Wiki

Skkn một số kinh nghiệm hướng dẫn học sinh tập làm thơ bảy chữ ở lớp 8 và thơ tám chữ ở lớp 9

Skkn một số kinh nghiệm hướng dẫn học sinh tập làm thơ bảy chữ ở lớp 8 và thơ tám chữ ở lớp 9

doc – 25 trang

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Lý do chọn đề tài.

1.1.

Môn văn trong trường THCS

Văn học là nhân học – học văn là học cách làm người. Môn văn là một môn

học đặc biệt quan trọng khi nó vừa cung cấp tri thức, vốn sống, vừa góp phần

hình thành tâm hồn, tính cách cho học sinh. Do đó, môn văn chiếm số tiết khá

nhiều trong tổng lượng tiết học ở nhà trường THCS. Đồng thời nó cũng được

các cấp chuyên môn quan tâm, theo dõi, chỉ đạo nhằm nâng cao chất lượng môn

văn trong nhà trường.

1.2.

Thực trạng môn văn trong trường THCS

Nhà thơ Tố Hữu từng nói: học văn học, dạy văn học là niềm vui sướng nhất.

Trong thực tế vẫn tồn tại một nghịch lý là học sinh chán học văn, chất lượng

môn văn không cao như một số môn học cơ bản khác. Thậm chí học sinh đam

mê và học giỏi văn rất hiếm. Đó là một bài toán hóc búa khiến các giáo viên

tâm huyết với nghề rất lo lắng và ra sức tìm cách giải.

Đáp ứng nhu cầu ấy, các nhà lý luận, các giáo sư đầu ngành cũng đã hết lòng

nghiên cứu và đưa ra công việc đổi mới phương pháp dạy văn. Về bộ môn văn

khối THCS có sự thay đổi lớn nhất thể hiện ở trên môn học và nguyên tắc tích

hợp cùng với sự tích cực học tập của học sinh. Tức là phải kết hợp giữa ba phân

môn: Văn học – Tiếng Việt – Tập làm văn cùng dựa trên một văn bản chung để

khai thác hình thành. Rèn luyện các kiến thức và kĩ năng của mỗi phân môn.

Đặc biệt, chương trình sách giáo khoa Ngữ văn THCS có nội dung dạy – học

mới so với chương trình trước đây. Đó là có tiết hoạt động Ngữ văn Tập làm

thơ.

Việc dành cho các tiết Tập làm thơ một thời lượng thích hợp là một sáng tạo

mới của chương trình với mục đích cao hứng thú cho thầy và trò trong quá trình

1

dạy – học. Đó cũng là một biện pháp để nâng cao chất lượng giáo dục môn Ngữ

văn ở THCS. Đây là một nội dung rất mới đối với cả thầy và trò. Do vậy, nếu

không có sự đầu tư công sức cẩn thận thì rất có thể tiết học sẽ không đạt hiệu

quả cao.

Để có được những tiết hoạt động Ngữ văn thu được kết quả cao nhất là việc

Tập làm thơ, tôi mạnh dạn tự đưa ra một số kinh nghiệm hướng dẫn học sinh

tập làm thơ bảy chữ ở lớp 8 và thơ tám chữ ở lớp 9.

Tuy nhiên, là những năm đầu giảng dạy kiểu bài mới này, tôi không khỏi

tránh khỏi thiếu sót, bỡ ngỡ trước một vấn đề mà tôi cho là khó đối với cả cô và

trò. Qua khảo sát ở các tiết Tập làm thơ, đa số các em đều chưa biết làm thơ

phải bắt đầu từ đâu. Rất mong đây là những ý kiến nhỏ giúp bạn bè đồng nghiệp

có được những thiết kế tốt hơn cho những tiết dạy sau.

2. Đối tượng nghiên cứu: Học sinh khối 8 và khối 9 trường THCS Lê Duẩn,

IaTiêm, Chư Sê, Gia Lai.

3. Phương pháp nghiên cứu:

– Phương pháp điều tra: điều tra hứng thú của học sinh với việc học môn Ngữ văn

nói chung và học Tập làm thơ nói riêng.

– Phương pháp quan sát: quan sát quá trình giảng dạy của giáo viên và tình hình

học tập của học sinh trong tiết Tập làm thơ.

– Phương pháp đọc tài liệu: đọc và tìm hiểu SGK và SGV môn Ngữ văn khối 8, 9

các bài dạy Tập làm thơ, đọc các tài liệu có liên quan đến vấn đề dạy làm thơ.

PHẦN II :GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.

I . Thực trạng tình hình.

2

1. Thuận lợi

– Ban giám hiệu nhà trường thực sự quan tâm đến vấn đề đổi mới phương pháp

dạy và học nhằm nâng cao chất lượng học tập.

– Cơ sở vật chất của nhà trường dần dần được bổ sung hoàn thiện, phòng học cao

ráo thoáng mát, đủ ánh sáng, học sinh ngồi hai em một bàn thuận lợi cho việc

học tập.

