Wiki

Phát triển du lịch sinh thái ở Cát Bà theo hướng phát triển du lịch bền vững

Ngày đăng: 05/04/2013, 16:22

phát triỂn du lỊch sinh tháidu lỊch bỀn vỮng .4 THỰC trẠng phát triỂn du lỊch sinh thái Cát 18 2.3.3. Thực trạng về các yếu tố cấu thành sản phẩm du lịch sinh thái 27 2.3.4.Thị trường khách du lịch .32 2.4. Phân tích điểm mạnh, điểm yếu của du lịch sinh thái Cát .33 Chương 3 36 MỘt sỐ giẢi pháp phát triỂn du lỊch sinh thái theo hưỚng phát triỂn du lỊch bỀn vỮng tẠi Cát .36 TÀI LIỆU THAM KHẢO .52 NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN .53 NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN .54 Chuyên đề thực tập MỞ ĐẦU Những năm gần đây, đã có nhiều bước phát triển trong lĩnh vực du lịch, du lịch sinh thái và bảo tồn trên thế giới. Quan trọng nhất là việc du lịch sinh thái không chỉ tồn tại như một khái niệm hay một đề tài để suy ngẫm. Ngược lại, nó đã trở thành một thực tế trên toàn cầu. một số quốc gia, nó không được quan tâm phát triển. Song nhiều nước khác, thì vấn đề phát triển du lịch sinh thái lại rất được chính phủ quan tâm, thường xuất hiện trên các bản tin chính hay các quảng cáo thương mại công cộng. Du lịch sinh thái mang lại nhiều lợi ích cụ thể trong lĩnh vực bảo tồn và phát triển bền vững. Costa Rica và Velezuela, một số chủ trang trại chăn nuôi đã bảo vệ nhiều diện tích rừng nhiệt đới quan trọng, và do bảo vệ rừng mà họ đã biến những nơi đó thành điểm du lịch sinh thái hoạt động tốt, giúp bảo vệ các hệ sinh thái tự nhiên đồng thời tạo ra công ăn việc làm mới cho dân địa phương. Tại Nam Phi, du lịch sinh thái trở thành một biện pháp hiệu quả để nâng cao mức sống của người da đen nông thôn, những người da đen này ngày càng tham gia nhiều vào các hoạt động du lịch sinh thái. Chính phủ Ba Lan cũng tích cực khuyến khích du lịch sinh thái và gần đây đó thiết lập một số vùng Thiên nhiên và Du lịch của quốc gia để tăng cường công tác bảo vệ thiên nhiên và phát triển du lịch quốc gia. Nằm khu vực Đông Nam Á, nơi có các hoạt động du lịch sôi nổi. Việt Nam có những lợi thế về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên phong phú, kinh tế và giao lưu quốc tế giúp cho sự phát triển du lịch phù hợp với xu thế của thế giới và khu vực. Tại Việt Nam, du lịch đang dần dần trở thành ngành kinh tế quan trọng và trong tương lai gần hoạt động du lịch được coi là con đường hiệu quả nhất để thu ngoại tệ và tăng thu nhập cho đất nước. Cát – Hải Phòng, còn gọi là đảo ngọc, được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới. Cát được thiên nhiên ban tặng với rừng nguyên sinh nhiệt đới có nhiều động thực vật quý hiếm, nhiều hang động, bãi tắm đẹp…Thiên nhiên Cát vẫn còn giữ được nét hoang sơ rất có tiềm năng phát triển du lịch sinh thái. Do vậy, em đã chọn đề tài:” Phát triển du lịch sinh thái Cát theo hướng phát triển du lịch bền vững” , với mong muốn có thể hiểu về du lịch sinh thái, và nghiên cứu về tình hình phát triển du lịch sinh thái tại Cát Bà, từ đó đưa ra một số Chuyên đề thực tập kiến nghị những giải pháp nhằm phát triển du lịch sinh thái tại Cát theo hướng phát triển bền vững. Mục tiêu của đề tài – Nghiên cứu tổng quan về du lịch sinh thái, mối quan hệ giữa du lịch sinh tháiphát triển du lịch bền vững. – Đánh giá thực trạng phát triển du lịch sinh thái tại Cát Bà. – Đưa ra những giải phát nhằm phát triển du lịch sinh thái tại Cát theo hướng phát triển bền vững. Nhiệm vụ của đề tài – Tìm kiếm và thu thập thông tin chính xác và đầy đủ để phục vụ cho việc trình bày và làm sáng tỏ đề tài. – Sau khi thu thập thông tin đầy đủ, sẽ tiến hành tổng hợp và phân tích tài liệu để hoàn thành đề tài. Đối tượng nghiên cứu – Điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế-xã hội của Cát Bà. – Các tiềm năng phát triển du lịch sinh thái tại Cát Bà, từ đó để khai thác hợp lý và ứng dụng vào việc phát triển du lịch sinh thái đây. Phạm vi nghiên cứu Khu du lịch Cát Bà- Cát Hải- Hải Phòng. Phương pháp nghiên cứu – Thu thập thông tin, tài liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội, đặc biệt là nét đặc trưng của khu du lịch sinh thái Cát qua sách, báo, internet… – Phương pháp nhiên cứu phân tích,tổng hợp. – Phương pháp thực địa. Chuyên đề thực tập NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁIDU LỊCH BỀN VỮNG 1.1. Du lịch sinh thái 1.1.1. Khái niệm về du lịch sinh thái Du lịch sinh thái xuất hiện như một khái niệm vào cuối thập niên 1960. Sau này có rất nhiều định nghĩa về du lịch sinh thái. Du lịch sinh tháidu lịch mà chủ yếu là đi đến những vùng thiên nhiên tương đối chưa ai đụng tới hay chưa bị ô nhiễm với mục đích cụ thể là nghiên cứu, ngưỡng mộ, và thưởng thức phong cảnh cùng với các loại thực vật và động vật hoang dã của nó, cũng như bất cứ biểu hiện về văn hóa nào (cả quá khứ lẫn hiện tại) được tìm thấy trong các vùng này…Điểm chính yếu là người đi du lịch sinh thái có cơ hội đắm mình vào thiên nhiên theo một cách thức thường không có sẵn trong môi trường đô thị. Du lịch sinh thái là một cuộc du lịch có trách nhiệm đến những vùng thiên nhiên mà bảo tồn môi trường và duy trì bền vững phúc lợi của nhân dân địa phương (Hội Du lịch Sinh thái) Du lịch sinh thái là một trải nghiệm du lịch thiên nhiên mang lại thông tin bổ ích mà góp phần vào việc bảo tồn hệ thống sinh thái, trong khi đó tôn trọng tình trạng nguyên vẹn của các cộng đồng chủ nhà (Hội đồng Tư vấn Môi trường Canada). Du lịch sinh thái là đi du lịch đến những vùng hoang sơ, dễ bị hư hại và thường được bảo vệ mà cố gắng gây ra tác động rất thấp và (thường) có qui mô nhỏ. Nó giúp giáo dục người đi du