” mới diễn tả hết được cái hay, cái bồng bềnhmộng củađêm trăng “đứng chờ giặc tới”, chẳngmộng chút nào. Ta nên hiểudường như được sáng tác ở thời điểm hiện tại “đêm nay” trongkhông gian mà mặt đất là “rừng hoang sương muối” lạnh lẽolòng đầy phấp phỏng giặc sẽ tới có nghĩa là cái chết có thể đến từng giây từng phút. Thế nhưng người lính ấy vẫn đứng cạnh nhau để tâm hồn họ vút lên nở thành vầng trăng. Nếu miêu tả hiện thực thì vầng trăng ấy sẽ có hình khối của không gian ba chiều. ở đây, từ điểm nhìn xa, cả vầng trăngsúng đều tồn tại trênmặt phẳngtrong hội hoạ nó mang tính biểu tượng cao. Tố Hữu cũng cócâukiểu này: “ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan”Phạm Tiến Duật thì “Và vầng trăng vượt lên trên quầng lửa”Hoàng Hữu “Chỉnửa vầng trăng thôinửa. Ai bỏ quên ở phía chân trời…”. Nhưng có lẽ cô kết nhất,nhất vẫn là “Đầu súng trăng treo”. Như đã nói ở trên, không phải ngẫu nhiên mà Chính Hữu lấy hình ảnh “Đầu súng trăng treo” làm tựa đề cho tậpcủa mình. Nó là biểu tượng, là khát vọngcũng là biểu hiện tuyệt vời chất lãng mạn trongcách mạng. Lãng mạng nhưng không thoát li, không quên được nhiệm vụtrách nhiệm của mình. Lãng mạn vì con người cần có những phút sống cho riêng mình. Trước cái đẹp mà con người trở nênơ lãnh đạm thì cuộc sống vô cùng tẻ nhạt. Âm hưởng của câuđã đi đúng với xu thế lịch sử của dân tộc. Hình ảnh trăngsúng đã có nhiều trongViệt Nam nhưng chưa có sự kết hợp kì diệu nào bằng hình ảnh Đầu súng trăng treo của Chính Hữu. Nếu như Elsa Trioslet – nữ văn sĩ Pháp có nói “Nhà văn là người cho máu” thì tôi hãnh diện nói với văn sĩ rằng: Chính Hữu đã cho máu để tạo nên câutuyệt vời để cống hiến cho cuộc kháng chiến của chúng ta.bạn ơi! Bạnthả cùng tôi những chú chim trắng trên bầu trời,hát vang lên ca khúc Hoà Bình vì hình ảnh đầu súng trăng treo mà nhàđã gởi vào đó bao nhiêu khát vọng nay đã thành hiện thưc. Phải chăng chất lính đã thấm dần vào chất thi ca, tạo nên dư vị tuyệt vời cho tình ” Đồng chí”. Nói đếntrước hết là nói đến cảm xúcsự chân thành. Không có cảm xúc,sẽ không thể có sức lay động hồn người, không có sự chân thành chút hồn củacũng chìm vào quên lãng.chút chân thành,chút lãng mạn,chút âm vang mà Chính Hữu đã gieo vào lòng người những cảm xúc khó quên.” Đồng chí” với nhịp điệu trầm lắng mà như ấm áp, tươi vui; với ngôn ngữ bình dị dường như đã trở thành những vầncủa niềm tin yêu, sự hy vọng, lòng cảm thông sâucủanhàcách mạng Phải chăng, chất lính đã thấm dần vào chất thơ, sự mộc mạc đã hòa dần vào cái thi vị củaca tạo nên những vầnnhẹ nhàngđầy cảm xúc? Trong những năm tháng kháng chiến chống thực dân Pháp gian lao, lẽ đương nhiên, hình ảnh những người lính, những anh bộ đội sẽ trở thành linh hồn của cuộc kháng chiến, trở thành niềm tin yêuhy vọng của cả dân tộc. Mở đầuthơ”Đồng chí”, Chính Hữu đã nhìn nhận, đã đi sâu vào cả xuất thân của những người lính: “Quê hương