– Đội ngũ giáo viên giảng dạy văn đều đạt chuẩn và trên chuẩn, luôn có ý thức để

học hỏi và nâng cao tay nghề.

– Đa số học sinh trong trường ngoan ngoãn, vâng lời thầy cô, hứng thú học tập.

2. Khó khăn.

– Đồ dùng dạy học cho môn Ngữ văn nói chung còn quá ít, đồ dùng cho tiết dạy

học Tập làm thơ hầu như không có.

– Đội ngũ giáo viên giảng dạy Ngữ văn của trường còn ít, chỉ có bốn giáo viên

đảm đương bốn khối lớp nên việc trao đổi học hỏi kinh nghiệm của một kiểu

bài ở một khối lớp là rất khó khăn.

– Loại bài Tập làm thơ là loại bài mới, số lượng tiết dạy loại bài này chưa đủ để

học sinh nhận diện thơ chứ chưa nói đến việc tập làm thơ.

– Trong trường, đa số học sinh là người địa phương Jarai, Tiếng việt là ngôn ngữ

thứ hai nên việc cảm nhận thơ văn đối với các em là rất hạn chế.

II. Diễn biến quá trình hướng dẫn học sinh tập làm th ơ bảy chữ, tám chữ ở

lớp 8 và lớp 9.

1. Điều tra thái độ của học sinh đối với môn Ngữ văn nói chung và với việc

học tập làm thơ nói riêng.

2.

Qua điều tra, kết quả thu được như sau:

Khối lớp

Tổng số học

Số HS hứng Số HS hứng

thú học

thú học tiết

Số HS biết

làm thơ

3

sinh được

môn Ngữ

điều tra

8

9

văn

70

37

tập làm thơ

theo yêu

35

17

cầu

30

13

10

6

3. Một số biện pháp hướng dẫn học sinh tập làm thơ bảy chữ, tám chữ.

3.1.

Đặc điểm, yêu cầu chung

Tiết tập làm văn là sản phẩm thu được từ tiết học văn bản và Tiếng việt. Học

sinh học Ngữ văn bây giờ không chỉ cho ra đời những bài viết số đơn thuần trên

lớp mà còn có tiết hoạt động Ngữ văn đầy hứng thú. Việc đưa nội dung dạy – học

Tập làm thơ bảy chữ và tám chữ vào chương trình Ngữ văn lớp 8 và lớp 9 là nội

dung tiếp theo của chương trình Tập làm thơ bốn chữ và năm chữ ở lớp 6 và lớp 7,

đồng thời giúp học sinh nắm chắc hơn đặc điểm của thể thơ này. Thông qua giờ

học Tập làm thơ, học sinh nắm vững đặc điểm của thể loại tác phẩm. Đây thực chất

cũng là một cách thể hiện yêu cầu dạy học tích hợp bởi song song với giờ học làm

thơ này là đọc hiểu các văn bản thơ bảy chữ như các bài: “Đập đá ở Côn Lôn” của

Phan Châu Trinh, “Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác” của Phan Bội Châu,

“Muốn làm thằng Cuội của Tản Đà”… các văn bản thơ tám chữ như: “Quê hương”

của Tế Hanh, “Nhớ rừng” của Thế Lữ, “Bếp lửa” của Bằng Việt… Những gì học

sinh học được về thể thơ bảy chữ và tám chữ ở cả hai loại giờ học (đọc hiểu và tập

làm thơ) có tác dụng soi sáng, hỗ trợ và bổ sung cho nhau. Ngoài ra, đưa nội dung

tập làm thơ dưới dạng giờ hoạt động Ngữ văn là nhằm đa dạng hoá các hình thức

tổ chức dạy – học khiến việc học vui hơn, sinh động hơn. Cuối cùng, thông qua

việc học tập làm thơ này, nhà trường góp phần phát hiện, động viên, bồi dưỡng

những học sinh có năng khiếu thơ thực sự cho dù số này không nhiều.

Vậy có nhất thiết phải cho học sinh tập làm thơ hay không? Tôi thiết nghĩ rất

Xem thêm :  Soạn bài Liên kết các đoạn văn trong văn bản

cần bởi thơ là một thể loại văn học có vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của

con người. Hay nói cách khác, sự hình thành của thơ ca gắn liền với nhu cầu tự

4

biểu hiện tình cảm của con người. Cho nên so với các thể loại văn khác thì thơ ra

đời từ rất sớm mà hình thức ban đầu của nó thường là những câu nói có vần điệu

xuất hiện trong chiến tranh, lao động, sản xuất, những bài hát của người xưa. Càng

về sau, nghệ thuật biểu hiện của thơ ca càng trở nên phong phú, đa dạng và tinh

xảo hơn.

Riêng thể thơ bảy chữ và tám chữ đã xuất hiện từ xa xưa và được sử dụng nhiều

trong tục ngữ, ca dao để thích hợp nhiều với lối kể chuyện và dễ bộc lộ nhiều xúc

cảm nhất.

