Wiki

Nhân cách người giáo viên

Ngày đăng: 16/08/2015, 15:56

Nhân cách người giáo viên Tiểu luận Tâm lý học GVHD: Dương Thị Linh ĐỀ TÀI : NHÂN CÁCH NGƯỜI GIÁO VIÊN. LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành bài tiểu luận này, tôi xin chân thành cảm ơn giảng viên Dương Thị Linh – giảng dạy bộ môn “TÂM LÝ HỌC ĐẠI CƯƠNG, TÂM LÝ HỌC LỨA TUỔI VÀ TÂM LÝ HỌC SƯ PHẠM”- đã trực tiếp hướng dẫn tận tình cho tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài. Trong bài viết này đã nêu được thực trạng và đưa ra biện pháp để giải quyết một số vấn đề còn tồn tại về nhân cách của người giáo viên trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, quá trình nghiên cứu đề tài không thể tránh khỏi khiếm khuyết, kính mong được sự ủng hộ và góp ý từ các thầy cô giáo. Một lần nữa, tôi xin kính chúc các thầy cô giáo luôn khoẻ mạnh, thành đạt trong cuộc sống. Tôi xin chân thành cảm ơn. 1 Tiểu luận Tâm lý học GVHD: Dương Thị Linh MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài. 1.1 Cơ sở lí thuyết “Muốn sang thì bắc cầu kiều, muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy”. Từ muôn đời nay, mỗi người dân Việt Nam đều nhìn nhận nghề giáo với tầm quan trọng bậc nhất. Xã hội dù có phát triển đến mức nào thì vị trí và vai trò của những người thầy, người cô vẫn không thể phủ nhận, bởi lẽ họ là nhân lực then chốt trong công tác nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Nghề giáo đào tạo nên những con người vừa có đức, vừa có tài để cống hiến cho gia đình và xã hội. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng khẳng định: “Nghề dạy học là nghề cao quý nhất trong các nghề cao quý, nghề sáng tạo nhất trong các nghề sáng tạo. Các thầy cô giáo không những dạy chữ mà còn dạy người, họ cứ như cây thông trên sườn núi, cây quế giữa rừng sâu thầm lặng toả hương dâng hiến trí tuệ, sức lực cho đời”. Nghề dạy học là nghề cao quý bởi lẽ những người giáo viên không chỉ truyền thụ cho học sinh kiến thức cần thiết cho cuộc sống mà còn dạy học sinh cách sống, làm thế nào để trở thành người có phẩm chất đạo đức tốt, dạy cho học sinh điều hay lẽ phải, hướng các em tới giá trị của Chân – Thiện – Mỹ. Nghề dạy học là nghề sáng tạo, bởi lẽ giáo viên cần phải thích ứng với nhiều tình huống sư phạm khác nhau. Cần nhấn mạnh rằng mục tiêu cao nhất của dạy học là “Dạy tư duy”, tức là dạy cách tri nhận tri thức và vận dụng sáng tạo trong chương trình; đồng thời hình thành con đường tự khám phá để học sinh tiếp tục học tập sáng tạo đến suốt đời. Người giáo viên là nhân tố quyết định chất lượng của một nền giáo dục. Năng lực và đạo đức nghề nghiệp của họ góp phần to lớn vào sự hưng thịnh của mỗi quốc gia. Còn đối với mỗi thế hệ học trò, thầy cô là người cha, người mẹ, người anh, người chị, là tấm gương sáng để họ noi theo. Trong số chúng ta, có ai là không mang theo bên mình những kỉ niệm sâu sắc với những người thầy, người cô? 1.2 Cơ sở thực tiễn. “Tôn sư trọng đạo” sẽ giảm đi khi nhân cách người thầy… có vấn đề! Học sinh (HS) không chỉ lĩnh hội kiến thức mà còn chịu ảnh hưởng từ cách sống, cách đối nhân xử thế của thầy cô giáo. Vì vậy, mỗi giáo viên bên cạnh làm mới kiến thức chuyên môn