Wiki

Phân hóa giàu- nghèo ở Việt Nam hiện nay thực trạng và giải pháp

Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 6 (67) – 2013<br />
<br />
PHÂN HÓA GIÀU – NGHÈO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY<br />
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP<br />
BÙI THỊ HOÀN*<br />
<br />
Tóm tắt: Bài viết phân tích thực trạng phân hóa giàu – nghèo ở nước ta hiện nay<br />
thể hiện ở sự chênh lệch về thu nhập giữa các khu vực dân cư, các vùng, miền,<br />
ngành nghề, doanh nghiệp, ở sự chênh lệch về mức sống, chi tiêu, hưởng thụ các<br />
dịch vụ xã hội. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế sự phân<br />
hóa giàu – nghèo đang có chiều hướng gia tăng ở nước ta.<br />
Từ khóa: Phân hóa giàu – nghèo, thu, nhập, mức sống xóa đói giảm nghèo.<br />
<br />
1. Mở đầu<br />
Kể từ khi Việt Nam tiến hành đổi mới<br />
đất nước (năm 1986) đến nay, nền kinh tế<br />
liên tục phát triển, đạt được những thành<br />
tựu rất đáng khích lệ với tốc độ tăng<br />
trưởng khá cao; đời sống của nhân dân<br />
được cải thiện về nhiều mặt. Tuy nhiên,<br />
tình trạng phân hóa giàu – nghèo trong<br />
các tầng lớp dân cư lại gia tăng với<br />
khoảng cách ngày càng lớn; điều đó đã<br />
trở thành một vấn đề xã hội bức xúc đòi<br />
hỏi chúng ta phải rất quan tâm và tìm ra<br />
các giải pháp khắc phục phù hợp.<br />
2. Thực trạng phân hóa giàu – nghèo<br />
Thực trạng phân hóa giàu – nghèo ở<br />
nước ta hiện nay thể hiện rất đa dạng,<br />
nhưng chủ yếu là thể hiện ở sự chênh<br />
lệch về thu nhập, mức sống chi tiêu, sự<br />
hưởng thụ các dịch vụ xã hội cơ bản<br />
giữa các nhóm dân cư; giữa các vùng,<br />
miền; giữa nông thôn và thành thị.<br />
Thứ nhất, phân hóa giàu nghèo thể<br />
hiện ở sự chênh lệch về thu nhập giữa<br />
các khu vực dân cư, giữa các vùng,<br />
74<br />
<br />
miền. Theo cách tính của Ngân hàng<br />
Thế giới và Tổng cục Thống kê, chênh<br />
lệch thu nhập giữa nhóm 20% có thu<br />
nhập cao nhất so với nhóm 20% có thu<br />
nhập thấp nhất (trong cả nước) năm<br />
1990 là 4,1 lần, năm 1991 tăng lên 4,2<br />
lần, năm 1993 tăng lên 6,2 lần, năm<br />
1994 là 6,5 lần, năm 1995 tăng 7,0 lần,<br />
đến năm 2004 tăng 8,4 lần. Năm 2010,<br />
thu nhập bình quân 1 người/tháng của<br />
nhóm hộ giàu nhất gấp 9,2 lần(1) thu<br />
nhập nhóm hộ nghèo nhất.<br />
Theo Viện Nghiên cứu Quản lý kinh<br />
tế Trung ương (CIEM), khoảng cách<br />
chênh lệch về thu nhập giữa các thành<br />
phố, các vùng miền tại Việt Nam năm<br />
2011 rất cao. Chẳng hạn như, thu nhập<br />
bình quân đầu người ở Thủ đô Hà Nội là<br />
Tiến sĩ, Trường Cao đẳng Thương mại và Du<br />
lịch Hà Nội.<br />
(1)<br />
Tổng cục Thống kê (2010), “Một số kết quả<br />
chủ yếu từ khảo sát mức sống hộ dân cư năm<br />
2010”, default.aspx?tabid=417&idmid=4&ItemID<br />
=11138, http//www.gos.gov.vn/.<br />
(*)<br />
<br />
Phân hóa giàu – nghèo ở Việt Nam hiện nay…<br />
<br />
hơn 1.850 đô la Mỹ (USD)/năm, ở Thành<br />
phố Hồ Chí Minh khoảng 3.000 USD, ở<br />
Cần Thơ khoảng 2.350 USD(2); ở Nam<br />
Định chỉ đạt 19,2 triệu đồng/năm (khoảng<br />
900 USD), ở Bắc Kạn là 14,6 triệu đồng<br />
(khoảng hơn 700 USD), ở Quảng Ngãi<br />
chưa đến 9 triệu đồng/người/năm (hơn<br />
400 USD), ở Hà Giang chưa đến 6 triệu<br />
đồng/năm (dưới 300 USD).<br />
Thứ 2, phân hóa giàu nghèo thể hiện<br />
ở sự chênh lệch về thu nhập trong các<br />
ngành nghề, các doanh nghiệp. Kết quả<br />
điều tra về tiền lương và thu nhập của<br />
người lao động do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội thực hiện ở 250<br />
doanh nghiệp trong khoảng thời gian từ<br />
2002 đến 2008(3) cũng cho thấy có sự<br />
chênh lệch lớn về thu nhập của người<br />
lao động tính theo ngành. Chẳng hạn,<br />
các ngành sản xuất và phân phối điện,<br />
khí đốt, nước trả lương cao nhất là 4,039<br />
triệu đồng/người/tháng; còn ngành thủy<br />
sản chỉ trả lương cao nhất là 819.000<br />
đồng/người/tháng. Người lao động có<br />
trình độ chuyên môn kỹ thuật cao thu<br />
nhập cao gấp 3,5 lần so với lao động<br />
phổ thông, gấp 2,28 lần so với lao động<br />