3.2.

Tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng:

Tại sao các em học sinh hiện nay lại có vốn từ vựng nghèo nàn hay dùng câu

cụt, câu què thiếu chủ ngữ vị ngữ , lời ăn tiếng nói khô cứng rập khuôn. Phải

chăng đó chính là biểu hiện của tâm hồn cằn cỗi như mảnh đất khô bị nắng hạn lâu

ngày nên không làm nổi vài câu thơ.

Đi tìm hiểu vấn đề này, tôi thấy do những nguyên nhân sau:

 Do học sinh chưa nắm được những yếu tố cần thiết tối thiểu để làm thơ.

 Theo phân phối chương trình bài hoạt động Ngữ văn: Tập làm thơ bảy và

tám chữ là cả một vấn đề nan giải mà chỉ gói vẻn vẹn trong hai tiết ( PPCT:

tiết 69-70 Tập làm thơ bảy chữ ở lớp 8, tiết 54 – 88 -89 tập làm thơ tám chữ

ở lớp 9). Khoảng thời gian ấy chưa đủ cho học sinh lĩnh hội được cách tiếp

cận thơ chứ chưa nói đến làm thơ.

 Do vốn từ nghèo nàn của học sinh dân tộc thiểu số làm các em lúng túng khi

ghép phần.

3.3.

Đối với giáo viên.

Là người hướng dẫn, giáo viên phải nhiệt tình sáng tạo, đồng thời tiến hành

nhiều hoạt động như: hoạt động nghiên cứu, hoạt động tổ chức, hoạt động giao

tiếp. Mặt khác, giáo viên phải nắm vững phương pháp dạy bộ môn: dạy hoạt động

5

Ngữ văn. Đặc biệt kết hợp chặt giữa dạy văn với Tiếng việt và Tập làm văn sao

cho đảm sự tích hợp giữa ba phân môn.

-Dạy văn bản: tôi cho các em nắm vững nội dung và nghệ thuật của các bài thơ bảy chữ: bài “Đập đá ở Côn Lôn” của Phan Châu Trinh, “ vào nhà ngục Quảng

Đông cảm tác” của Phan Bội Châu, “ Muốn làm thằng Cuội” của Tản Đà… và các

bài thơ tám chữ: bài “ Quê hương” của Tế Hanh, “ Nhớ Rừng” của Thế Lữ, “ Bếp

lửa” của Bằng Việt…

+ Về nội dung: các bài thơ đều chứa yếu tố tự sự và miêu tả.

+ Về nghệ thuật: thể thơ, khổ thơ, cách gieo vần, cách ngắt nhịp…

-Dạy Tiếng việt: giúp các em nắm vững hai biện pháp tu từ được sử dụng trong

thơ: ẩn dụ, điệp ngữ…

-Dạy Tập làm văn: tôi cho các em nắm vững đặc điểm thể thơ:

+ Thể thơ bảy chữ, thể thơ tám chữ.

+ Nắm một số khái niệm tối thiểu để làm được thơ( dòng thơ, khổ thơ, vần thơ,

nhịp thơ).

3.4.

Đối với học sinh:

Tôi chưa có hy vọng dạy học sinh thành thi sĩ, bởi làm được thơ ca là cả một

quá trình sáng tạo nghệ thuật mà trước hết người làm ra nó phải có năng khiếu

thiên phú, thông minh, luôn sáng tạo. Điều này rất khó. Song thiết nghĩ, thông qua

giờ học tập làm thơ sẽ giúp các em học sinh có cảm xúc trước các sự vật hiện

tượng của cuộc sống, yêu cuộc sống tươi đẹp của chúng ta hơn. Muốn vậy học

sinh phải tập trung tư tưởng, say mê tích cực chủ động nghiên cứu thơ, đặc biệt

nắm vững cách thức làm thơ.

4. Các bước tiến hành.

4.1.

Yêu cầu chung về nội dung.

Muốn tiến hành các bước, yêu cầu đầu tiên giáo viên phải cho các em nắm

vững kiến thức tối thiểu về cách làm thơ bằng hoạt động dạy học của mình.

6

4.2.

Khái niệm:

– Thơ bảy chữ( thất ngôn): có nguồn gốc vay mượn nhưng cũng đã trở nên phổ

biến và quen thuộc với người Việt Nam. Nếu mở hợp tuyển thơ Việt Nam bất

kỳ giai đoạn nào, ta đều thấy thơ bảy chữ có số lượng rất lớn. Thơ bảy chữ có

rât nhiều loại: thơ bảy chữ cổ thể, thơ thất ngôn đường luật gồm thất ngôn bát

cú và thất ngôn tứ tuyệt, thơ bảy chữ hiện đại.

– Thơ tám chữ: là thể thơ hiện đại, tuy mới hình thành nhưng đã tiếp thu nhiều

yếu tố truyền thống và vì vậy cũng mang đậm tính dân tộc. Xem bất kỳ tập thơ

nào thời hiện đại( từ đầu thế kỷ XX đến nay), ta sẽ thấy số lượng thơ tám chữ

rất đáng kể, nó cũng được sử dụng phổ biến và cũng có nhiều ưu điểm riêng.