anh đất mặn đồng chua Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá” Sinh ra ởđất nước vốn có truyền thống nông nghiệp, họ vốn là những người nông dân mặc áo lính theo bước chân anh hùng của những nghĩa sĩ Cần Giuộc năm xưa. đất nước bị kẻ thù xâm lược, Tổ quốcnhân dân đứng dướitròng áp bức. “Anh””tôi”, hai người bạn mới quen, đều xuất than từ những vùng quê nghèo khó. Hai câuvừa như đối nhau, vừa như song hành, thể hiện tình cảm của 57 những người lính. Từ những vùng quê nghèo khổ ấy, họp tạm biệt người thân, tạm biệt xóm làng, tạm biệt nhữngmía, bờ dâu, những thảm cỏ xanh mướt màu,họ ra đi chiến đấu để tìm lại, giành lại linh hồn cho Tổ quốc. Những khó khăn ấy dường như không thể làm cho những người lính chùn bước: “Anh với tôi đôi người xa lạ Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau Súng bên súng, đầu sát bên đầu Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ” Họ đến với Cách mạng cũng vì lý tưởng muốn dâng hiến cho đời. “Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình”. Chungkhát vọng, chunglý tưởng, chungniềm tinkhi chiến đấu, họ lại kề vai sát cánh chungchiến hào Dường như tình đồng đọi cũng xuất phát từ những cái chung nhỏ bé ấy. Lờinhư nhanh hơn, nhịpdồn dập hơn,câucũng trở nên gần gũi hơn: “Súng bên súng đầu sát bên đầu Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ Đồng chí ! “loạt từ ngữ liệt kê với nghệ thuật điệp ngữ tài tình, nhàkhông chỉ dưalên tận cùng của tình cảm mà sự ngắt nhịp đột ngột, âm điệu hơi trầmcái âm vang lạ lùng cũng làm cho tình đồng chí đẹp hơn, cao quý hơn. Câuchỉ có hai tiếng nhưng âm điệu lạ lùng đã tạo nênnốt nhạc trầm ấm, thân thương trong lòng người đọc. Trong muôn vàn nốt nhạc của tình cảm con người phải chăng tình đồng chí là cái cung bậc cao đẹp nhất, lí tưởng nhất. Nhịpcủanhư nhẹ nhàng hơn, hơicủacũng như mảnh mai hơn Dường như Chính Hữu đã thổi vào linh hồn củatình đồng chí keo sơn, gắn bóâm vang bất diệt làm chomãi trở thànhđẹp nhất trongChính Hữu. Hồi ức của những người lính, những kĩ niệm riêng tư quả là bất tận: “Ruộng nương anh gửi bạn thân cày Gian nhà không mặc kệ gió lung lay” Cái chất nông dân thuần phác của những anh lính mới đáng quý làm sao ! Đối với những người nông dân, ruộng nương, nhà cửa là những thứ quý giá nhất. Họ sống nhờ vào đồng ruộng,họ lớn lên theo câu hát ầu ơ của bà của mẹ.Họ lơn lên trong những “gian nhà không mặc kẹ gió lung lay”. Tuy thế, họ vẫn yêu, yêu lắm chứ những mảnh đất thân quen, những mái nhà thân thuộc Nhưng họ đã vượt qua chân trời của cái tôi bé nhỏ để đến với chân trời của tất cả. Đi theop con đường ấy là đi theo khát vọng, đi theo tiếng gọi yêu thương của trái tim yêu nước. Bỏ lại sau lưng tất cả nhưng bóng hình của quê hương vẫn trở thành nỗi nhớ khôn nguôi của mỗi người lính. Dẫu rằng” mặc kệ” nhưng trong lòng họ vị trí của quê hương vẫn bao trùm như muốn ôm ấp tất cả mọi kỉ niệm. Không liệt kê, cũng chẳng phải lối đảo ngữ thường thấy trongvăn,nhưng hai câucũng đủ sức lay đọng hồn thơ, hồn người: “Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính” Sự nhớ mong chờ đợi của quê hương với những chàng trai ra đi tạo cho hồn quê có sức sống mãnh liệt hơn. Nhànhân hóa”gieengs nước gốc đa” cũng có nỗi nhớ khôn nguôi với những người lính. Nhưng không kể những vật vô tri, tác giả còn sử dụng nghệ thuật hoán dụ để nói lên nỗi nhớ của những người ở nhà, nỗi ngóng trông của người mẹ đối với con, những người vợ đối với chòngnhững đôi trai gái yêu nhau Bỏ lại nỗi nhớ, niềm thương, rời xa quê hương những người lính chiến đấu trong gian khổ: “Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh Sốt run người vầng trán đẫm mồ hôi Áo anh rách vai Quần anh có vài mảnhMiệng cười buốt giá Chân không giày” Câuchầm chậm vang lên nhưng lại đứt quãng, phải chăng sự khó khăn, vất vả, thiếu thốn 58 […]… hng, vi T quc, vi th h hụm nay, ngy maimói mói v sa Bài thơ về tiểu đội xe không kính I Nh th Phm Tin Dut – Phm Tin Dut ( 194 1 – 2007), quờ Thanh Ba -Phỳ Th – L nh th trng thnh trong cuc khỏng chin chng M v c ỏnh giỏ l mt trong nhng gng mt tiờu biu ca nh th tr Vit Nam thi kỡ ny – Th PTD sụi ni, tr trung, hn nhiờn, húm hnh v sõu sc, c bit ngang tng m cht lớnh 59 – Cỏc tỏc phm ca ụng tp trung th hin… ca ụng tp trung th hin hỡnh nh ngi lớnh v cụ thanh niờn xung phong trờn cỏc tuyn ng Trng Sn II Bi th v tiu i xe khụng kớnh 1 Hon cnh sỏng tỏc : Bi th c sỏng tỏc nm 196 9, nm trong chựm th c gii nht trong cuc thi th bỏo vn ngh nm 196- 197 0, sau ny bi th c a vo tp th ” Vng trng, qung la” 2 ti : Ngi lớnh lỏi xe trờn tuyn ng Trng Sn trong cuc khỏng chin chng M 3 Ch : Bi th ca ngi nhng ngi lớnh lỏi xe… tỏc nm 194 8 giai on u ca cuc khỏng chin chng M cũn bi th v tiu i xe khụng kớnh ra i sau ú 20 nm(18 nm) gia thi kỡ ỏc lit nht khỏng chin chng M – Tuy ra i 2 thi a im khỏc nhau nhng 2 nh th u vit chung 1 ti: hỡnh tng anh b i C H ú cng chớnh l hỡnh tng tiờu biu ca Vit Nam giai on 194 5 197 5 a Nột chung ca hỡnh tng ngi lớnh trong bi th * Lũng yờu nc – Dự l ngi lớnh trong khỏng chin chng Phỏpchng… nhng gian lao th thỏch ca cuc chin (0,5) + bt tay qua ca kớnh v ri: l s gp g, cỏi bt tay thay li cho h hi, trong khụng khớ khn trng ca chin trng ỏc lit, tip thờm cho nhau sc mnh v nhng ha hn lp cụng ú cng l s sụi ni, ngang tng, tinh nghch ca nhng anh lớnh tr Đoàn thuyền đánh cá I Nh th Huy Cn – Huy Cn ( 191- 2005) tờn y l Cự Huy Cn, quờ n Phỳ – V Quang – H Tnh – L nh th ni ting ca phong tro… chin s lỏi xe trờn ng Trng Sn ú l nhng con ngi dng cm n ngang tng m rt gin d, yờu i, lc quan II Thõn bi : a, Khỏi quỏt : “Bi th v tiu i xe khụng kớnh” ó t c gii Nht trong cuc thi trờn bỏo vn ngh nm 196Trong ú, chõn dung nhng ngi chin s ó c khc ha bng nhng chi tit sng thc chin trng Cú th thy PTD ó khai thỏc c cht th