có trình độ sơ cấp. Người ở vị trí quản<br />
lý cao cấp trong doanh nghiệp thu nhập<br />
bình quân 10,231 triệu đồng/người/tháng,<br />
gấp 9,86 lần so với lao động phổ thông,<br />
gấp 2,29 lần so với lao động quản lý<br />
bậc trung.<br />
Khoảng cách giàu – nghèo chỉ thể<br />
hiện ở sự chênh lệch về thu nhập hàng<br />
tháng giữa những người lao động trong<br />
các doanh nghiệp, mà còn thể hiện ở số<br />
<br />
tiền thưởng Tết. Chẳng hạn, năm 2011 ở<br />
Thành phố Hồ Chí Minh, mức thưởng<br />
Tết cao nhất là 532 triệu đồng/người,<br />
thấp nhất là 330.000 đồng/người, chênh<br />
lệch hơn 1.600 lần. Tại Hà Nội, mức<br />
thưởng Tết cao nhất là 72,9 triệu đồng<br />
và thấp nhất là 200.000 đồng, chênh<br />
lệch gần 365 lần(4).<br />
Thứ ba, phân hóa giàu nghèo thể<br />
hiện ở sự chênh lệch về mức sống, chi<br />
tiêu, hưởng thụ, tiếp cận các dịch vụ xã<br />
hội. Nếu năm 1993, chi tiêu bình quân<br />
đầu người của những hộ gia đình giàu<br />
nhất cao gấp 5 lần so với hộ gia đình<br />
nghèo nhất, thì năm 2004, tỷ lệ này là<br />
7,27 lần(5). Năm 2010, theo số liệu của<br />
Tổng cục Thống kê, chi tiêu bình quân<br />
một người/tháng cũng có sự chênh<br />
lệch: ở khu vực nông thôn là 950 nghìn<br />
đồng, ở khu vực thành thị là 1.828<br />
nghìn đồng. Khu vực thành thị có mức<br />
chi tiêu cho đời sống cao gấp 1,94 lần<br />
khu vực nông thôn, nhóm giàu nhất có<br />
mức chi tiêu cho đời sống cao gấp 4,7<br />
lần so với nhóm hộ nghèo nhất. Nhóm<br />
hộ giàu nhất có mức chi tiêu về hàng<br />
hóa, dịch vụ tiêu dùng ngoài ăn uống<br />
cao gấp 7,5 lần so với nhóm hộ nghèo<br />
nhất. Trong đó, chi về nhà ở, điện<br />
“Chênh lệch thu nhập tại Việt Nam đang<br />
tăng”, http//dantri.com.vn, 28/06/2012.<br />
(3)<br />
“Tiền lương của công nhân trong các Doanh<br />
nghiệp tư nhân”, http://laodongxahoionline.vn,<br />
ngày 18/05/2011.<br />
(4)<br />
“Công bằng xã hội để phát triển đất nước”,<br />
http://phapluat.vn, ngày 03/02/2011.<br />
(5)<br />
“Tăng trưởng kinh tế và phân hóa giàu nghèo”, http://bmktcn.com, ngày 18/10/2009.<br />
(2)<br />
<br />
75<br />
<br />
Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 6 (67) – 2013<br />
<br />
nước, vệ sinh gấp 11,7 lần; chi thiết bị<br />
vệ sinh và đồ dùng gia đình gấp 5,8 lần;<br />
chi y tế, chăm sóc sức khỏe gấp 3,8 lần;<br />
chi đi lại, bưu điện gấp 12,4 lần; chi<br />
giáo dục gấp 6 lần; đặc biệt chi cho văn<br />
hóa, thể thao, giải trí gấp 131 lần. Chỉ<br />
với sự chênh lệch trên, chúng ta cũng có<br />
thể nhận thấy khoảng cách giàu – nghèo<br />
giữa các tầng lớp dân cư rất rõ.<br />
Việc tiếp cận và hưởng thụ phúc lợi và<br />
an sinh xã hội cũng có sự chênh lệch<br />
nhau rất lớn. Số liệu điều tra của Chương<br />
trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP)<br />
đã cho biết, trước năm 2009, nhóm 20%<br />
những người giàu nhất ở Việt Nam<br />
hưởng tới 40% lợi ích từ các chính sách<br />
an sinh xã hội của Nhà nước, còn nhóm<br />
20% những người nghèo nhất chỉ nhận<br />
7% lợi ích từ nguồn này. Tại kỳ họp thứ<br />
7 Quốc hội khóa XII (5/2010), có ý kiến<br />
cho rằng, nhóm 20% có thu nhập cao<br />
nhất nhận được 47% lương hưu, 35% trợ<br />
giúp giáo dục, trong khi nhóm 20%<br />
nghèo nhất chỉ nhận được 2% lương hưu,<br />
15% trợ giúp giáo dục(6).<br />
Báo cáo “Đánh giá nghèo Việt Nam<br />
năm 2012” của Ngân hàng Thế giới cho<br />
thấy, đối tượng thu nhập thấp tập trung<br />
chủ yếu ở nhóm dân tộc thiểu số. Người<br />
dân tộc thiểu số ngày càng chiếm tỷ lệ<br />
cao trong tổng số người nghèo, khoảng<br />
cách về thu nhập giữa người dân tộc<br />
thiểu số và các nhóm còn lại đang tăng<br />
lên. Chênh lệch thu nhập của nhóm 20%<br />
hộ có thu nhập thấp nhất của dân tộc<br />
thiểu số với nhóm 20% thu nhập thấp<br />
nhất của dân tộc đa số cũng đã tăng từ<br />
mức 1,4 lần lên mức 2,1 lần(7).<br />
76<br />
<br />
Sự phân hóa giàu – nghèo ở Việt Nam<br />
đang biến động theo xu hướng gia tăng<br />
về khoảng cách. Theo số liệu của Tổng<br />
cục Thống kê, xét trên phạm vi cả nước<br />
năm 2010, hệ số Gini là 0,43 có xu<br />