lịch; cung cấp nguồn quỹ cho việc bảo tồn; trực tiếp làm lợi cho việc phát triển kinh tế và việc trao quyền về chính trị của các cộng đồng địa phương; và thúc đẩy sự tôn trọng đối với các nền văn hóa khác nhau và các quyền của con người (Martha Honey – giám đốc Chương trình An ninh và Hòa bình tại Viện Nghiên cứu về Chính sách) 1.1.2. Các đặc trưng của du lịch sinh thái 1.1.2.1. Tài nguyên tự nhiên trong du lịch sinh thái là những tài nguyên còn tương đối nguyên sơ Chuyên đề thực tập – Môi trường tự nhiên trong du lịch sing thái còn tương đối nguyên sơ, chưa chịu hoặc ít bị xâm hại bởi bàn tay con người – Văn hoá bản địa : là các di tích kiển trúc, các giá trị văn hoá tồn tại dướ dạng vật thể, phi vật thể được tạo ra bởi chính điều kiện tự nhiên và lịch sử phát triển của nơi điểm đến. – Mỗi khu vực bảo tồn tự nhiên phải đảm bảo tính đa dạng sinh học,có tính đặc thù để mỗi điểm đến tham quan có sự hấp dẫn riêng đối với khách du lịch. 1.1.2.2. Các sản phẩm du lịch sinh thái hướng tới bảo tồn giá trị tự nhiên, văn hoá, xã họi nơi điểm đến – Bảo tồn các giá trị tự nhiên của hệ sinh thái vốn có: mục đích của du lịch sinh thái là giúp khách du lịch hiểu biết về thiên nhiên, về hệ sinh thái tự nhiên. Từ đó đánh giá lại những hành động của mình đối với thiên nhiên,tìm cách sống hoà hợp với thiên nhiên – Bảo tồn các giá trị văn hoá của cộng đồng dân cư địa phương – Bảo tồn và nâng cao các giá trị xã hội của dân cư địa phương 1.1.2.3. Du lịch sinh thái trực tiếp mang lại phúc lợi cho cộng đồng dân cư địa phương – Đóng góp về vật chất: xoá đối giảm nghèo, tạo công ăn việc làm cho dân cư địa phương, giúp tăng thu nhập. – Đóng góp về tinh thần: người dân địa phương được tôn trọng không bị phân biệt về văn hoá địa phương, giọng nói ngôn ngữ , phong tục tập quán…, được thừa nhận làm chủ đối với thiên nhiên. – Đóng góp nâng cao về mặt nhận thức: dân cư địa phương thấy được tầm quan trọng của du lịch sinh thái từ đó có ý thức bảo vệ tài nguyên tự nhiên và giữ gìn bản sắc văn hoá của địa phương. 1.1.3. Các yêu cầu cơ bản để phát triển du lịch sinh thái Yêu cầu đầu tiên để có thể tổ chức được du lịch sinh thái là sự tồn tại của các hệ sinh thái tự nhiên điển hình với tính đa dạng sinh thái cao. Sinh thái tự nhiên được hiểu là sự cộng sinh của các đ i ều kiện địa lý, khí hậu và động vật và thực vật, bao gồm: sinh thái tự nhiên (natural ecology), sinh thái động vật (animal ecology), sinh thái thực vật (plant ecology), sinh thái nông nghiệp (agri-cultural ecology), sinh thái khí hậu (ecoclimate) và sinh thái nhân văn (human ecology). Đa dạng sinh thái là một bộ phận và là một dạng thứ cấp của đa dạng sinh học, ngoài thứ cấp của đa dạng di truyền và đa dạng loài. Đa dạng sinh thái thể hiện sự khác nhau của các kiểu cộng sinh tạo nên các cơ thể sống, mối liên hệ giữa chúng với nhau và với các yếu tố vô sinh có ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp lên sự sống như : đất, nước, địa hình, khí hậu . đó là các hệ sinh thái (eco-systems) Chuyên đề thực tập và các nơi trú ngụ, sinh sống của một hoặc nhiều loài sinh vật (habitats) (Theo công ước đa dạng sinh học được thông qua tại Hộ nghị thượng đỉnh Rio de Jannero về môi trường). Như vậy có thể nói du lịch sinh thái là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên (natural – based tourism) (gọi tắt là du lịch thiên nhiên), chỉ có thể tồn tại và phát triển những nơi có các hệ sinh thái điển hình với tính đa dạng sinh thái cao nói riêng và tính đa dạng sinh học cao nói chung. Điều này giải thích vì sao hoạt động du lịch sinh thái thường chỉ phát triển các khu bảo tồn thiên nhiên, đặc biệt các vườn quốc gia, nơi còn tồn tại những khu rừng với tính đa dạng sinh học cao và cuộc sống hoang dã. Tuy nhiên điều này không phủ nhận sự tồn tại của một số loại hình du lịch sinh thái phát triển những vùng nông thôn hoặc các trang trại điển hình. Yêu cầu thứ hai có liên quan đến những nguyên tắc cơ bản của du lịch sinh thái 2 điểm: – Để đảm bảo tính giáo dục, nâng cao được sự hiểu biết cho khách du lịch sinh thái, người hướng dẫn ngoài kiến thức ngoại ngữ tốt còn phải là người am hiểu các đặc điểm sinh thái tự nhiên và văn hoá cộng đồng địa phương. Điều này rất quan trọng và có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả của hoạt động du lịch sinh thái, khác với những loại hình du lịch tự nhiên khác khi du khách có thể tự mình tìm hiểu hoặc yêu cầu không cao về sự hiểu biết này người hướng dẫn viên.Trong nhiều trường hợp, cần thiết phải cộng tác với người dân địa phương để có được những hiểu biết tốt nhất, lúc đó người hướng dẫn viên chỉ đóng vai trò là một người phiên dịch. – Hoạt động du lịch sinh thái đòi hỏi phải có được người điều hành nguyên tắc. Các nhà điều hành du lịch truyền thống thường chỉ quan tâm đến lợi nhuận và không có cam kết gì đối với việc bảo tồn hoặc quản lý các khu tự nhiên, họ chỉ đơn giản tạo cho khách du lịch một cơ hội để biết được những giá trị tự nhiên và văn hoá trước khi những cơ hội này thay đổi hoặc mất đi. Ngược lại, các nhà điều hành du lịch sinh thái phải có được sự cộng tác với các nhà quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và cộng đồng địa phương nhằm mục đích đóng góp vào việc bảo vệ một cách lâu dài các giá trị tự nhiên và văn hoá khu vực, cải thiện cuộc sống, nâng cao sự hiểu biết chung giữa người dân địa phương và du khách. Yêu cầu thứ ba nhằm hạn chế tới mức tối đa các tác động có thể của hoạt động du lịch sinh thái đến tự nhiên và môi trường, theo đó du lịch sinh thái cần Chuyên đề thực tập được tổ chức với sự tuân thủ chặt chẽ các quy định về “sức chứa”. Khái niệm “ sức chứa” được hiểu từ bốn khía cạnh: vật lý, sinh học, tâm lý và xã hội. Tất cả những khía cạnh này có liên quan tới lượng khách đến một địa điểm vào cùng một thời điểm. Đứng trên góc độ vật lý, sức chứa đây được hiểu là số lượng tối đa khách du lịch mà khu vực có thể tiếp nhận. Điều này liên quan đến những tiêu chuẩn về không gian đối với mỗi du khách cũng như nhu cầu sinh hoạt của họ. Đứng góc độ xã hội, sức chứa là giới hạn về lượng du khách mà tại đó bắt đầu xuất hiện những tác động tiêu cực của các hoạt động du lịch đến đời sống, văn hoá, kinh tế-xã hội của khu vực. Cuộc sống bình thường của cộng đồng địa phương có cảm giác bị phá vỡ, xâm nhập. Đứng góc độ quản lý, sức chứa được hiểu là lượng khách tối đa mà khu du lịch có khả năng phục vụ. Nếu lượng khách vượt quá giới hạn này thì năng lực quản lý của khu du lịch sẽ không đáp ứng được yêu cầu của khách, làm mất khả năng quản lý và kiểm soát hoạt động của khách, kết quả là sẽ làm ảnh hưởng đến môi trường và xã hội. Do khái niệm sức chứa bao gồm cả định tính và định lượng, như vậy khó có thể xác định một con số chính xác cho mỗi khu vực. Mặt khác, mỗi khu vực khác nhau sẽ có chỉ số sức chứa khác nhau. Các chỉ số này chỉ có thể xác định một cách tương đối bằng phương pháp thực nghiệm. Một điểm cần phải lưu ý trong quá trình xác định sức chứa là “quan niệm” về sự đông đúc của các nhà nghiên cứu có sự khác nhau, đặc biệt trong những điều kiện phát triển xã hội khác nhau. Rõ ràng để đáp ứng yêu cầu này, cần phải tiến hành nghiên cứu sức chứa của các địa điểm cụ thể để căn cứ vào đó mà có các quyết định về quản lý. Điều này cần được tiến hành đối với các nhóm đối tượng khách/thị trường khác nhau, phù hợp tâm lý và quan niệm của họ. Du lịch sinh thái không thể đáp ứng được các nhu cầu của tất cả cũng như mọi loại khách. Yêu cầu thứ tư là thoả mãn nhu cầu nâng cao kiến thức và hiểu biết của khách du lịch. Việc thoả mãn mong muốn này của khách du lịch sinh thái về những kinh nghiệm, hiểu biết mới đối với tự nhiên, văn hoá bản địa thường là rất khó khăn, song lại là yêu cầu cần thiết đối với sự tồn tại lâu dài của ngành du lịch sinh thái. Vì vậy, những dịch vụ để làm hài lòng du khách có vị trí quan trọng chỉ đứng sau công tác bảo tồn những gì mà họ quan tâm. Chuyên đề thực tập Du lịch sinh thái bền vững đóng góp tích cực cho sự phát triển bền vững. Điều đó không có nghĩa là luôn có sự tăng trưởng liên tục về du lịch. Đây là điểm khác biệt cần nhấn mạnh trong thời điểm mà Việt nam bắt đầu lo lắng về tốc độ tăng trưởng của du lịch . Từ những yêu cầu trên đây của du lịch sinh thái ta rút ra những nguyên tắc cơ bản để phát triển du lịch sinh thái: – Phải phù hợp với những nguyên tắc tích cực về môi trường, tăng cường và khuyến khích trách nhiêm đạo đức đối với môi trường tự nhiên. – Không được làm tổn hại đến tài nguyên, môi trường, những nguyên tắc về môi trường không những chỉ áp dụng cho những nguồn tài nguyên bên ngoài (tự nhiên và văn hoá) nhằm thu hút khách mà còn bên trong của nó. – Tập trung vào các giá trị bên trong hơn là các giá trị bên ngoài và thúc đẩy sự công nhận các giá trị này . – Các nguyên tắc về môi trường và sinh thái cần phải đặt lên hàng đầu do đó mỗi người khách du lịch sinh thái sẽ phải chấp nhận tự nhiên theo đúng nghĩa của nó và chấp nhận sự hạn chế của nó hơn là làm biến đổi môi trường cho sự thuận tiện cá nhân. – Phải đảm bảo lợi ích lâu dài đối với tài nguyên, đối với địa phương và đối với ngành (lợi ích về bảo tồn hoặc lợi ích về kinh tế, văn hoá, xã hội hay khoa học). – Phải đưa ra những kinh nghiệm khi tiếp xúc với môi trường tự nhiên, đó là những kinh nghiệm được hoà đồng làm tăng sự hiểu biết hơn là đi tìm cái lạ cảm giác mạnh hay mục đích tăng cường thể trạng cơ thể. – đây những kinh nghiệm có tác động lớn và có nhận thức cao nên đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ càng của cả người hướng dẫn và các thành viên tham gia . – Cần có sự đào tạo đối với tất cả các ban nghành chức năng: địa phương, chính quyền, tổ chức đoàn thể, hãng lữ hành và các khách du lịch (trước, trong và sau chuyến đi). – Thành công đó phải dựa vào sự tham gia của địa phương, tăng cường sự hiểu biết và sự phối hợp với các ban ngành chức năng. Chuyên đề thực tập – Các nguyên tắc về đạo đức, cách ứng sử và nguyên tắc thực hiện là rất quan trọng. Nó đòi hỏi cơ quan giám sát của ngành phải đưa ra các nguyên tắc và các tiêu chuẩn được chấp nhận và giám sát toàn bộ các hoạt động. – Là một hoạt động mang tính chất quốc tế, cần phải thiết lập một khuôn khổ quốc tế cho ngành. 1.2. Mối quan hệ giữa du lịch sinh thái và các loại hình du lịch khác 1.2.1. Du lịch dựa vào thiên nhiên Du lịch dựa vào thiên nhiên là loại hình du lịch là loại hình du lịch sử dụng tài nguyên thiên nhiên, với động cơ chính của khách du lịch là quan sát và cảm thụ thiên nhiên. Như vậy, du lịch dựa vào thiên nhiên mang một ý nghĩa rộng bao chùm cả du lịch sinh thái và các loại hình du lịch khác. Du lịch dựa vào thiên nhiên không mang tính trách nhiệm cao đối với môi trường và cộng đồng cư dân địa phương. Nhưng du lịch sinh thái đòi hỏi tính trách nhiệm cao đối với môi trường và cộng đồng dân cư địa phương. Du lịch dựa vào thiên nhiên có các loại hình du lịch như: du lịch nghỉ dưỡng, tham quan, mạo hiểm. Du lịch mạo hiểm (theo tổ chức du lịch mạo hiểm tỉnh Quebec Canada): là hoạt động thể chất ngoài trởi hoặc các hoạt động kết hợp diễn ra tại một khu vực thiên nhiên nhất định mà nó yêu cầu những phương tiện vận tải khác với truyền thống, có thể là động cư hay không phải động cơ. Những hoạt động này mang tính mạo hiểm mức độ rủ ro thì tuỳ thuộc vào điều kiện môi trường, bản chất của hoạt động và các phương tiện vận tải được sử dụng. Du lịch mạo hiểm không chú ý đến việc tìm hiểu về thiên nhiên, hệ sinh thái mà khai thác tài nguyên tự nhiên nhằm mục đích mạo hiểm,chứng tỏ khả năng chinh phục thiên nhiên của con người. Còn du lịch sinh thái đi tìm sự thoả thuận cùng chung sống hài hoà với thiên nhiên. 