rt lớnh nhng li bc l phm cht cao p ca nhng ngi lớnh lỏi xe núi riờng v nhng chin… th h sng rt p, rt anh hựng H ý thc sõu sc v s mnh lch s ca mỡnh, trong gian kh, hy sinh vn phi phi lc quan Nh li nh th T Hu, h l th h X dc Trng Sn i cu nc – M lũng phi phi dy tng laii chin trng nh try hi mựa xuõnMa bom bóo n lũng thanh thn Chớnh vỡ vy, mói mói cỏc th h ngi Vit vn t ho, khõm phc v bit n h – Nhng ngi lớnh trong ng chớ v Bi th v tiu i xe khụng kớnh cho thy hỡnh nh ngi lớnh trong… sỏng to ca hỡnh nh chi tit, s linh hot ca nhc iu, bi th ó khc ho, tụn vớnh v p phm giỏ con ngi, ho nhp vi cm hng lóng mn cỏch mng v õm hng s thi ho hựng ca vn hc Vit Nam trong ba mi nm chng xõm lc 194 5 – 197 5 bi 3 : Hỡnh nh ngi lớnh trong BTTXKK v ng Chớ 1 MB: – Hỡnh nh ngi lớnh (2 cuc chng Phỏp v M) – V trớ ca h trong lũng c gi – H ó tr thnh ngun cm hng vụ tn cho cỏc nh vn, nh th Cú nhiu nh vn thnh… thuyn ỏnh cỏ” 1 Hon cnh sỏng tỏc: – Bi th c vit vo nm 195 8, khi t nc ó kt thỳc thng li cuc khỏng chin chng thc dõn Phỏp, min Bc c hon ton gii phúng v i vo xõy dng cuc sng mi Khụng khớ ho hng, phn chn, tin tng bao trựm trong i sng xó hi v khp ni dy lờn phong tro phỏt trin sn xut xõy dng t nc Chuyn thõm nhp thc t vựng m Qung Ninh vo na cui 68 nm 195 8 ó giỳp nh th Huy Cn thy rừ v sng trong khụng khớ lao… th Bi thc kớnhmi m trong hỡnh nh, ngụn ng m iu to nờn õm hngkhe khon sụi ni li phi phi bay bng iu ú ó to nờn sc hp dn ca bi th cho n bõy gi c li ta vn thytrong khi mt s bi th khỏc cựng vit v ti ny ó ri vo quờn lóng * 9: Thiờn nhiờn trong bi th on thuyn ỏnh cỏ I M bi: – Tỏc gi, tỏc phm, hon cnh sỏng tỏc – Bi th khụng ch khc ha thnh cụng hỡnh tng con ngi lao ng mi m cũn v lờn bc tranh… lờn trong ting hỏt ca nhng con ngi chy ua cựng mt tri V p ca thnh qu lao ng cng chớnh l v p ca nhng ngi lao ng mi, lm n tp th, lm ch thiờn nhiờn, lm ch i mỡnh 79 Cõu 3: Bi th cú bao nhiờu t hỏt, c bi cng l mt khỳc ca, õy l khỳc ca gỡ v tỏc gi lm thay li ai? Em cú nhn xột gỡ v õm hng, ging iu ca bi th? Cỏc yu t: th th, vn, nhp ó gúp phn to nờn õm hng ca bi th nh th no? Bi th on thuyn ỏnh cỏ cú õm hng. và riêng ở hai câu thơ. Về n i dung: Cảm nhận được i m chung: – Cùng miêu tả nụ cư i của ngư i chiến sĩ – Đều biểu hiện niểm lạc quan vượt m i khó khăn, nguy hiểm – Tiếng cư i giúp ngư i lính. b i 3 : Phân tích khổ thứ ba của b i thơ “Đồng chí I. Mở b i – Tác giả, tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác – Kh i quát n i dung + nghệ thuật – Gi i thiệu, chép l i khổ thơ II. Thân b i 1. Kh i. mu i – Câu thơ vừa g i không gian, vừa g i th i gian và tính chất của th i tiết. – Hai chữ “ Đêm nay” g i mọt th i i m cụ thể. Đó là lúc tr i đã khuya, con ngư i và vũ trụ i vào sự nghỉ ngơi

Xem thêm :  Soạn bài Khi mẹ vắng nhà trang 15
Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Giáo Dục

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button