hướng tăng lên so với các năm trước<br />
(năm 2002 là 0,418, 2006 là 0,42 và<br />
năm 2008 là 0,43). Sự phân hóa giàu<br />
nghèo sẽ tiếp tục tăng mạnh cùng sự<br />
phát triển của kinh tế thị trường và có<br />
thể làm trầm trọng hơn những bất bình<br />
đẳng xã hội.(7)<br />
3. Giải pháp<br />
Sự phân hóa giàu – nghèo ở nước ta<br />
hiện nay có xu hướng tăng mạnh cùng<br />
sự phát triển của kinh tế thị trường và đã<br />
ở mức độ bất hợp lý. Để hạn chế sự<br />
phân hóa giàu – nghèo, cần thực hiện<br />
nhiều giải pháp, trong đó có các giải<br />
pháp sau:<br />
Thứ nhất, cần tạo lập môi trường<br />
chính trị – xã hội ổn định, thuận lợi để<br />
mọi người cùng có cơ hội làm giàu.<br />
Việc tạo ra môi trường chính trị – xã<br />
hội ổn định, thuận lợi được xem như<br />
việc tạo ra cơ hội bình đẳng để cho tất<br />
cả mọi thành viên yên tâm làm giàu.<br />
Đồng thời, việc làm đó cũng thể sự kết<br />
hợp chặt chẽ giữa chính sách kinh tế với<br />
chính sách xã hội trong đường lối phát<br />
triển đất nước của Đảng và Nhà nước ta.<br />
“Quốc hội và nỗi lo cho người nghèo”,<br />
http://vneconomy.vn, /2010052901447600p0c9920/<br />
2010052901447600p0c9920/quoc-hoi-va-noi-lo<br />
-cho-nguoi-ngheo.htm.<br />
(7)<br />
“Đánh giá nghèo Việt Nam năm 2012”,<br />
http://hanoimoi.com.vn, Tin-tuc/Xa…/chenh-lechthu-nhap-ngay-cang-gia-tang.<br />
(6)<br />
<br />
Phân hóa giàu – nghèo ở Việt Nam hiện nay…<br />
<br />
Cần khắc phục quan niệm một chiều<br />
về phân hóa giàu – nghèo. Phân hóa giàu nghèo là một hiện tượng tất yếu trong<br />
nền kinh tế thị trường, là kết quả của<br />
việc thực hiện công bằng xã hội, bởi vì<br />
người cống hiến nhiều hơn thì được<br />
hưởng nhiều hơn. Tuy nhiên, chúng ta<br />
cần phân biệt việc làm giàu chính đáng<br />
(để cổ vũ, ủng hộ) với việc làm giàu trái<br />
pháp luật, vô đạo đức (để loại trừ); phải<br />
quán triệt quan điểm của Đảng cho rằng,<br />
“một bộ phận dân cư giàu trước là cần<br />
thiết cho sự phát triển”, tức là thừa nhận<br />
có thể một số nhóm xã hội trở nên giàu<br />
có ở mức độ khác nhau so với những<br />
nhóm xã hội khác.<br />
Hạn chế sự phân hóa giàu nghèo<br />
không phải là triệt tiêu cơ hội làm giàu<br />
cho mọi người, mà là triệt tiêu sự làm<br />
giàu bất hợp pháp, bất hợp lý; đặc biệt là<br />
khắc phục tình trạng làm giàu bằng<br />
tham nhũng của một bộ phận người có<br />
chức có quyền. Để hạn chế làm giàu phi<br />
pháp cần xây dựng nhà nước pháp<br />
quyền xã hội chủ nghĩa có hiệu lực pháp<br />
lý mạnh mẽ; bên cạnh đó, cần đẩy mạnh<br />
thực hiện dân chủ, phát huy tính tích<br />
cực của mọi thành viên trong xã hội.<br />
Thứ hai, cần có các chính sách ưu<br />
đãi dành cho các nhóm dân cư nghèo.<br />
Chẳng hạn, như tăng tỷ lệ đầu tư<br />
công ở nông thôn; khuyến khích đầu tư<br />
tư nhân ở nông thôn; hỗ trợ tín dụng cho<br />
nông dân nghèo và dân tộc thiểu số; cải<br />
thiện chất lượng giáo dục ở nông thôn;<br />
tạo điều kiện thuận lợi cho nhóm người<br />
nghèo được hưởng các quyền lợi về an<br />
sinh xã hội và phúc lợi xã hội như nhóm<br />
<br />
người giàu…<br />
Thứ ba, tiếp tục đẩy mạnh công<br />
nghiệp hóa, hiện đại hóa; chú trọng<br />
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông<br />
nghiệp, nông thôn. Đối với Việt Nam,<br />
một quốc gia mà đa số người dân làm<br />
nông nghiệp và sống ở nông thôn, thì<br />
việc thực hiện giải pháp này không<br />
những mang lại sự tăng trưởng phát<br />
triển kinh tế đất nước, sớm đưa nước ta<br />
đạt mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại<br />
hóa đất nước theo hướng hiện đại, mà<br />
còn góp phần trực tiếp nâng cao đời<br />
sống vật chất, tinh thần của người nông<br />
dân, giảm khoảng cách giàu – nghèo<br />
giữa các vùng, miền, giữa nông thôn và<br />
thành thị, giữa các bộ phận dân cư trong<br />
cả nước.<br />
Trong quá trình công nghiệp hóa,<br />
hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn,<br />
cần tiếp tục thực hiện tốt hơn các<br />
chương trình khoa học và công nghệ<br />
trọng điểm, nhất là Chương trình xây<br />
dựng mô hình ứng dụng và chuyển giao<br />