1.2.2. Du lịch dựa vào văn hóa Du lịch văn hoá là loại hình du lịch rất phổ biến, tập trung mối quan tâm tới một quốc gia hay một vùng đất chủ yếu dưới góc độ văn hoá. Du lịch văn hoá bao gồm các tuyến du lịch đến những nơi có bề dày lịch sử hoặc những nơi có các công trình văn hoá như các viện bảo tàng, nhà hát…Ngoài ra cũng có hình thức đưa khách đến các vùng hẻo lánh để dự các lễ hội ngoài trời, đi thăm các nơi của những doanh Chuyên đề thực tập nhân văn hoá, những công trình kiến trúc hay những thắng cảnh thiên nhiên được biết đến và ca ngợi qua văn chương hội hoạ. Du lịch văn hoá và du lịch sinh thái đều có mục đích chiêm ngưỡng tìm hiểu, nghiên cứu các nền văn hoá bản địa độc đáo từ đó làm khơi daỵ tình yêu và trách nhiệm để bảo tồn, giữu gìn và phát huy giá trị bản sắc văn hoá do con người sáng tạo ra. 1.2.3. Du lịch công vụ Du lịch công vụ là loại hình du lịch mà khách du lịch kết hợp hai mục đích là công việc và đi du lịch. Mục đích của khách du lịch trong du lịch công vụ chỉ là chiêm ngưỡng, tìm hiểu tài nguyên thiên nhiên, không mang tính trách nhiệm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bản sắc văn hoá bản địa như du lịch sinh thái. 1.2.4. Mối quan hệ giữa du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng và du lịch bền vững Chúng ta thấy rằng giữa du lịch sinh tháidu lịch bền vững cũng như du lịch cộng đồng có những điểm tương đồng về điều kiện, nguyên tắc cũng như mục tiêu. Du lịch sinh thái là một loại hình du lịch tham quan, thám hiểm của khách du lịch đến các vùng thiên nhiên còn hoang dã đặc sắc để chiêm ngưỡng, tìm hiểu, nghiên cứu các hệ sinh thái, các nền văn hoá bản địa độc đáo từ đó làm khơi dạy tình yêu và trách nhiệm để bảo tồn, giữ gìn và phát triển môi trường tự nhiên và cộng đồng dân cư địa phương trong mỗi du khách. Du lịch sinh thái nhấn mạnh và đề cao các yếu tố giáo dục, nâng cao ý thức con người trong vấn đề bảo vệ, bảo tồn thiên nhiên, giữ gìn và phát huy giá trị bản sắc văn hoá do con người sáng tạo. Trong loại hình du lịch sinh thái không nhất thiết phải có sự tham gia của cộng đồng và dân cư địa phương. Du lịch bền vững là hoạt động du lịch đáp ứng nhu cầu hiện tại của khách du lịch và của chính khu du lịch đồng thời bảo vệ thúc đẩy cơ hội phát triển cho tương lai. Du lịch bền vững hướng đến việc quản lý các nguồn tài nguyên sao cho các nhu cầu kinh tế-xã hội đều được thoả mãn trong khi vẫn duy trì được bản sắc văn hoá, các đặc điểm sinh thái, sự đa dạng sinh học và hệ thống các giải pháp hỗ trợ. Du lịch bền vững xác định vai trò trung tâm của cộng đồng trong việc lập kế hoạch và ra quyết định phát triển du lịch. Du lịch bền vững là phục vụ cho mục đích phát triển con người, cho nên du lịch bền vững không chỉ tập trung vào mục đích kinh tế […]… MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH BỀN VỮNG TẠI CÁT 3.1 Định hướng phát triển du lịch theo hướng bền vững tại Cát Quần đảo Cát chính thức được tổ chức Văn hoá-Khoa học-Giáo dục của Liên Hợp Quốc(UNESCO) công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới từ ngày 19/12/2004 Cát là điểm du lịch độc đáo của Hải Phòng, thu hút nhiều khách du lịch trong và ngoài… tạo sản phẩm du lịch sinh thái 2.3.2.1 Sở du lịch Hải Phòng Sở du lịch Hải Phòng đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho Cát phát triển du lịch như thu hút đầu tư vào phát triển du lịch; đầu tư vào phát triển cơ sở hạ tầng đáp ứng nhu cầu của khách du lịch; triển khai các dự án bảo vệ môi trường, bảo tồn các loài động vật quý hiếm; thành lập quỹ Phát triển bền vững Khu dự trữ sinh quyển Cát 2.3.2.2… chất và tinh thần từ phát triển du lịch Như vậy, ta thấy du lịch sinh thái, du lịch bền vữngdu lịch cộng đồng đều coi trọng yếu tố tự nhiên, môi trường Nhưng trong du lịch sinh thái không nhất thiết phải có sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương, còn trong du lịch bền vữngdu lịch cộng đồng thì coi trọng yếu tố con người 1.3 Các điều kiện để du lịch Bản thân các phương tiện truyền thông này chưa có những chuyên đề thường xuyên về du lịch Cát điều đó thể hiện chưa có sự hợp tác chặt chẽ của các nhà xúc tiến đối với phương tiện truyền thông 2.3 Thực trạng phát triển du lịch bền vững tại Cát 2.3.1 Đóng góp của du lịch vào sự phát triển kinh tế – xã hội Những năm qua, Cát đã trở thành… ngành du lịch và cộng đồng địa phương nhưng không ảnh hưởng tới khả năng đáp ứng của thế hệ mai sau ” (Theo định nghĩa của Antonio Machiado) Như vậy phát triển du lịch bền vững là việc phát triển về mặt kinh tế nhưng vẫn phải đảm bảo việc duy trì được sự toàn vẹn về môi trường tự nhiên và văn hoá 1.4.2 Nguyên tắc phát triển du lịch bền vững Theo định nghĩa trên thì muốn phát triển du lịch bền vững. .. các giải pháp hỗ trợ Du lịch bền vững xác định vai trò trung tâm của cộng đồng trong việc lập kế hoạch và ra các quyết định vững phục vụ cho mục đích phát triển con người cho nên du lịch bền vững không chỉ tập trung vào mục đích kinh tế mà còn nhằm vào phát triển xã hội bao gồm giáo dục, y tế, môi trường và vấn đề tôn giáo Du lịch sinh tháidu lịch có trách nhiệm với… tuyến đường du lịch sinh thái theo