4.3.

Cung cấp cho học sinh một số thuật ngữ tối thiểu để làm được thơ.

– Dòng thơ: là số tiếng quy định nằm trên một câu.

– Khổ thơ: bốn câu thơ liền một mạch ý gọi là một khổ thơ. Cũng có những bài

không cần khổ thơ.

– Vần thơ: vần – ta có thể hiểu là một âm hoặc một nguyên âm kết hợp với phụ

âm tạo nên. Gieo vần: là sự lặp lại các vần giống hoặc gần giống nhau giữa các

tiếng ở những vị trí nhất định.

+ Gieo vần lưng: giữa dòng thơ.

+ Gieo vần chân: cuối dòng thơ hoặc vần chân và vần lưng xen kẽ nhau.

+ Gieo vần liền: vần gieo liền giữa hai câu thơ.

+ Gieo vần cách: các vần được gieo cách ra không liền nhau.

+ Gieo vần hỗn hợp: gieo vần không theo một trật tự nào.

– Nhịp thơ( ngắt nhịp): đó là sự lặp lại cách quãng, đều đặn các âm mạnh hay

yếu, sắp xếp theo những hình thức nhất định.

4.4.

Cách chuẩn bị một bài dạy Tập làm thơ cụ thể.

7

Hoạt động Ngữ văn:

Tập làm thơ bảy chữ( bài 17, lớp 8, kỳ I)

A. Mục đích yêu cầu:

Học xong bài này, học sinh sẽ đạt được những yêu cầu về các phương diện sau:

1. Kiến thức: Học sinh nắm bắt được đặc điểm của thể thơ bảy chữ( thất ngôn)

về số câu, chữ, nhịp, vần, thanh.

2. Kĩ năng: Làm quen và bước đầu làm thơ bảy chữ có vần, nhịp.

3. Thái độ: Yêu thích và biết trân trọng thể thơ bảy chữ, thích học làm thơ bảy

chữ.

B. Hoạt động dạy – học

1. Hoạt động ở nhà:

a) Tìm hiểu đặc điểm của thể thơ bảy chữ.

Nhiệm vụ 1: Học sinh đọc lại bài thuyết minh về thơ thất ngôn bát cú Đường

luật( Bài 15) và trả lời câu hỏi:

-Bài thơ thất ngôn có mấy dòng( Lấy bài Đập đá ở Côn Lôn và Vào nhà ngục

Quảng Đông cảm tác trong SGK Ngữ văn 8, tập 1 để minh hoạ? Mỗi dòng có

mấy tiếng?

-Thế nào là những tiếng mang thanh bằng – trắc?

– Đọc thêm để tìm hiểu niêm, đối.

+ Niêm( nghĩa là dính): là sự liên kết bằng cách cùng nhóm thanh điệu bằng trắc giữa câu biểu thị rõ nhất ở tiếng thứ hai các cặp 2 -3, 4- 5, 6-7 trong bài

thơ bát cú. Ví dụ:

Chạy mỏi chân thì hãy ở tù

Đã khách không nhà trong bốn bể

Lại người có tội giữa năm châu

8

Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế

+ Đối là sự liên kết bằng cách trái ngược về thanh bằng – trắc giữa các câu: 3

-4, 5 -6 biểu thị rõ nhất ở một số vị trí cuối tiết tấu. Ví dụ:

Đã khách không nhà trong bốn bể

Lại người có tội giữa năm châu

Bủa tay ôm chặt bồ kinh tế

Mở miệng cười tan cuộc oán thù.

Xem thêm :  TOP 19+ Địa Chỉ Cho Thuê Xe Máy Uy Tín Giá Rẻ Nha Trang

Luật bằng – trắc cả niêm và đối đầy đủ, điển hình theo hai công thức sau:

a) B B T T T B B

T T B B T T B

T T B B B T T

B B T T T B B

b) T T B B T T B

B B T T T B B

B B T T B T T

T T B B T B B

Tuy nhiên, trong thực tế chỉ có các tiếng 2, 4, 6, 7 là bắt buộc, còn lại “

nhất, tam, ngũ bất luận” nghĩa là tiếng 1, 3, 5 không bắt buộc bằng – trắc.

Tác dụng của đối thanh là làm cho các cặp câu thơ tương phản nhau về

âm thanh tạo ra sự nhịp nhàng bổ sung cho sự tương phản về ngữ nghĩa.

– Tìm hiểu nhịp thơ trong hai bài thơ trên.