công nghệ phục vụ phát triển kinh tế xã hội nông thôn, miền núi. Thực hiện<br />
chính sách khuyến nông có hiệu quả;<br />
thúc đẩy sự phân công lao động tạo việc<br />
làm mới cho nông dân; khai thác và phát<br />
triển các thế mạnh, các ngành nghề của<br />
từng vùng; chuyển dịch cơ cấu kinh tế<br />
theo hướng phát triển các ngành, các sản<br />
phẩm chủ lực; thu hút nhiều lao động<br />
vào hoạt động kinh tế dịch vụ, công<br />
nghiệp ở từng vùng; hình thành hệ thống<br />
các đô thị trung tâm trên khắp các địa<br />
bàn theo vùng, theo tỉnh, huyện, xã, thị<br />
trấn và cải thiện kết cấu hạ tầng; chú<br />
77<br />
<br />
Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 6 (67) – 2013<br />
<br />
trọng đầu tư xây dựng giao thông, điện<br />
lưới; hình thành các chợ thuận lợi cho<br />
việc tiêu thụ nông sản; có chính sách<br />
phù hợp trong việc quy hoạch xây dựng<br />
khu công nghiệp, khu đô thị. Khi Nhà<br />
nước chuyển đổi mục đích sử dụng đất<br />
nông nghiệp thì phải có kế hoạch tốt để<br />
sử dụng lao động tại chỗ, tạo việc làm<br />
mới và chuyển nghề cho nông dân; có<br />
chiến lược đào tạo và phát triển nghề<br />
lâu dài đối với dân cư vùng quy hoạch,<br />
chuyển đổi đất. Phát huy các tiềm năng<br />
to lớn trong nông nghiệp, nông thôn<br />
gắn với bảo vệ môi trường tự nhiên; có<br />
chính sách hỗ trợ cho nông dân về các<br />
điều kiện sản xuất, tiêu thụ sản phẩm.<br />
Thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại<br />
hóa quá trình sản xuất ra nông phẩm,<br />
đồng thời phải hiện đại hóa công nghệ<br />
sau thu hoạch. Thu hút các dự án đầu tư<br />
vào sản xuất và chế biến trong khu vực<br />
nông, lâm, ngư nghiệp; thực hiện cơ khí<br />
hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa; đưa<br />
nhanh tiến bộ khoa học – kỹ thuật và<br />
công nghệ sinh học vào sản xuất; nâng<br />
cao năng suất, chất lượng và sức cạnh<br />
tranh, phù hợp với đặc điểm của từng<br />
vùng, từng địa phương. Khẩn trương<br />
hoàn thành xây dựng quy hoạch phát<br />
triển nông thôn và thực hiện chương<br />
trình xây dựng nông thôn mới theo kế<br />
hoạch; xây dựng các làng, xã, thôn, ấp,<br />
bản có cuộc sống no đủ, văn minh, môi<br />
trường lành mạnh; hình hành các khu<br />
dân cư đô thị hóa với kết cấu hạ tầng<br />
kinh tế – xã hội đồng bộ; v.v..<br />
Thứ tư, điều chỉnh chính sách kinh tế;<br />
tích cực phát huy vai trò của chính sách<br />
78<br />
<br />
xã hội, đặc biệt là công tác xóa đói,<br />
giảm nghèo.<br />
Nhà nước cần đổi mới và nâng cao<br />
hiệu quả hơn nữa các chính sách đất đai,<br />
chính sách đầu tư, chính sách tín dụng,<br />
khoa học và công nghệ cho các vùng<br />
nông thôn và chính sách bảo trợ tài<br />
nguyên môi trường, qua đó tạo sự cân<br />
bằng, ổn định kinh tế đất nước và tạo cơ<br />
hội cho người nghèo có điều kiện để<br />
thoát nghèo. Khi họ giàu lên, thì tình<br />
trạng phân hóa giàu – nghèo sẽ được cải<br />
thiện. Nhà nước cần mở rộng các dự án<br />
kinh tế, xây dựng khu đô thị, phát triển<br />
các trường đại học về các vùng ngoại<br />
thành, các tỉnh thành trên cả nước; đồng<br />
thời, có chính sách đầu tư xây dựng cơ<br />
sở vật chất ở các vùng nông thôn, vùng<br />
sâu, vùng xa nhiều hơn, nhanh hơn nữa.<br />
Để thu hẹp khoảng cách giàu – nghèo,<br />
việc điều chỉnh chính sách thuế cũng rất<br />
cần thiết. Ngoài việc áp dụng thuế thu<br />
nhập cá nhân, cần căn cứ vào tất cả các<br />
loại tài sản có thực để yêu cầu mức nộp<br />
thuế. Nguồn thu từ khoản thuế này nên<br />
dành nhiều hơn để đầu tư cho các vùng<br />
nghèo và quỹ an sinh xã hội. Cần tiếp<br />
tục điều chỉnh chính sách tiền lương kịp<br />
thời cho người lao động và nhằm đảm<br />
bảo tái sản xuất sức lao động. Điều đó<br />
nhằm đảm bảo tái sản xuất sức lao động,<br />
góp phần giảm mức chênh lệch giàu nghèo, cân bằng mức chi tiêu, sự hưởng<br />
thụ các dịch vụ xã hội cơ bản giữa các<br />
nhóm dân cư. Điều đó còn khuyến khích<br />
được tính tích cực của người lao động<br />
trong sản xuất để tăng năng suất lao<br />
động cao cho xã hội. Tiếp tục thực hiện<br />
<br />