hướng bền vững với cách làm thông minh để vẻ đẹp thiên nhiên Cát trường tồn và giá trị tăng lên theo thời gian Mặt khác, tiếp tục đầu tư, cải tạo các điều kiện cơ sở hạ tầng phục vụ cho phát triển các tuyến du lịch sinh thái, đáp ứng nhu cầu tham quan của du khách, công tác bảo tồn và nghiên cứu khoa học trong nước cũng như quốc tế du lịch sinh thái không nhất thiết phải có sự tham gia của cộng đồng và dân cư địa phương Chuyên đề thực tập Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI CÁT 2.1 Khái quát về Cát Hải phòng có nhiều cảnh quan thiên nhiên, có biển, có đảo, có vườn quốc gia… đã tạo cho thành phố Hoa phượng đỏ tiềm năng lớn để là một khu du lịch nổi tiếng… du lịch là dựa vào tài nguyên thiên nhiên, nhân văn để hoạt động Có khai thác hiệu quả và hợp lý nó thì du lịch mới phát triển lâu bền được Từ khái niệm phát triển bền vững chung cho mọi ngành ta có thể suy ra được khái niệm phát triển du lịch bền vữngPhát triển du lịch bền vững là hoạt động khai thác có quản lý các giá trị tự nhiên và nhân văn nhằm đáp ứng được nhu cầu hiện tại của khách du lịch, … thấy phát triển bền vững không chỉ bao gồm sự phát triển bền vững về mặt kinh tế mà nó còn phải dựa vào sự bền vững về mặt xã hội và môi trường Như vậy phát triển bền vững đem lại cho con người cuộc sống tốt đẹp về mọi mặt Chính vì thế mà phát triển bền vững đã trở thành xu thế của thời đại ngày nay Nó được áp dụng trong mọi ngành, đặc biệt vấn đề này đối với du lịch lại càng cần thiết hơn cả Bởi vì du . trạng phát triển du lịch sinh thái tại Cát Bà. – Đưa ra những giải phát nhằm phát triển du lịch sinh thái tại Cát Bà theo hướng phát triển bền vững. Nhiệm. 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI VÀ DU LỊCH BỀN VỮNG 1.1. Du lịch sinh thái 1.1.1. Khái niệm về du lịch sinh thái Du lịch sinh thái xuất

Xem thêm :  Chiang Mai, Thailand’s gateway to the north, struggles in absence of international tourists

Nằm ở khu vực Đông Nam Á, nơi có các hoạt động du lịch sôi nổi. Việt Nam có những lợi thế về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên phong phú, kinh tế và giao lưu quốc tế giúp cho sự phát triển du lịch phù hợp với xu thế của thế giới và khu vực. Chuyên đề thực tập MỤC LỤC NỘI DUNG .4 Chương 1: Cơ sỞ lý luẬn vỀvà.4 THỰC trẠng18 2.3.3. Thực trạng về các yếu tố cấu thành sản phẩm27 2.3.4.Thị trường khách.32 2.4. Phân tích điểm mạnh, điểm yếu của.33 Chương 3 36 MỘt sỐ giẢi pháptẠi.36 TÀI LIỆU THAM KHẢO .52 NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊNDẪN .53 NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN .54 Chuyên đề thực tập MỞ ĐẦU Những năm gần đây, đã có nhiều bướctrong lĩnh vựclịch,và bảo tồn trên thế giới. Quan trọng nhất là việckhông chỉ tồn tại như một khái niệm hay một đề tài để suy ngẫm. Ngược lại, nó đã trở thành một thực tế trên toàn cầu.một số quốc gia, nó không được quan tâmtriển. Songnhiều nước khác, thì vấn đềlại rất được chính phủ quan tâm, thường xuất hiện trên các bản tin chính hay các quảng cáo thương mại công cộng.mang lại nhiều lợi ích cụ thể trong lĩnh vực bảo tồn vàvững.Costa Rica và Velezuela, một số chủ trang trại chăn nuôi đã bảo vệ nhiều diện tích rừng nhiệt đới quan trọng, và do bảo vệ rừng mà họ đã biến những nơi đó thành điểmhoạt động tốt, giúp bảo vệ các hệtự nhiên đồng thời tạo ra công ăn việc làm mới cho dân địa phương. Tại Nam Phi,trở thành một biện pháp hiệu quả để nâng cao mức sống của người da đennông thôn, những người da đen này ngày càng tham gia nhiều vào các hoạt độngthái. Chính phủLan cũng tích cực khuyến khíchvà gần đây đó thiết lập một sốThiên nhiên vàcủa quốc gia để tăng cường công tác bảo vệ thiên nhiên vàquốc gia. Nằmkhu vực Đông Nam Á, nơi có các hoạt độngsôi nổi. Việt Nam có những lợi thế về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên phong phú, kinh tế và giao lưu quốc tế giúp cho sựphù hợp với xu thế của thế giới và khu vực. Tại Việt Nam,đang dần dần trở thành ngành kinh tế quan trọng và trong tương lai gần hoạt độngđược coi là con đường hiệu quả nhất để thu ngoại tệ và tăng thu nhập cho đất nước.- Hải Phòng, còn gọi là đảo ngọc, được UNESCO công nhận là khutrữquyển thế giới.được thiên nhiên ban tặng với rừng nguyênnhiệt đới có nhiều động thực vật quý hiếm, nhiều hang động, bãi tắm đẹp…Thiên nhiênvẫn còn giữ được nét hoang sơ rất có tiềm năngthái. Do vậy, em đã chọn đề tài:”vững” , với mong muốn có thể hiểu vềthái, và nghiên cứu về tình hìnhtạiBà, từ đó đưa ra một số Chuyên đề thực tập kiến nghị những giải pháp nhằmtạivững. Mục tiêu của đề tài – Nghiên cứu tổng quan vềthái, mối quan hệ giữavàvững. – Đánh giá thực trạngtạiBà. – Đưa ra những giảinhằmtạivững. Nhiệm vụ của đề tài – Tìm kiếm và thu thập thông tin chính xác và đầyđể phục vụ cho việc trình bày và làm sáng tỏ đề tài. – Sau khi thu thập thông tin đầy đủ, sẽ tiến hành tổng hợp và phân tích tài liệu để hoàn thành đề tài. Đối tượng nghiên cứu – Điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế-xã hội củaBà. – Các tiềm năngtạiBà, từ đó để khai thác hợp lý và ứng dụng vào việcđây. Phạm vi nghiên cứu KhuBà-Hải- Hải Phòng. Phương pháp nghiên cứu – Thu thập thông tin, tài liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội, đặc biệt là nét đặc trưng của khuqua sách, báo, internet… – Phương pháp nhiên cứu phân tích,tổng hợp. – Phương pháp thực địa. Chuyên đề thực tập NỘI DUNG Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀVÀ1.1.1.1.1. Khái niệm vềxuất hiện như một khái niệm vào cuối thập niên 1960. Sau này có rất nhiều định nghĩa vềthái.làmà chủ yếu là đi đến nhữngthiên nhiên tương đối chưa