Nhiệm vụ 2: Làm bài tập 3 SGK trang 165

– Bài Bánh trôi nước

+ Bài gồm bốn câu, mỗi câu bảy chữ, gieo vần chân( vần on) ở các câu 1, 2, 3

+ Nhịp điệu: Thân em / vừa trắng / lại vừa tròn

Bảy nổi ba chìm / với nước non

Rắn nát / mặc dầu / tay kẻ nặn

9

Mà em vẫn giữ / tấm lòng son

+ Về ý nghĩa và bố cục: đây là bài thơ hoàn chỉnh, hai câu đầu tả sự vật ( bánh trôi

nước), câu thứ ba chuyển mạch, câu thứ tư biểu thị tư tưởng.

– Đoạn thơ của Tố Hữu:

+ Khổ thơ gồm bốn câu, mỗi câu bảy chữ, không thể tuỳ tiện thêm bớt.

+ Vần chân ở các câu 1, 2, 4

+ Nhịp: Đi, bạn ơi đi! / Sống đủ đầy

Sống trào sinh lực / bốc men say

Sống trong sóng gió / thanh cao mới

Sống mạnh / dù trong một phút giây.

+ Về ý nghĩa và bố cục: đây là khổ thơ hoàn chỉnh nhưng chưa tạo thành bài thơ vì

chưa diễn đạt hết ý tưởng trọn vẹn.

-Khổ thơ của Anh Thơ:

+ Số câu số tiếng: như a) và b)

+ Vần e thuộc vần chân ở các câu 1, 2, 4

+ Nhịp: Bà tôi / ở một túp lều tre

Có một hàng cau / chạy trước hè

Một mảnh vườn / bên rào dậu nứa

Xuân về / hoa cải / nở vàng hoe.

+ Về bố cục và ý nghĩa: khổ thơ có nội dung tương đối hoàn chỉnh nhưng chưa

thành bài thơ vì chưa diễn đạt được ý tưởng trọn vẹn

Nhiệm vụ 3: Sưu tầm một bài thơ bảy chữ mà em thích, chép vào sổ tay hoặc vở

bài tập. Học thuộc lòng một vài bài mà em thích nhất.

b) Luyện làm thơ bảy chữ( trọng tâm )

Tập làm bài thơ bốn câu, mỗi câu bảy chữ với đề tài tự chọn.

10

Gợi ý: hãy xem xung quanh mình có vật gì đáng yêu để viết thành thơ không ( một

con chó, con mèo, cái bút, quyển vở…)? Hoặc có thể viết về một người thân nào

đó, kể chuyện hoặc miêu tả về họ, qua đó mà bộc lộ tình cảm của em.

2. Hoạt động ở lớp.

Hoạt động của giáo viên và học sinh

Hoạt động 1: Ổn định, kiểm tra

Yêu cầu cần đạt

1.

Nhiệm vụ: HS báo cáo kết quả chuẩn

a) Lớp trưởng ( hoặc trưởng

bị bài ở nhà.

nhóm) báo cáo tình hình thực

GV kiểm tra trực tiếp một số em để rút

hiện các nhiệm vụ ởp nhà: tìm

ra nhận xét về tình hình làm bài tập ở

hiểu đặc điểm của thể thơ bảy

nhà của HS.

chữ, sưu tầm và tập làm thơ bảy

chữ của từng cá nhân trong lớp.

Hoạt động 2: Nhận diện luật thơ.

Nhiệm vụ 1: HS làm bài tập a) SGK tr

a) Bài tập a

165.

Chiều hôm thằng bé cưỡi trâu về

+ Đọc và vạch nhịp. Kí hiệu: /.

Nó ngẩng đầu lên hớn hở nghe

+ Chỉ ra các tiếng gieo vần: in nghiêng.

+ Chỉ ra quan hệ đối thanh: in đậm

+ Chỉ ra quan hệ đồng thanh ( niêm):

gạch chân.

( có thể yêu cầu HS xác định các thanh

bằng – trắc cho từng tiếng bằng cách

gạch chân và ghi dưới mỗi ký hiệu : B,

Tiếng sáo diều cao vòi vọi rót

Vòm trăng trong vắt ánh pha lê

Kí hiệu bằng – trắc:

B B (B) T T B B

T T B

B T T B

T T B

B (B) T T

B B (B) T T B B

T. Các tiếng sai luật dùng kí hiệu trong

ngoặc).

Nhiệm vụ 2: Bài tập b.

b) Bài tập b

+ Bài thơ của Đoàn Văn Cừ bị

11

+ Chỉ ra chỗ sai của việc chép bài thơ.

chép sai ở câu thứ hai.

+ Nói lí do:

+ Lí do: bài thơ có vần e, do đó

+ Sửa lại ( HS tự sửa chữa)

cuối câu này cũng phải mang vần

– Sửa lại từ

e hoặc oe

-Sửa lại cả câu.

+ Sửa lại từ:

Bóng đèn mờ toả ánh sáng xanh lè

+ Sửa lại cả câu:

Bóng đèn mờ tỏ, ánh trăng nhoè

Ánh đèn mờ tỏ, bóng đêm nhoè

Bóng đèn mờ tỏ, ánh trăng loe.

3.

