Wiki

Từ Thế Mộng, thơ đời thường

Từ
Thế Mộng,
Thơ đời thường

Đặng
Tiến

Trích tác phẩm :
Trụ Thơ II
,
những bài viết về thi ca thời chiến ở miền Nam.

Người làm
thơ, khi làm thơ, thường sống trong thế giới của
mình ; khi đạt đến nghệ thuật ngôn từ,
thì tạo ra một thế giới riêng, với địa đồ,
phong cảnh riêng, có khi là một lãnh
thổ có hiến pháp riêng. Đầu tập thơ , 1956, Thanh Tâm
Tuyền đã ngang nhiên công bố quy luật đó
– vẫn có từ ngàn xưa. Yêu một câu
thơ đơn giản, chân quê của Nguyễn Bính,
dù muốn dù không cũng phải nhập cư vào
thế giới của ông ấy.

Từ Thế
Mộng ,
1937-2007, thì không vậy. Anh làm thơ bằng
thế giới thường ngày và đời sống, ngôn
ngữ ngày thường. Thơ Từ Thế Mộng kể chuyện gia
đình, cha mẹ, vợ con, bè bạn, con đường Hải
Thượng Lãn Ông, nơi anh ở, bãi biển
Thượng Chánh, nơi anh ngày ngày thường
tắm, tại Phan Thiết. Anh thuộc nhiều thơ cổ kim, dịch
thơ Đường hay, nhưng khi sáng tác không tìm
hình thức cách tân, hay sử dụng điển cố.
Muốn làm mới bài thơ, anh lên dòng
xuống dòng, rồi vẫn rơi vào lục bát.
Dường như anh cũng không tha thiết với việc lập
danh, in ấn, xuất bản tác phẩm, dù làm
nhiều thơ từ khoảng 1960. Mãi gần đây, 2002,
bạn bè ở nước ngoài mới in và phát
hành thi phẩm .

Không
gian thơ của Từ Thế Mộng là (tr.64) chung quanh thành
phố Phan Thiết, nơi anh theo cha mẹ từ Thừa Thiên vào
sinh sống, và qua đời ngày 13-5-2007.

Phan
Thiết không phải là địa danh nổi tiếng trong
văn học. Nhiều người chỉ biết, và tưởng tượng,
qua Lầu Ông Hoàng trong thơ Hàn Mạc Tử. Từ
Thế Mộng từ tốn cho biết  ; mà
vẫn có thơ hay :

1971, tr. 93

Lời thơ
điệu nghệ, nhưng chân thành, khởi sắc nhờ
những địa danh nôm na :

Bài đã dẫn

Nguyễn
Bắc Sơn, bạn thơ thân thiết và cùng quê
Phan Thiết, có câu :

(Ới ông Nguyễn Bắc Sơn ơi, lần
này lên Tà Dôn ông uống dùm
Từ Thế Mộng một chén quan san. Mùa xuân,
muốn tìm ông, tôi điện thoại nhờ Từ Thế
Mộng đạp xe lùng ông khắp Phan Thiết ; hôm
nay đúng ngày đầu thu, muốn tìm ông,
phone nhờ ai đây ?

Xem thêm :  Những bộ phim 18 hay nhất lịch sử, gây sốt toàn thế giới

Ngon
lành, ông uống thêm chén nữa,
gọi là chén quan hà, để tưởng niệm Y
Uyên,
tại Tà Dôn
ngày 8-1-1969, tại cái đồn Nora
gì gì đó nay ai còn nhớ… Tà
Dôn ôi Tà Dôn, không ai nhớ mình,
thì mình cam phận nhớ nhau. Biết
làm sao đây ? Ngoài đề)

Từ
Thế Mộng yêu biển và Phan Thiết nhiều biển.
Nhưng biển đây không phải là phong cảnh
, trước lầu Ngưng
Bích, mà là bãi tắm Thương Chánh
ở tỉnh nhà :


nắng mưa gì anh cũng tắm

Chịu
khó lắm thì xuống đến biển Ninh Chữ,  :