Xem thêm :  20 fun things to do in Shibuya, Tokyo

Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 6 (67) – 2013

PHÂN HÓA GIÀU – NGHÈO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
BÙI THỊ HOÀN*

Tóm tắt: Bài viết phân tích thực trạng phân hóa giàu – nghèo ở nước ta hiện nay
thể hiện ở sự chênh lệch về thu nhập giữa các khu vực dân cư, các vùng, miền,
ngành nghề, doanh nghiệp, ở sự chênh lệch về mức sống, chi tiêu, hưởng thụ các
dịch vụ xã hội. Trên cơ sở đó, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm hạn chế sự phân
hóa giàu – nghèo đang có chiều hướng gia tăng ở nước ta.
Từ khóa: Phân hóa giàu – nghèo, thu, nhập, mức sống xóa đói giảm nghèo.

1. Mở đầu
Kể từ khi Việt Nam tiến hành đổi mới
đất nước (năm 1986) đến nay, nền kinh tế
liên tục phát triển, đạt được những thành
tựu rất đáng khích lệ với tốc độ tăng
trưởng khá cao; đời sống của nhân dân
được cải thiện về nhiều mặt. Tuy nhiên,
tình trạng phân hóa giàu – nghèo trong
các tầng lớp dân cư lại gia tăng với
khoảng cách ngày càng lớn; điều đó đã
trở thành một vấn đề xã hội bức xúc đòi
hỏi chúng ta phải rất quan tâm và tìm ra
các giải pháp khắc phục phù hợp.
2. Thực trạng phân hóa giàu – nghèo
Thực trạng phân hóa giàu – nghèo ở
nước ta hiện nay thể hiện rất đa dạng,
nhưng chủ yếu là thể hiện ở sự chênh
lệch về thu nhập, mức sống chi tiêu, sự
hưởng thụ các dịch vụ xã hội cơ bản
giữa các nhóm dân cư; giữa các vùng,
miền; giữa nông thôn và thành thị.
Thứ nhất, phân hóa giàu nghèo thể
hiện ở sự chênh lệch về thu nhập giữa
các khu vực dân cư, giữa các vùng,
74

Xem thêm :  Kinh nghiệm đi du lịch Hồng Kông tự túc tiết kiệm nhất

miền. Theo cách tính của Ngân hàng
Thế giới và Tổng cục Thống kê, chênh
lệch thu nhập giữa nhóm 20% có thu
nhập cao nhất so với nhóm 20% có thu
nhập thấp nhất (trong cả nước) năm
1990 là 4,1 lần, năm 1991 tăng lên 4,2
lần, năm 1993 tăng lên 6,2 lần, năm
1994 là 6,5 lần, năm 1995 tăng 7,0 lần,
đến năm 2004 tăng 8,4 lần. Năm 2010,
thu nhập bình quân 1 người/tháng của
nhóm hộ giàu nhất gấp 9,2 lần(1) thu
nhập nhóm hộ nghèo nhất.
Theo Viện Nghiên cứu Quản lý kinh
tế Trung ương (CIEM), khoảng cách
chênh lệch về thu nhập giữa các thành
phố, các vùng miền tại Việt Nam năm
2011 rất cao. Chẳng hạn như, thu nhập
bình quân đầu người ở Thủ đô Hà Nội là
Tiến sĩ, Trường Cao đẳng Thương mại và Du
lịch Hà Nội.
(1)
Tổng cục Thống kê (2010), “Một số kết quả
chủ yếu từ khảo sát mức sống hộ dân cư năm
2010″, default.aspx?tabid=417&idmid=4&ItemID
=11138, http//www.gos.gov.vn/.
(*)