Hoạt động 3: Tập làm thơ bảy chữ.

a) HS có thể có nhiều cách viết

Nhiệm vụ 1: Hoàn thành bài thơ giở

tiếp, cố nhiên không đượ lệ thuộc

dang của Tú Xương( bài tập a)

vào tác giả.

+ GV gợi ý: Hai câu đầu viết về thằng

– Tham khảo:

Cuội ở cung trăng. HS có thể viết tiếp

Tôi thấy người ta có bảo rằng

đề tài về chú Cuội với các nhân vật, sự Bảo rằng chú Cuội ở cung trăng

Cung trăng ấy có trâu ăn lúa

vật liên quan như chị Hằng, cây đa…

Lưu ý: Đây là bài thơ mang phong

Ăn lúa nhà ai? Lúa chị Hằng?

cách cá nhân của Tú Xương, nhưng HS – Đáp án: (Xem SGV Ngữ văn 8

tập 1 tr. 181)

làm tiếp hai câu đầu vẫn có thể không

theo cách của ông.

– Chú ý: Về luật bằng trắc, chỉ

cần quan tâm tới các vị trí trọng

yếu( vị trí mạnh) như tiếng thứ 2,

4, 6, 7. Nhất, tam, ngũ bất luận

tức là các tiếng 1, 3, 5 không nhất

thiết phải theo luật.

12

b) HS cần có nhiều cách viết tiếp

Nhiệm vụ 2: Làm tiếp bài tập b.

Tham khảo:

Vui sao ngày đã chuyển sang hè

-Phấp phới trong lòng bao tiếng gọi

Phượng đỏ sân trường rộn tiếng ve.

Thoảng hương lúa chín gió đồng quê

Theo luật là:

B B B T T B B

T T B B T T B

-Cảnh ấy lòng ai không phấn chấn

Hè này em thích nhất thăm quê

-Gấp sách thở phào năm học hết

Du lịch đường xa mới thích ghê.

Hai câu dưới phải là:

T T B B B T T

4.

B B T T T B B

+ HS đọc diễn cảm

Hoạt động 4: Đọc thơ sáng tác ở nhà

+ Lớp giữ trật tự để tạo không khí

GV gọi một số HS đọc sáng tác của

+ Cả lớp chú ý để góp ý kiến cho

mình. Cách tiến hành giống như với

bạn.

các thể thơ trước.

5.

Hoạt động 5: Tổng kết dặn dò:

– Nhấn mạnh chất lượng học của

– GV nhận xét về tình hình lớp học

HS

– GV giao nhiệm vụ về nhà.

– Khích lệ HS tiếp tục sáng tạo

thơ bảy chữ với các đề tài liên

quan đến cuộc sống quanh mình.

III. Bài tập giúp HS làm quen và học cách làm thơ bảy chữ.

1. Tập tìm hiểu luật thơ bảy chữ.

Bài tập 1: Chỉ ra các tiếng mang vần và xác định luật bằng trắc trong bài thơ

sau đây:

Sáng ra bờ suối tối vào hang

Cháo bẹ rau măng vẫn sẵn sàng

Bàn đá chông chênh dịch sử Đảng

13

Cuộc đời cách mạng thật là sang

( Hồ Chí Minh, Tức cảnh Pác Bó)

Bài tập 2: Dùng kí hiệu (/)để biểu thị nhịp của bài thơ sau đây:

Khắc khoải sầu đưa giọng lửng lơ

Ấy hồn Thục Đế tự bao giờ

Năm canh máu chảy đêm hè vắng

Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ

Có phải tiếc xuân mà đứng gọi?

Hay là nhớ nước vẫn nằm mơ?

Thâu đêm giục giã kêu ai đó?

Giục khách giang hồ dạ ngẩn ngơ.

( Nguyễn Khuyến, Cuốc kếu cảm hứng)

Thử đọc lại bài thơ theo nhịp vừa được em xác định và nêu cảm nghĩ của em

về nhịp thơ trong bài. ( Nhịp thơ gợi cho em cảm giác, cảm xúc, suy nghĩ gì?)

Bài tập 3: Theo em, vần, nhịp và số tiếng trong câu thơ bảy chữ có tác dụng

như thế nào trong việc gợi ra cảm xúc và bổ sung ý nghĩa cho các từ ngữ trong

bài thơ? Trong các bài thơ trên, nếu rút ngắn, hoặc diễn đạt lại bằng thể thơ

bốn chữ, năm chữ có được không? Vì sao?

2. Tập sáng tác thơ bảy chữ.

Xem thêm :  Kinh Nghiệm Du lịch Nha Trang Tự Túc 2021 Chi Tiết Nhất

Bài tập 1. Đọc bài thơ sau đây:

Thầy em

Bốn phép cộng trừ, nhân với chia

Chẳng thấy thầy nhân, cộng bao giờ

Thầy chia, chia hết cho lũ trẻ

Thầy trừ, trừ mãi đến giê-rô…

(Đoàn Thanh Hùng, lớp 9

14

Hãy phát hiện ý chính của bài thơ. Theo em, bài thơ ca ngợi thầy giáo ở phẩm

chất gì? Cách diễn đạt của bạn có chỗ rất mới, đó là chỗ nào?