ai đụng tới hay chưa bịnhiễm với mục đích cụ thể là nghiên cứu, ngưỡng mộ, và thưởng thức phong cảnh cùng với các loại thực vật và động vật hoang dã của nó, cũng như bất cứ biểu hiện về văn hóa nào (cả quá khứ lẫn hiện tại) được tìm thấy trong cácnày…Điểm chính yếu là người đicó cơ hội đắm mình vào thiên nhiênmột cách thức thường không có sẵn trong môi trường đô thị.là một cuộccó trách nhiệm đến nhữngthiên nhiên mà bảo tồn môi trường và duy trìphúc lợi của nhân dân địa phương (Hộithái)là một trải nghiệmthiên nhiên mang lại thông tin bổ ích mà góp phần vào việc bảo tồn hệ thốngthái, trong khi đó tôn trọng tình trạng nguyên vẹn của các cộng đồng chủ nhà (Hội đồng Tư vấn Môi trường Canada).là điđến nhữnghoang sơ, dễ bị hư hại và thường được bảo vệ mà cố gắng gây ra tác động rất thấp và (thường) có qui mô nhỏ. Nó giúp giáo dục người đilịch; cung cấp nguồn quỹ cho việc bảo tồn; trực tiếp làm lợi cho việckinh tế và việc trao quyền về chính trị của các cộng đồng địa phương; và thúc đẩy sự tôn trọng đối với các nền văn hóa khác nhau và các quyền của con người (Martha Honey – giám đốc Chương trình An ninh và Hòa bình tại Viện Nghiên cứu về Chính sách) 1.1.2. Các đặc trưng của1.1.2.1. Tài nguyên tự nhiên tronglà những tài nguyên còn tương đối nguyên sơ Chuyên đề thực tập – Môi trường tự nhiên trongsingcòn tương đối nguyên sơ, chưa chịu hoặc ít bị xâm hại bởi bàn tay con người – Văn hoá bản địa : là các di tích kiển trúc, các giá trị văn hoá tồn tại dướ dạng vật thể, phi vật thể được tạo ra bởi chính điều kiện tự nhiên vàsửcủa nơi điểm đến. – Mỗi khu vực bảo tồn tự nhiên phải đảm bảo tính đa dạnghọc,có tính đặc thù để mỗi điểm đến tham quan có sự hấp dẫn riêng đối với kháchlịch. 1.1.2.2. Các sản phẩmtới bảo tồn giá trị tự nhiên, văn hoá, xã họi nơi điểm đến – Bảo tồn các giá trị tự nhiên của hệvốn có: mục đích củalà giúp kháchhiểu biết về thiên nhiên, về hệtự nhiên. Từ đó đánh giá lại những hành động của mình đối với thiên nhiên,tìm cách sống hoà hợp với thiên nhiên – Bảo tồn các giá trị văn hoá của cộng đồng dân cư địa phương – Bảo tồn và nâng cao các giá trị xã hội của dân cư địa phương 1.1.2.3.trực tiếp mang lại phúc lợi cho cộng đồng dân cư địa phương – Đóng góp về vật chất: xoá đối giảm nghèo, tạo công ăn việc làm cho dân cư địa phương, giúp tăng thu nhập. – Đóng góp về tinh thần: người dân địa phương được tôn trọng không bị phân biệt về văn hoá địa phương, giọng nói ngôn ngữ , phong tục tập quán…, được thừa nhận làm chủ đối với thiên nhiên. – Đóng góp nâng cao về mặt nhận thức: dân cư địa phương thấy được tầm quan trọng củatừ đó có ý thức bảo vệ tài nguyên tự nhiên và giữ gìn bản sắc văn hoá của địa phương. 1.1.3. Các yêu cầu cơ bản đểYêu cầu đầu tiên để có thể tổ chức đượclà sự tồn tại của các hệtự nhiên điển hình với tính đa dạngcao.tự nhiên được hiểu là sự cộngcủa các đ i ều kiện địa lý, khí hậu và động vật và thực vật, bao gồm:tự nhiên (natural ecology),động vật (animal ecology),thực vật (plant ecology),nông nghiệp (agri-cultural ecology),khí hậu (ecoclimate) vànhân văn (human ecology). Đa dạnglà một bộ phận và là một dạng thứ cấp của đa dạnghọc, ngoài thứ cấp của đa dạng di truyền và đa dạng loài. Đa dạngthể hiệnsự khác nhau của các kiểu cộngtạo nên các cơ thể sống, mối liên hệ giữa chúng với nhau và với các yếu tố vôcó ảnhtrực tiếp hay gián tiếp lên sự sống như : đất, nước, địa hình, khí hậu . đó là các hệ(eco-systems) Chuyên đề thực tập và các nơi trú ngụ,sống của một hoặc nhiều loàivật (habitats) (Theo công ước đa dạnghọc được thông qua tại Hộ nghị thượng đỉnh Rio de Jannero về môi trường). Như vậy có thể nóilà một loại hìnhdựa vào thiên nhiên (natural – based tourism) (gọi tắt làthiên nhiên), chỉ có thể tồn tại vànhững nơi có các hệđiển hình với tính đa dạngcao nói riêng và tính đa dạnghọc cao nói chung. Điều này giải thích vì sao hoạt độngthường chỉcác khu bảo tồn thiên nhiên, đặc biệtcác vườn quốc gia, nơi còn tồn tại những khu rừng với tính đa dạnghọc cao và cuộc sống hoang dã. Tuy nhiên điều này không phủ nhận sự tồn tại của một số loại hìnhnhữngnông thôn hoặc các trang trại điển hình. Yêu cầu thứ hai có liên quan đến những nguyên tắc cơ bản của2 điểm: – Để đảm bảo tính giáo dục, nâng cao được sự hiểu biết cho kháchthái, ngườidẫn ngoài kiến thức ngoại ngữ tốt còn phải là người am hiểu các đặc điểmtự nhiên và văn hoá cộng đồng địa phương. Điều này rất quan trọng và có ảnhrất lớn đến hiệu quả của hoạt độngthái, khác với những loại hìnhtự nhiên khác khikhách có thể tự mình tìm hiểu hoặc yêu cầu không cao về sự hiểu biết nàyngườidẫn viên.Trong nhiều trường hợp, cần thiết phải cộng tác với người dân địa phương để có được những hiểu biết tốt nhất, lúc đó ngườidẫn viên chỉ đóng vai trò là một người phiên dịch. – Hoạt độngđòi hỏi phải có được người điều hành nguyên tắc. Các nhà điều hànhtruyền thống thường chỉ quan tâm đến lợi nhuận và không có cam kết gì đối với việc bảo tồn hoặc quản lý các khu tự nhiên, họ chỉ đơn giản tạo cho kháchmột cơ hội để biết được những giá trị tự nhiên và văn hoá trước khi những cơ hội này thay đổi hoặc mất đi. Ngược lại, các nhà điều hànhphải có được sự cộng tác với các nhà quản lý các khu bảo tồn thiên nhiên và cộng đồng địa phương nhằm mục đích đóng góp vào việc bảo vệ một cách lâu dài các giá trị tự nhiên và văn hoá khu vực, cải thiện cuộc sống, nâng cao sự hiểu biết chung giữa người dân địa phương vàkhách. Yêu cầu thứnhằm hạn chế tới mức tối đa các tác động có thể của hoạt độngđến tự nhiên và môi trường,đócần Chuyên đề thực tập được tổ chức với sự tuân thủ chặt chẽ các quy định về “sức