Phân hóa giàu – nghèo ở Việt Nam hiện nay…

hơn 1.850 đô la Mỹ (USD)/năm, ở Thành
phố Hồ Chí Minh khoảng 3.000 USD, ở
Cần Thơ khoảng 2.350 USD(2); ở Nam
Định chỉ đạt 19,2 triệu đồng/năm (khoảng
900 USD), ở Bắc Kạn là 14,6 triệu đồng
(khoảng hơn 700 USD), ở Quảng Ngãi
chưa đến 9 triệu đồng/người/năm (hơn
400 USD), ở Hà Giang chưa đến 6 triệu
đồng/năm (dưới 300 USD).
Thứ 2, phân hóa giàu nghèo thể hiện
ở sự chênh lệch về thu nhập trong các
ngành nghề, các doanh nghiệp. Kết quả
điều tra về tiền lương và thu nhập của
người lao động do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội thực hiện ở 250
doanh nghiệp trong khoảng thời gian từ
2002 đến 2008(3) cũng cho thấy có sự
chênh lệch lớn về thu nhập của người
lao động tính theo ngành. Chẳng hạn,
các ngành sản xuất và phân phối điện,
khí đốt, nước trả lương cao nhất là 4,039
triệu đồng/người/tháng; còn ngành thủy
sản chỉ trả lương cao nhất là 819.000
đồng/người/tháng. Người lao động có
trình độ chuyên môn kỹ thuật cao thu
nhập cao gấp 3,5 lần so với lao động
phổ thông, gấp 2,28 lần so với lao động
có trình độ sơ cấp. Người ở vị trí quản
lý cao cấp trong doanh nghiệp thu nhập
bình quân 10,231 triệu đồng/người/tháng,
gấp 9,86 lần so với lao động phổ thông,
gấp 2,29 lần so với lao động quản lý
bậc trung.
Khoảng cách giàu – nghèo chỉ thể
hiện ở sự chênh lệch về thu nhập hàng
tháng giữa những người lao động trong
các doanh nghiệp, mà còn thể hiện ở số

tiền thưởng Tết. Chẳng hạn, năm 2011 ở
Thành phố Hồ Chí Minh, mức thưởng
Tết cao nhất là 532 triệu đồng/người,
thấp nhất là 330.000 đồng/người, chênh
lệch hơn 1.600 lần. Tại Hà Nội, mức
thưởng Tết cao nhất là 72,9 triệu đồng
và thấp nhất là 200.000 đồng, chênh
lệch gần 365 lần(4).
Thứ ba, phân hóa giàu nghèo thể
hiện ở sự chênh lệch về mức sống, chi
tiêu, hưởng thụ, tiếp cận các dịch vụ xã
hội. Nếu năm 1993, chi tiêu bình quân
đầu người của những hộ gia đình giàu
nhất cao gấp 5 lần so với hộ gia đình
nghèo nhất, thì năm 2004, tỷ lệ này là
7,27 lần(5). Năm 2010, theo số liệu của
Tổng cục Thống kê, chi tiêu bình quân
một người/tháng cũng có sự chênh
lệch: ở khu vực nông thôn là 950 nghìn
đồng, ở khu vực thành thị là 1.828
nghìn đồng. Khu vực thành thị có mức
chi tiêu cho đời sống cao gấp 1,94 lần
khu vực nông thôn, nhóm giàu nhất có
mức chi tiêu cho đời sống cao gấp 4,7
lần so với nhóm hộ nghèo nhất. Nhóm
hộ giàu nhất có mức chi tiêu về hàng
hóa, dịch vụ tiêu dùng ngoài ăn uống
cao gấp 7,5 lần so với nhóm hộ nghèo
nhất. Trong đó, chi về nhà ở, điện
“Chênh lệch thu nhập tại Việt Nam đang
tăng”, http//dantri.com.vn, 28/06/2012.
(3)
“Tiền lương của công nhân trong các Doanh
nghiệp tư nhân”, http://laodongxahoionline.vn,
ngày 18/05/2011.
(4)
“Công bằng xã hội để phát triển đất nước”,
http://phapluat.vn, ngày 03/02/2011.
(5)
“Tăng trưởng kinh tế và phân hóa giàu nghèo”, http://bmktcn.com, ngày 18/10/2009.
(2)

75

Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 6 (67) – 2013

nước, vệ sinh gấp 11,7 lần; chi thiết bị
vệ sinh và đồ dùng gia đình gấp 5,8 lần;
chi y tế, chăm sóc sức khỏe gấp 3,8 lần;
chi đi lại, bưu điện gấp 12,4 lần; chi
giáo dục gấp 6 lần; đặc biệt chi cho văn
hóa, thể thao, giải trí gấp 131 lần. Chỉ
với sự chênh lệch trên, chúng ta cũng có
thể nhận thấy khoảng cách giàu – nghèo
giữa các tầng lớp dân cư rất rõ.
Việc tiếp cận và hưởng thụ phúc lợi và
an sinh xã hội cũng có sự chênh lệch
nhau rất lớn. Số liệu điều tra của Chương
trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP)
đã cho biết, trước năm 2009, nhóm 20%
những người giàu nhất ở Việt Nam
hưởng tới 40% lợi ích từ các chính sách
an sinh xã hội của Nhà nước, còn nhóm
20% những người nghèo nhất chỉ nhận
7% lợi ích từ nguồn này. Tại kỳ họp thứ
7 Quốc hội khóa XII (5/2010), có ý kiến
cho rằng, nhóm 20% có thu nhập cao
nhất nhận được 47% lương hưu, 35% trợ
giúp giáo dục, trong khi nhóm 20%
nghèo nhất chỉ nhận được 2% lương hưu,
15% trợ giúp giáo dục(6).
Báo cáo “Đánh giá nghèo Việt Nam
năm 2012″ của Ngân hàng Thế giới cho
thấy, đối tượng thu nhập thấp tập trung
chủ yếu ở nhóm dân tộc thiểu số. Người
dân tộc thiểu số ngày càng chiếm tỷ lệ
cao trong tổng số người nghèo, khoảng
cách về thu nhập giữa người dân tộc
thiểu số và các nhóm còn lại đang tăng
lên. Chênh lệch thu nhập của nhóm 20%
hộ có thu nhập thấp nhất của dân tộc
thiểu số với nhóm 20% thu nhập thấp
nhất của dân tộc đa số cũng đã tăng từ
mức 1,4 lần lên mức 2,1 lần(7).
76