Bài tập 2. Bài thơ sau đây do một bạn đang làm dở dang, hãy viết tiếp hai câu

để tạo thành bài thơ tứ tuyệt:

Chân trời rừng rực mây- lửa thiêu

Mùa hạ quê em nắng rất nhiều

……………………………..

……………………………..

Bài tập 3. Suy nghĩ để tìm ý cho bài thơ tự chọn và viết thử bốn câu theo vần

quy định.

3. Tập sửa chữa thơ bảy chữ

Bài tập 1. Có một bạn chép sai mấy câu thơ trong bài Núi đôi của Vũ Cao như

sau:

Bảy năm về trước em mười bảy

Anh mới đôi mươi trẻ nhất làng

Xuân Dục, Đoài Đông hai cánh đồng lúa

Bữa thì em tới, bữa anh sang…

Theo em, khổ thơ trên bị chép sai chỗ nào? Vì sao? Hãy sửa lại cho đúng bản

gốc hoặc theo đúng luật.

Bài tập 2. Mít lần đầu làm thơ ( về bạn Biết Tuốt) như sau:

Một hôm đi dạo qua dòng suối

Biết Tuốt nhảy qua con cá chuối…

Biết Tuốt liền la lên:

– Tớ nhảy qua con cá chuối bao giờ?

– Nói cho có vần thôi! – Mít giải thích.

Hãy sửa lại câu thứ hai hộ Mít để Biết Tuốt khỏi thắc mắc, sau đó viết tiếp hai

câu để tạo thành bài thơ thất ngôn tứ tuyệt.

15

Bài tập 3. Có một bạn làm mấy câu thơ sau:

Cái đêm hôm ấy sao dày lắm

Đom đóm như sao mọc khắp vườn

Tôi cùng mấy bạn đi học nhóm

Hú vía, thằng Hoà nó doạ ma…

Bài thơ có nhiều câu hay, ý hay nhưng chưa có vần. Thử chữa lại ( có thể diễn

đạt lại, thay từ) sao cho có vần thì bài thơ này sẽ rất hay.

Tham khảo: Cái đêm hôm ấy sao dày lắm

Đom đóm như sao cứ thấp tà

Chúng tôi túm tụm đi học nhóm

Hú vía, thằng Hoà nó doạ ma…

THIẾT KẾ BÀI SOẠN “ TẬP LÀM THƠ TÁM CHỮ”

Hoạt động Ngữ văn: Làm thơ tám chữ ( bài 11, lớp 9, kì I ).

A. Mục đích, yêu cầu

Học xong bài này, HS sẽ đạt được những yêu cầu về các phương diện sau:

1. Kiến thức: HS nắm được đặc điểm của thơ tám chữ, củng cố sự hiểu biết về

vần chân, vần lưng, vần liền, vần cách.

2. Kĩ năng: HS biết cách làm thơ tám chữ, có vần, nhịp và có cảm xúc… HS

năng khiếu có cơ hội để làm thơ tám chữ.

3. Thái độ: HS yêu thích thể thơ tám chữ và môn học Ngữ văn.

B. Hoạt động dạy – học

1. Hoạt động ở nhà: Tìm hiểu lí thuyết và tập sáng tác

Hoạt động của HS

Hoạt động 1: Nhận diện thể thơ

Yêu cầu cần đạt

1. Nhận diện thể thơ tám chữ

tám chữ

a) Đọc và suy nghĩ về nội

Nhiệm vụ 1: Đọc các đoạn thơ

dung, hình thức thể thơ của

16

trích ( SGK, tr. 149)

các đoạn trích.

Nhiệm vụ 2: Làm các bài tập

b)

trong mục 2 SGK

Bài tập a. Nhận xét về số chữ Bài tập a. Mỗi dòng thơ của các

trong mỗi dòng ở SGK

đoạn trên đều có tám chữ ( tiếng)

Bài tập b. Tìm các chữ gieo vần Bài tập b.

trong mỗi đoạn. Nhận xét về cách a) Đoạn thơ trích Nhớ rừng gieo

gieo vần của từng đoạn.

vần ở các chữ cuối của các cặp 2

-3, 4 – 5, 6 – 7, 8 – 9 ( vần chân vần liền).

b) Đoạn thơ trích Bếp lửa gieo

vần các cặp 1 -2, 3 -4, 5 – 6 ( vần

chân – vần liền)

c) Gieo vần các cặp 1 – 3, 2 – 4

của mỗi khổ ( vần cách). Ngoài ra

còn có các vần lưng: ngát – dạt,

non – con, đứng – chững.

Bài tập c. Nhận xét về cách ngắt Bài tập c. Cách ngắt nhịp ở mỗi

nhịp.