chứa”. Khái niệm “ sức chứa” được hiểu từ bốn khía cạnh: vật lý,học, tâm lý và xã hội. Tất cả những khía cạnh này có liên quan tới lượng khách đến một địa điểm vào cùng một thời điểm. Đứng trên góc độ vật lý, sức chứađây được hiểu là số lượng tối đa kháchmà khu vực có thể tiếp nhận. Điều này liên quan đến những tiêu chuẩn về không gian đối với mỗikhách cũng như nhu cầuhoạt của họ. Đứnggóc độ xã hội, sức chứa là giới hạn về lượngkhách mà tại đó bắt đầu xuất hiện những tác động tiêu cực của các hoạt độngđến đời sống, văn hoá, kinh tế-xã hội của khu vực. Cuộc sống bình thường của cộng đồng địa phương có cảm giác bị phá vỡ, xâm nhập. Đứnggóc độ quản lý, sức chứa được hiểu là lượng khách tối đa mà khucó khả năng phục vụ. Nếu lượng khách vượt quá giới hạn này thì năng lực quản lý của khusẽ không đáp ứng được yêu cầu của khách, làm mất khả năng quản lý và kiểm soát hoạt động của khách, kết quả là sẽ làm ảnhđến môi trường và xã hội. Do khái niệm sức chứa bao gồm cả định tính và định lượng, như vậy khó có thể xác định một con số chính xác cho mỗi khu vực. Mặt khác, mỗi khu vực khác nhau sẽ có chỉ số sức chứa khác nhau. Các chỉ số này chỉ có thể xác định một cách tương đối bằng phương pháp thực nghiệm. Một điểm cần phải lưu ý trong quá trình xác định sức chứa là “quan niệm” về sự đông đúc của các nhà nghiên cứu có sự khác nhau, đặc biệt trong những điều kiệnxã hội khác nhau. Rõ ràng để đáp ứng yêu cầu này, cần phải tiến hành nghiên cứu sức chứa của các địa điểm cụ thể để căn cứ vào đó mà có các quyết định về quản lý. Điều này cần được tiến hành đối với các nhóm đối tượng khách/thị trường khác nhau, phù hợp tâm lý và quan niệm của họ.không thể đáp ứng được các nhu cầu của tất cả cũng như mọi loại khách. Yêu cầu thứ tư là thoả mãn nhu cầu nâng cao kiến thức và hiểu biết của kháchlịch. Việc thoả mãn mong muốn này của kháchvề những kinh nghiệm, hiểu biết mới đối với tự nhiên, văn hoá bản địa thường là rất khó khăn, song lại là yêu cầu cần thiết đối với sự tồn tại lâu dài của ngànhthái. Vì vậy, những dịch vụ để làm hài lòngkhách có vị trí quan trọng chỉ đứng sau công tác bảo tồn những gì mà họ quan tâm. Chuyên đề thực tậpđóng góp tích cực cho sựvững. Điều đó không có nghĩa là luôn có sự tăng trưởng liên tục vềlịch. Đây là điểm khác biệt cần nhấn mạnh trong thời điểm mà Việt nam bắt đầu lo lắng về tốc độ tăng trưởng của. Từ những yêu cầu trên đây củata rút ra những nguyên tắc cơ bản đểthái: – Phải phù hợp với những nguyên tắc tích cực về môi trường, tăng cường và khuyến khích trách nhiêm đạo đức đối với môi trường tự nhiên. – Không được làm tổn hại đến tài nguyên, môi trường, những nguyên tắc về môi trường không những chỉ áp dụng cho những nguồn tài nguyênngoài (tự nhiên và văn hoá) nhằm thu hút khách mà còntrong của nó. – Tập trung vào các giá trịtrong hơn là các giá trịngoài và thúc đẩy sự công nhận các giá trị này . – Các nguyên tắc về môi trường vàcần phải đặt lên hàng đầu do đó mỗi người kháchsẽ phải chấp nhận tự nhiênđúng nghĩa của nó và chấp nhận sự hạn chế của nó hơn là làm biến đổi môi trường cho sự thuận tiện cá nhân. – Phải đảm bảo lợi ích lâu dài đối với tài nguyên, đối với địa phương và đối với ngành (lợi ích về bảo tồn hoặc lợi ích về kinh tế, văn hoá, xã hội hay khoa học). – Phải đưa ra những kinh nghiệm khi tiếp xúc với môi trường tự nhiên, đó là những kinh nghiệm được hoà đồng làm tăng sự hiểu biết hơn là đi tìm cái lạ cảm giác mạnh hay mục đích tăng cường thể trạng cơ thể. -đây những kinh nghiệm có tác động lớn và có nhận thức cao nên đòi hỏi sự chuẩn bị kỹ càng của cả ngườidẫn và các thành viên tham gia . – Cần có sự đào tạo đối với tất cả các ban nghành chức năng: địa phương, chính quyền, tổ chức đoàn thể, hãng lữ hành và các khách(trước, trong và sau chuyến đi). – Thành công đó phải dựa vào sự tham gia của địa phương, tăng cường sự hiểu biết và sự phối hợp với các ban ngành chức năng. Chuyên đề thực tập – Các nguyên tắc về đạo đức, cách ứng sử và nguyên tắc thực hiện là rất quan trọng. Nó đòi hỏi cơ quan giám sát của ngành phải đưa ra các nguyên tắc và các tiêu chuẩn được chấp nhận và giám sát toàn bộ các hoạt động. – Là một hoạt động mang tính chất quốc tế, cần phải thiết lập một khuôn khổ quốc tế cho ngành. 1.2. Mối quan hệ giữavà các loại hìnhkhác 1.2.1.dựa vào thiên nhiêndựa vào thiên nhiên là loại hìnhlà loại hìnhsử dụng tài nguyên thiên nhiên, với động cơ chính của kháchlà quan sát và cảm thụ thiên nhiên. Như vậy,dựa vào thiên nhiên mang một ý nghĩa rộng bao chùm cảvà các loại hìnhkhác.dựa vào thiên nhiên không mang tính trách nhiệm cao đối với môi trường và cộng đồng cư dân địa phương. Nhưngđòi hỏi tính trách nhiệm cao đối với môi trường và cộng đồng dân cư địa phương.dựa vào thiên nhiên có các loại hìnhnhư:nghỉ dưỡng, tham quan, mạo hiểm.mạo hiểm (theo tổ chứcmạo hiểm tỉnh Quebec Canada): là hoạt động thể chất ngoài trởi hoặc các hoạt động kết hợp diễn ra tại một khu vực thiên nhiên nhất định mà nó yêu cầu những phương tiện vận tải khác với truyền thống, có thể là động cư hay không phải động cơ. Những hoạt động này mang tính mạo hiểm mức độ rủ ro thì tuỳ thuộc vào điều kiện môi trường, bản chất của hoạt động và các phương tiện vận tải được sử dụng.mạo hiểm không chú ý đến việc tìm hiểu về thiên nhiên, hệmà khai thác tài nguyên tự nhiên nhằm mục đích mạo hiểm,chứng tỏ khả năng chinh phục thiên nhiên của con người. Cònđi tìm sự thoả thuận cùng chung sống hài hoà với thiên nhiên. 