1995,
tr.12


biển tạo ra nhiều hình ảnh đẹp, câu thơ hay,
không phải vì cảnh

trong thơ Huy Cận, mà vì bóng dáng ai
đó đi tắm biển về :


Ôi màu vàng
đâu thể dễ phải đi

tr.30

Tôi
trích toàn văn bài ,
câu cuối dùng làm tựa đề cho cả tập
thơ, có thể tiêu biểu cho phong cách và
tâm hồn Từ Thế Mộng, an phận, vui với cái
“đơn sơ, hiền thục, đơn giản”, nhưng vô cùng
tinh tế. Phải tinh tế lắm mới nhận ra được ánh
mặt trời đậu vào nước biển còn đọng trên
lưng áo; rồi phải nhìn theo, nhìn thật
lâu phía sau, mới nhận ra
.
Cái nhìn ảo hóa không gian và
thời gian. Giây phút không có gì
lạ ấy, là hạnh phúc của loài người
trong một trần gian không vĩnh viễn.

Nắng
là hiện tượng thiên nhiên.
là lời tình tự của mặt trời gửi về một
đóa hoa quỳ – lạc đường vì một mái
tóc.

Thơ
Từ Thế Mộng tằn tiện
chút hạnh phúc đời thường, ngày thường
đang phôi pha.

*

Với tâm thái an phận, thì đi đâu cũng
vậy thôi. Từ Thế Mộng lẩn quẩn ở quê nhà,
đi xa lắm thì cũng chỉ lên tới … Đà
Lạt

tr.71

Thời
trẻ, anh cũng phải đi lính, xê dịch đó
đây. Nhưng những con đường đi qua không để
dấu vết gì sâu đậm trong thơ anh; có nhắc
đến Cheo Reo, Tuy Hòa, Quy Nhơn, cũng vì nhớ bạn
quá cố :

1966, tr. 55

Thơ
Từ Thế Mộng không sạm vết tro than của lịch sử;
thơ kể chuyện đời bình thường của con người
bình thường, không có thành tích
gì vẻ vang, cũng không chịu bi kịch gì
thảm khốc. Không có tư tưởng cao xa, tình
cảm đặc sắc. Chuyện anh cưới vợ

Xem thêm :  Khách sạn đẹp, giá rẻ ở Sài Gòn nhiều ưu đãi, hút khách

tr.
24

Năm
1965 anh làm bài
:

Huế,
1965, tr. 59

Năm
đó, anh bị động viên, mới ra trường sĩ quan
trừ bị, nghĩ đến vợ con, e không có ngày
về:

Huế, 1965, tr.47

Anh
kể đến
năm 1976 mới được con trai đầu lòng, bài thơ
mừng vui đượm nhiều chua xót. Anh có đứa con
bị hội chứng down, lên 9 vẫn chưa nói được.
Anh gửi tất cả những buồn vui ấy vào thơ. Có
khi là buồn vui nhỏ nhặt :

tr. 38

Anh
tiếp thu vũ trụ, cũng từ thềm nhà :

tr.92

Chữ
độc đáo trong khúc thơ là . Thơ ngắm trăng – nhất là trung thu – xưa nay không
hiếm. Nhưng không thấy ai cẩn thận giăng màn.


Bạch có bài
nổi tiếng :


Bạch nói đến giường chõng, mà đâu
có treo mùng !

Chi
tiết này, tự nó không to tát gì,
nhưng biểu lộ thi pháp Từ Thế Mộng. Trong đời
sống ai cũng phải phân biệt công việc lớn lao
với cử chỉ nhỏ nhặt, nhưng trong thơ, sự việc mang
một kích thước khác : cơn gió heo may
ngang tiềm lực với trận bão tố. Nhà thơ trói
gà không chặt, vẫn có quyền phép

Trong thơ anh, việc lớn việc nhỏ, chuyện chung chuyện
riêng ngang tầm. Thậm chí anh chủ tâm nhiều
hơn vào những việc riêng tư và nhỏ bé.
Vì vậy, thơ anh vừa dễ, vừa khó đọc. Khó
đọc với những độc giả tìm ở thi ca những điều
thâm viễn tân kỳ, trong khi thơ anh dừng lại ở
những nét bình dị, trong sáng.