đoạn đều tương đối tự do, không

Nhiệm vụ 3. Đọc mục ghi nhớ có quy luật phổ biến hay bắt

trong SGK

buộc. Chẳng hạn đoạn a ngắt nhịp

như sau: 2/3/4, 3/2/3, 5/3, 6/2…

c) HS đọc hiểu

2.

Hoạt động2. Luyện tập nhận

diện thể thơ tám chữ.

a) Các từ lần lượt điền vào chỗ

Nhiệm vụ 1. Làm bài tập 1 trong trống là: ca hát, ngày qua, bát

17

SGK

ngát, muôn hoa.

Nhiệm vụ 2. Làm bài tập 2 SGK

b) Các từ lần lượt điền vào chỗ

trống là: Cũng mất, tuần hoàn,

đất trời…

Nhiệm vụ 3. Làm bài tập 3 SGK

c) Đáp án đúng là: câu 3 từ rộn rã

sửa lại là vào trường.

Chú ý: HS có thể đưea ra đáp án

khác với câu thơ gốc nhưng phải

đúng vần, hợp nghĩa.

d) Yêu cầu HS không chép lại bài

của người khác.

Nhiệm vụ 4. Tập làm một đoạn

hoặc một bài thơ trọn vẹn theo

thẻ tám chữ, đề tài, chủ đề tự

chọn ( bài tập 4)

2.Hoạt động ở lớp: Thực hành làm thơ tám chữ.

Hoạt động của gv và hs

Hoạt động 1: Làm các bài tập 1.

điền từ, thêm câu.

Yêu cầu cần đạt

Bài tập 1. Yêu cầu từ ngữ được

Bài tập 1. Tìm các từ ngữ thích chon phải đúng thanh, đúng vần,

hợp để điền vào chỗ trống.

có thể không đúng nguyên gốc.

Trời trong biếc không qua mây gợn

Nguyên gốc là:

trắng

Hoa lựu nở đầy một v ư ờn đỏ nắng

Gió nồm nam thổi lộng cánh diều xa

Lũ bướm vàng lơ đãng lướt bay qua

Hoa lựu nở đầy một( ….) đỏ nắng

18

Lũ bướm vàng lơ đãng lướt bay(…)

Bài tập 2. Viết tiếp khổ thơ của B ài tập 2. Câu thơ có thể viết là:

Huy Cận

-Và lúa đồng theo gió thoảng đưa

Yêu cầu: tám chữ, vần ương

hương

– Ánh mai hồng hớn hở chạy tung

Hoạt động 2. Trình bày kết quả tăng.

2.

làm thơ ở nhà.

Nhiệm vụ 1.HS chọn trong nhóm a) HS đọc diễn cảm và nêu dụng

một bài thơ khá nhất trình bày

trước lớp.

Nhiệm vụ 2. GV hướng dẫn sửa

chữa và nhận xét.

ý sáng tác cũng như những yêu

cầu về vần, nhịp đã đạt được.

b) Dựa vào hướng dẫn đã trình

bày trong SGK ( số chữ, vần,

nhịp, kết cấu, chủ đề…)

Hoạt động 3. Tổng kết, dặn dò.

– GV nhận xét về ưu điểm,

khuyết điểm của tiết học

– GV khuyến khích HS tiếp tục

sáng tác thơ tám chữ.

3.

– Nhận xét khách quan, nghiêm

túc và nên khích lệ HS.

– Động viên, khuyến khích những

HS năng khiếu và muốn phát

triển năng khiếu.

III. Bài tập giúp HS làm quen và học làm thơ tám chữ.

1. Tập tìm hiểu đặc điểm của thơ tám chữ.

Bài tập 1. Đọc bài thơ sau đây:

TIẾNG VIỆT

19

L ưu Quang Vũ

Ti ếng mẹ gọi trong hoàng hôn khói sẫm

Cánh đồng xa cò trắng rủ nhau về

Có con nghé trên lưng bùn ướt đẫm

Nghe xạc xào gió thổi giữa cau tre

Tiếng kéo gỗ nhọc nhằn trên bãi nắng

Tiếng gọi đò sông vắng bến lau khuya

Tiếng lụa xé đau lòng thoi sợi trắng

Tiếng dập dồn nước lũ xoáy chân đê

Tiếng cha dặn khi vun cành nhóm lửa

Khi hun thuyền gieo mạ lúc đưa nôi

Tiếng mưa dội ào ào trên mái cọ

Nón ai xa thăm thẳm ở bên trời

“Đá cheo leo trâu trèo trâu trượt…”

Đi mòn đàng dứt cỏ đợi người thương

Đây muối mặn gừng cay lòng khế xót

Ta như chim trong tiếng việt như rừng

Chưa chữ viết đã vẹn tròn tiếng nói

Vầng trăng cao đêm cá lặn sao mờ

Ôi tiếng việt như đất cày, như lụa

Óng tre ngà và mềm mại như tơ

Tiếng tha thiết nói thường nghe như hát

20

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Giáo Dục

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button