1.2.2.dựa vào văn hóavăn hoá là loại hìnhrất phổ biến, tập trung mối quan tâm tới một quốc gia hay mộtđất chủ yếu dưới góc độ văn hoá.văn hoá bao gồm các tuyếnđến những nơi có bề dàysử hoặc những nơi có các công trình văn hoá như các viện bảo tàng, nhà hát…Ngoài ra cũng có hình thức đưa khách đến cáchẻo lánh đểcác lễ hội ngoài trời, đi thăm các nơicủa những doanh Chuyên đề thực tập nhân văn hoá, những công trình kiến trúc hay những thắng cảnh thiên nhiên được biết đến và ca ngợi qua văn chương hội hoạ.văn hoá vàđều có mục đích chiêm ngưỡng tìm hiểu, nghiên cứu các nền văn hoá bản địa độc đáo từ đó làm khơi daỵ tình yêu và trách nhiệm để bảo tồn, giữu gìn vàhuy giá trị bản sắc văn hoá do con người sáng tạo ra. 1.2.3.công vụcông vụ là loại hìnhmà kháchkết hợp hai mục đích là công việc và đilịch. Mục đích của kháchtrongcông vụ chỉ là chiêm ngưỡng, tìm hiểu tài nguyên thiên nhiên, không mang tính trách nhiệm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bản sắc văn hoá bản địa nhưthái. 1.2.4. Mối quan hệ giữathái,cộng đồng vàChúng ta thấy rằng giữavàcũng nhưcộng đồng có những điểm tương đồng về điều kiện, nguyên tắc cũng như mục tiêu.là một loại hìnhtham quan, thám hiểm của kháchđến cácthiên nhiên còn hoang dã đặc sắc để chiêm ngưỡng, tìm hiểu, nghiên cứu các hệthái, các nền văn hoá bản địa độc đáo từ đó làm khơi dạy tình yêu và trách nhiệm để bảo tồn, giữ gìn vàmôi trường tự nhiên và cộng đồng dân cư địa phương trong mỗikhách.nhấn mạnh và đề cao các yếu tố giáo dục, nâng cao ý thức con người trong vấn đề bảo vệ, bảo tồn thiên nhiên, giữ gìn vàhuy giá trị bản sắc văn hoá do con người sáng tạo. Trong loại hìnhkhông nhất thiết phải có sự tham gia của cộng đồng và dân cư địa phương.là hoạt độngđáp ứng nhu cầu hiện tại của kháchvà của chính khuđồng thời bảo vệ thúc đẩy cơ hộicho tương lai.đến việc quản lý các nguồn tài nguyên sao cho các nhu cầu kinh tế-xã hội đều được thoả mãn trong khi vẫn duy trì được bản sắc văn hoá, các đặc điểmthái, sự đa dạnghọc và hệ thống các giải pháp hỗ trợ.xác định vai trò trung tâm của cộng đồng trong việc lập kế hoạch và ra quyết địnhlịch.là phục vụ cho mục đíchcon người, cho nênkhông chỉ tập trung vào mục đích kinh tế […]… MỘT SỐ GIẢI PHÁPTẠI3.1 ĐịnhtạiQuần đảochính thức được tổ chức Văn hoá-Khoa học-Giáo dục của Liên Hợp Quốc(UNESCO) công nhận là khutrữquyển thế giới từ ngày 19/12/2004là điểmđộc đáo của Hải Phòng, thu hút nhiều kháchtrong và ngoài… tạo sản phẩm2.3.2.1 SởHải Phòng SởHải Phòng đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi chonhư thu hút đầu tư vàolịch; đầu tư vàocơ sở hạ tầng đáp ứng nhu cầu của kháchlịch;khai cácán bảo vệ môi trường, bảo tồn các loài động vật quý hiếm; thành lập quỹKhutrữquyển2.3.2.2… chất và tinh thần từNhư vậy, ta thấythái,vàcộng đồng đều coi trọng yếu tố tự nhiên, môi trường Nhưng trongkhông nhất thiết phải có sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương, còn trongvàcộng đồng thì coi trọng yếu tố con người 1.3 Các điều kiện để phát triển du lịch sinh thái 1.3.1 Tài nguyên… chuyên đềBản thân các phương tiện truyền thông này chưa có những chuyên đề thường xuyên vềđiều đó thể hiện chưa có sự hợp tác chặt chẽ của các nhà xúc tiến đối với phương tiện truyền thông 2.3 Thực trạng phát triển du lịch sinh thái theo quan điểmtại2.3.1 Đóng góp củavào sựkinh tế – xã hội Những năm qua,đã trở thành… ngànhvà cộng đồng địa phương nhưng không ảnhtới khả năng đáp ứng của thế hệ mai sau ” (Theo định nghĩa của Antonio Machiado) Như vậylà việcvề mặt kinh tế nhưng vẫn phải đảm bảo việc duy trì được sự toàn vẹn về môi trường tự nhiên và văn hoá 1.4.2 Nguyên tắcđịnh nghĩatrên thì muốnvững. .. các giải pháp hỗ trợxác định vai trò trung tâm của cộng đồng trong việc lập kế hoạch và ra các quyết định phát triển du lịch Du lịch bềnphục vụ cho mục đíchcon người cho nênkhông chỉ tập trung vào mục đích kinh tế mà còn nhằm vàoxã hội bao gồm giáo dục, y tế, môi trường và vấn đề tôn giáolàcó trách nhiệm với… tuyến đườngvới cách làm thông minh để vẻ đẹp thiên nhiêntrường tồn và giá trị tăng lênthời gian Mặt khác, tiếp tục đầu tư, cải tạo các điều kiện cơ sở hạ tầng phục vụ chocác tuyếnthái, đáp ứng nhu cầu tham quan củakhách, công tác bảo tồn và nghiên cứu khoa học trong nước cũng như quốc tế Phát triển du lịch sinh thái là cách… Trong loại hìnhkhông nhất thiết phải có sự tham gia của cộng đồng và dân cư địa phương Chuyên đề thực tập Chương 2 THỰC TRẠNG2.1 Khái quát vềHải phòng có nhiều cảnh quan thiên nhiên, có biển, có đảo, có vườn quốc gia… đã tạo cho thành phố Hoa phượng đỏ tiềm năng lớn để phát triển du lịch sinh thái Cátlà một khunổi tiếng…là dựa vào tài nguyên thiên nhiên, nhân văn để hoạt động Có khai thác hiệu quả và hợp lý nó thìmớilâuđược Từ khái niệmchung cho mọi ngành ta có thể suy ra được khái niệmlà hoạt động khai thác có quản lý các giá trị tự nhiên và nhân văn nhằm đáp ứng được nhu cầu hiện tại của kháchlịch, … thấykhông chỉ bao gồm sựvề mặt kinh tế mà nó còn phải dựa vào sựvề mặt xã hội và môi trường Như vậyđem lại cho con người cuộc sống tốt đẹp về mọi mặt Chính vì thế màđã trở thành xu thế của thời đại ngày nay Nó được áp dụng trong mọi ngành, đặc biệt vấn đề này đối vớilại càng cần thiết hơn cả Bởi vì. trạng phát triển du lịch sinh thái tại Cát Bà. – Đưa ra những giải phát nhằm phát triển du lịch sinh thái tại Cát Bà theo hướng phát triển bền vững. Nhiệm. 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI VÀ DU LỊCH BỀN VỮNG 1.1. Du lịch sinh thái 1.1.1. Khái niệm về du lịch sinh thái Du lịch sinh thái xuất

Xem thêm :  Top 9 Loại Cá Mập Cảnh Phổ Biến Nhất Thế Giới
Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Traveller

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button