Xem thêm :  999+ STT VỀ BIỂN LÃNG MẠN VÀ SÂU LẮNG NHẤT

Sự phân hóa giàu – nghèo ở Việt Nam
đang biến động theo xu hướng gia tăng
về khoảng cách. Theo số liệu của Tổng
cục Thống kê, xét trên phạm vi cả nước
năm 2010, hệ số Gini là 0,43 có xu
hướng tăng lên so với các năm trước
(năm 2002 là 0,418, 2006 là 0,42 và
năm 2008 là 0,43). Sự phân hóa giàu
nghèo sẽ tiếp tục tăng mạnh cùng sự
phát triển của kinh tế thị trường và có
thể làm trầm trọng hơn những bất bình
đẳng xã hội.(7)
3. Giải pháp
Sự phân hóa giàu – nghèo ở nước ta
hiện nay có xu hướng tăng mạnh cùng
sự phát triển của kinh tế thị trường và đã
ở mức độ bất hợp lý. Để hạn chế sự
phân hóa giàu – nghèo, cần thực hiện
nhiều giải pháp, trong đó có các giải
pháp sau:
Thứ nhất, cần tạo lập môi trường
chính trị – xã hội ổn định, thuận lợi để
mọi người cùng có cơ hội làm giàu.
Việc tạo ra môi trường chính trị – xã
hội ổn định, thuận lợi được xem như
việc tạo ra cơ hội bình đẳng để cho tất
cả mọi thành viên yên tâm làm giàu.
Đồng thời, việc làm đó cũng thể sự kết
hợp chặt chẽ giữa chính sách kinh tế với
chính sách xã hội trong đường lối phát
triển đất nước của Đảng và Nhà nước ta.
“Quốc hội và nỗi lo cho người nghèo”,
http://vneconomy.vn, /2010052901447600p0c9920/
2010052901447600p0c9920/quoc-hoi-va-noi-lo
-cho-nguoi-ngheo.htm.
(7)
“Đánh giá nghèo Việt Nam năm 2012”,
http://hanoimoi.com.vn, Tin-tuc/Xa…/chenh-lechthu-nhap-ngay-cang-gia-tang.
(6)

Phân hóa giàu – nghèo ở Việt Nam hiện nay…

Cần khắc phục quan niệm một chiều
về phân hóa giàu – nghèo. Phân hóa giàu nghèo là một hiện tượng tất yếu trong
nền kinh tế thị trường, là kết quả của
việc thực hiện công bằng xã hội, bởi vì
người cống hiến nhiều hơn thì được
hưởng nhiều hơn. Tuy nhiên, chúng ta
cần phân biệt việc làm giàu chính đáng
(để cổ vũ, ủng hộ) với việc làm giàu trái
pháp luật, vô đạo đức (để loại trừ); phải
quán triệt quan điểm của Đảng cho rằng,
“một bộ phận dân cư giàu trước là cần
thiết cho sự phát triển”, tức là thừa nhận
có thể một số nhóm xã hội trở nên giàu
có ở mức độ khác nhau so với những
nhóm xã hội khác.
Hạn chế sự phân hóa giàu nghèo
không phải là triệt tiêu cơ hội làm giàu
cho mọi người, mà là triệt tiêu sự làm
giàu bất hợp pháp, bất hợp lý; đặc biệt là
khắc phục tình trạng làm giàu bằng
tham nhũng của một bộ phận người có
chức có quyền. Để hạn chế làm giàu phi
pháp cần xây dựng nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa có hiệu lực pháp
lý mạnh mẽ; bên cạnh đó, cần đẩy mạnh
thực hiện dân chủ, phát huy tính tích
cực của mọi thành viên trong xã hội.
Thứ hai, cần có các chính sách ưu
đãi dành cho các nhóm dân cư nghèo.
Chẳng hạn, như tăng tỷ lệ đầu tư
công ở nông thôn; khuyến khích đầu tư
tư nhân ở nông thôn; hỗ trợ tín dụng cho
nông dân nghèo và dân tộc thiểu số; cải
thiện chất lượng giáo dục ở nông thôn;
tạo điều kiện thuận lợi cho nhóm người
nghèo được hưởng các quyền lợi về an
sinh xã hội và phúc lợi xã hội như nhóm