Đoạn
đầu, tôi có nói : yêu một câu
thơ dù đơn giản của Nguyễn Bính, cũng phải
nhập cư vào lãnh thổ của nhà thơ, ví
dụ câu này :


là ngớ ngẩn. Thư viết cho chị, thì cần gì
phải nói “cho chị”. Sau đêm hăm bốn, thì
cần gì phải nói hăm nhăm ? Và bề nào,
trên thư cũng đã… đề ngày.

Diễn
ngôn không mang lại một thông tin nào
đáng kể, vì vậy nó là một câu
thơ, khác với câu nói thường và câu
văn xuôi,
mục đích là thông tin..

Xem thêm :  Best Shudder movies: the essential horror films to watch on the streamer


là thơ hay. Mà có lẽ chỉ có Nguyễn
Bính mới làm được một câu như thế.

Hoặc
câu ca dao này, có lẽ nguyên
gốc là câu hát ru em :

(Tao nôi : dây nôi. Dùi : chùng, trái
với thẳng)

Đây
lại là thơ ngớ ngẩn, tương đương với việc treo
mùng của Từ Thế Mộng. Nhưng là thơ hay và
hiện đại.

Từ
Thế Mộng
và bạn bè anh, cùng một lứa phương trời
lận đận, là những con người sinh ra, lớn lên,
có người đã ra đi, trong nghịch cảnh. Nghịch
cảnh đã hà khắc với đời họ. Với tác
phẩm của họ, còn hà khắc hơn nữa. Con người
đời thường
có thể thỏa hiệp, ngậm thẻ qua sông, sống
qua ngày. Con người nghệ thuật, tác phẩm nghệ
thuật, con người đã trưởng thành, tác
phẩm đã định hình thì không có
cách gì thỏa hiệp. Con người có thể đầu
hàng, và nhiều người đã đầu hàng.
Tác phẩm thì vô
phương.

Do
đó, khi các bạn Trần hoài Thư, Phạm văn
Nhàn đứng ra làm in lại những
tác phẩm Miền Nam Xưa đã xiêu lạc, và
ra những số báo , kỳ này tưởng
niệm nhà thơ Từ Thế Mộng vừa quá cố, là
tôi hoan nghênh, không chỉ cổ võ suông,
mà tận tình góp sức. Vì nếu các
bạn, nay cùng vào tuổi chiều xế bóng,
không chịu khó, bỏ công và bỏ của,
bỏ chút tàn hơi, thì chẳng còn ai
biết, chẳng còn ai nhớ Từ Thế Mộng, tác giả

Một
tác phẩm chơn chất, dễ đọc nhưng không phải
là dễ thưởng thức. Thơ Từ Thế Mộng không
ồn ả haysắc
sảo, nhưng đằm thắm và tinh tế – mà tinh tế
là một « đức tính tiêu cực »
( !!!) – vertu négative, chữ của Camus – mà
thời cuộc đã và đang dần dần bôi xóa.

Cuộc
đời không dễ dàng gì nhận diện được
một Từ Thế Mộng : đời đòi hỏi cao thâm,
anh trả lời tế nhị ; đời muốn huy hoàng mà
thơ anh thanh đạm ; đời vốn ồn vang, thơ anh nhỏ
nhẻ.

Nhỏ nhẻ
cho đến ngày im tiếng.

Trần
gian này anh bỏ lại, vẫn chung thủy một phương
quỳ.

Đặng Tiến

Orléans,
đầu thu
21-9-2007

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Giáo Dục

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Check Also
Close
Back to top button