người giàu…
Thứ ba, tiếp tục đẩy mạnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa; chú trọng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn. Đối với Việt Nam,
một quốc gia mà đa số người dân làm
nông nghiệp và sống ở nông thôn, thì
việc thực hiện giải pháp này không
những mang lại sự tăng trưởng phát
triển kinh tế đất nước, sớm đưa nước ta
đạt mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước theo hướng hiện đại, mà
còn góp phần trực tiếp nâng cao đời
sống vật chất, tinh thần của người nông
dân, giảm khoảng cách giàu – nghèo
giữa các vùng, miền, giữa nông thôn và
thành thị, giữa các bộ phận dân cư trong
cả nước.
Trong quá trình công nghiệp hóa,
hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn,
cần tiếp tục thực hiện tốt hơn các
chương trình khoa học và công nghệ
trọng điểm, nhất là Chương trình xây
dựng mô hình ứng dụng và chuyển giao
công nghệ phục vụ phát triển kinh tế xã hội nông thôn, miền núi. Thực hiện
chính sách khuyến nông có hiệu quả;
thúc đẩy sự phân công lao động tạo việc
làm mới cho nông dân; khai thác và phát
triển các thế mạnh, các ngành nghề của
từng vùng; chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng phát triển các ngành, các sản
phẩm chủ lực; thu hút nhiều lao động
vào hoạt động kinh tế dịch vụ, công
nghiệp ở từng vùng; hình thành hệ thống
các đô thị trung tâm trên khắp các địa
bàn theo vùng, theo tỉnh, huyện, xã, thị
trấn và cải thiện kết cấu hạ tầng; chú
77

Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số 6 (67) – 2013

trọng đầu tư xây dựng giao thông, điện
lưới; hình thành các chợ thuận lợi cho
việc tiêu thụ nông sản; có chính sách
phù hợp trong việc quy hoạch xây dựng
khu công nghiệp, khu đô thị. Khi Nhà
nước chuyển đổi mục đích sử dụng đất
nông nghiệp thì phải có kế hoạch tốt để
sử dụng lao động tại chỗ, tạo việc làm
mới và chuyển nghề cho nông dân; có
chiến lược đào tạo và phát triển nghề
lâu dài đối với dân cư vùng quy hoạch,
chuyển đổi đất. Phát huy các tiềm năng
to lớn trong nông nghiệp, nông thôn
gắn với bảo vệ môi trường tự nhiên; có
chính sách hỗ trợ cho nông dân về các
điều kiện sản xuất, tiêu thụ sản phẩm.
Thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại
hóa quá trình sản xuất ra nông phẩm,
đồng thời phải hiện đại hóa công nghệ
sau thu hoạch. Thu hút các dự án đầu tư
vào sản xuất và chế biến trong khu vực
nông, lâm, ngư nghiệp; thực hiện cơ khí
hóa, điện khí hóa, thủy lợi hóa; đưa
nhanh tiến bộ khoa học – kỹ thuật và
công nghệ sinh học vào sản xuất; nâng
cao năng suất, chất lượng và sức cạnh
tranh, phù hợp với đặc điểm của từng
vùng, từng địa phương. Khẩn trương
hoàn thành xây dựng quy hoạch phát
triển nông thôn và thực hiện chương
trình xây dựng nông thôn mới theo kế
hoạch; xây dựng các làng, xã, thôn, ấp,
bản có cuộc sống no đủ, văn minh, môi
trường lành mạnh; hình hành các khu
dân cư đô thị hóa với kết cấu hạ tầng
kinh tế – xã hội đồng bộ; v.v..
Thứ tư, điều chỉnh chính sách kinh tế;
tích cực phát huy vai trò của chính sách
78

xã hội, đặc biệt là công tác xóa đói,
giảm nghèo.
Nhà nước cần đổi mới và nâng cao
hiệu quả hơn nữa các chính sách đất đai,
chính sách đầu tư, chính sách tín dụng,
khoa học và công nghệ cho các vùng
nông thôn và chính sách bảo trợ tài
nguyên môi trường, qua đó tạo sự cân
bằng, ổn định kinh tế đất nước và tạo cơ
hội cho người nghèo có điều kiện để
thoát nghèo. Khi họ giàu lên, thì tình
trạng phân hóa giàu – nghèo sẽ được cải
thiện. Nhà nước cần mở rộng các dự án
kinh tế, xây dựng khu đô thị, phát triển
các trường đại học về các vùng ngoại
thành, các tỉnh thành trên cả nước; đồng
thời, có chính sách đầu tư xây dựng cơ
sở vật chất ở các vùng nông thôn, vùng
sâu, vùng xa nhiều hơn, nhanh hơn nữa.
Để thu hẹp khoảng cách giàu – nghèo,
việc điều chỉnh chính sách thuế cũng rất
cần thiết. Ngoài việc áp dụng thuế thu
nhập cá nhân, cần căn cứ vào tất cả các
loại tài sản có thực để yêu cầu mức nộp
thuế. Nguồn thu từ khoản thuế này nên
dành nhiều hơn để đầu tư cho các vùng
nghèo và quỹ an sinh xã hội. Cần tiếp
tục điều chỉnh chính sách tiền lương kịp
thời cho người lao động và nhằm đảm
bảo tái sản xuất sức lao động. Điều đó
nhằm đảm bảo tái sản xuất sức lao động,
góp phần giảm mức chênh lệch giàu nghèo, cân bằng mức chi tiêu, sự hưởng
thụ các dịch vụ xã hội cơ bản giữa các
nhóm dân cư. Điều đó còn khuyến khích
được tính tích cực của người lao động
trong sản xuất để tăng năng suất lao
động cao cho xã hội. Tiếp tục thực hiện

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Giáo Dục

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button