còn cần “làm đẹp” hình ảnh, tác phong của mình. Việc giảng dạy HS sẽ tốt hơn nếu người thầy biết “dùng nhân cách để giáo dục nhân cách”. Như những gì chúng ta cảm nhận và quan sát được, ngày nay có nhiều tấm gương người thầy, người cô âm thầm cống hiến tài năng của mình cho sự nghiệp trồng người, hết lòng vì các em học sinh. Họ chia sẻ phần thu nhập ít ỏi của mình để giúp đỡ học 2 Tiểu luận Tâm lý học GVHD: Dương Thị Linh sinh nghèo vượt khó, học sinh tật nguyền Có một người thầy mà tôi hết sức khâm phục trong suốt 3 năm theo học ở trường THPT Phan Đăng Lưu (Yên Thành). Đó là thầy Phan Văn Truyền, giáo viên dạy chuyên môn hóa học, chủ nhiệm lớp tôi. Hàng tháng thầy thường trích một phần tiền lương của mình để chi trả phí sinh hoạt tại kí túc xá cho bạn Phan Văn Bình- thuộc diện hộ nghèo, gia đình chính sách. Hành động cao đẹp của thầy khơi dậy trong tôi nhiều suy nghĩ. Đó cũng chính là một trong những lý do tôi chọn đề tài. Cảm động hơn nữa còn có những thầy cô sẵn sàng hi sinh tính mạng của mình để cứu học sinh trong bão lũ. Bên cạnh đó vẫn còn những giáo viên chưa xứng đáng với hai chữ “nhà giáo”. Họ không chỉ nêu gương xấu cho học sinh, mà còn làm vẩn đục đạo đức, nhân cách của những người thầy chân chính. Đây cũng là một trong những vấn đề nan giải mà nền giáo dục nước ta hiện nay đang gặp phải. Từ đó cho thấy: muốn nâng cao chất lượng của nền giáo dục nước ta, trước hết phải chấn hưng đội ngũ giáo viên, nâng cao nhận thức của người giáo viên. Để giúp các giáo viên và sinh viên ngành sư phạm nhận thức rõ về vị trí, vai trò và trách nhiệm của mình, tôi đã chọn đề tài “Nhân cách của người giáo viên trong thời buổi hiện nay’’. 2 Nhiệm vụ nghiên cứu. 2.1 Tìm hiểu cơ sở lí luận về nhân cách người giáo viên 2.2 Nghiên cứu thực trạng và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao việc rèn luyện nhân cách của người thầy. 3 Phương pháp nghiên cứu. 3.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: đọc, tìm tài liệu. 3.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: quan sát hỏi ý kiến. NỘI DUNG 3 Tiểu luận Tâm lý học GVHD: Dương Thị Linh 1. Một số khái niệm liên quan. 1.1. Thế nào là nhân cách của người giáo viên? Nhân cách là tổng thể phẩm chất và năng lực tạo nên bản sắc và giá trị tinh thần của mỗi cá nhân. Khi nói đến nhân cách người giáo viên, ta nhắc đến hai phạm trù cơ bản: Phẩm chất và năng lực. 1.1.1. Phẩm chất. Phẩm chất chỉ tính chất và đặc điểm vốn có của sự vật. Theo nghĩa hẹp, phẩm chất là khái niệm sinh lí học chỉ đặc điểm sẵn có của cơ thể (như hệ thần kinh các giác quan và cơ quan vận động). Đặc điểm sẵn có là cơ sở tự nhiên để con người tiếp nhận những hiện tượng tâm lý và thuộc tính tâm lý. Theo nghĩa rộng, phẩm chất chỉ đặc điểm tâm lý như: Tính cách, ý chí, hứng thú, phong cách của con người. Như vậy, ta có thể hiểu: Phẩm chất của người giáo viên không chỉ là những đặc trưng đơn giản, có sẵn của sinh lý học mà là tổng hòa các yêu tố bên trong, trên cơ sở các phẩm chất sinh lý, hình thành các phẩm chất tâm lý thông qua hoạt động giao lưu trong thực tiễn đời sống và công tác của người giáo viên. 1.1.2. Năng lực. Theo quan điểm của các nhà tâm lý học: Năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đạt hiệu quả cao. Các năng lực hình thành trên cơ sở các tư chất tự nhiên của cá nhân. Tuy nhiên năng lực của con người không phải hoàn toàn do tự nhiên mà có, mà phần lớn được xây dựng trong quá trình công tác, luyện tập. Năng lực của người giáo viên là những thuộc tính tâm lý giúp hoàn thành tốt hoạt động dạy học và giáo dục. Có thể chia năng lực của giáo viên ra làm hai nhóm: Năng lực dạy học và năng lực giáo dục. Năng lực dạy học là những thuộc tính tâm lý mà nhờ đó người giáo viên thực hiện tốt hoạt động dạy học. Năng lực giáo dục là khả năng truyền tải những tri thức đó tới học sinh, sinh viên và nghiên cứu sinh. Như vậy, một người giáo viên có năng lực phải biết vận dụng, tích hợp nhiều kĩ năng sư phạm một cách linh hoạt. Lao động sư phạm là loại lao động căng thẳng, tinh tế, không rập khuôn, không đóng khung trong một giờ giảng, trong khuôn khổ nhà trường. Dạy học đòi hỏi người thầy phải dựa trên nền tảng khoa học xác định, khoa học bộ môn cũng như khoa học giáo dục và có khả năng sử dụng chúng vào từng tình huống sư phạm cụ thể, thích ứng với từng cá nhân sinh động. 1.2. Các yêu cầu về phẩm chất của người giáo viên. 1.2.1. Tình yêu con người và lòng say mê với sự nghiệp phát triển con người. 4 Tiểu luận Tâm lý học GVHD: Dương Thị Linh Dạy học là nghề làm việc với con người, người giáo viên phải có tình yêu con người mới có thể hoạt động hiệu quả. Tình yêu này thể hiện qua hứng thú khi tiếp xúc với con người, chia sẻ, tìm hiểu vấn đề của con người, phấn chấn khi làm việc với con người, sẵn sàng chia sẻ khó khăn với con người. Đặc biệt tình yêu con người của người giáo viên thể hiện ở sự thấu hiểu, thông cảm, sẵn sàng giúp đỡ con người vượt qua khó khăn. Đối với học sinh, tình yêu con người thể hiện ở sự say sưa làm việc với học sinh, hạnh phúc khi giúp đỡ học sinh và nhận thấy sự tiến bộ của học sinh, trăn trở trước những thất bại, vấp váp của học sinh, chia sẻ buồn vui và cùng người học sinh vượt qua khó khăn trong học tập. Người giáo viên say mê với sự phát triển con người, luôn hết lòng vì sự phát triển của học sinh, nghiên cứu, tìm hiểu, ứng dụng tiến bộ khoa học vào giáo dục và dạy học vì học sinh. Tôi luôn tự hỏi, nếu như một người giáo viên không có tình yêu thương đối với học sinh của mình, anh ta sẽ dạy học bằng cách nào? Từ thực tế công việc dạy học tình nguyện cho trẻ em mồ côi ở làng trẻ SOS (Vinh), tôi nhận thấy rằng: Tình yêu con người và lòng say mê với sự nghiệp phát triển con người là cốt lõi của chất lượng giảng dạy. Vì tình thương, vì ước muốn vun đắp, bồi dưỡng các em, chúng tôi dốc hết sức mình để giúp đỡ các em, xem việc nhìn thấy sự tiến bộ từng ngày của các em là thù lao lớn nhất cho những vất vả, công lao mình đã bỏ ra. 1.2.2. Ứng xử công bằng và tạo cơ hội cho mọi học sinh phát triển. Ứng xử công bằng thể hiện đạo đức của nhà giáo không thiên vị, định kiến với bất kì học sinh nào. Ứng xử công bằng và tạo cơ hội cho mọi học sinh phát triển, tạo ra môi trường thân thiện giúp học sinh vượt qua mặc cảm yếu kém, phân biệt đối xử do vị thế kinh tế, xã hội, dân tộc. Ứng xử công bằng thể hiện ở những điểm sau: – Không thành kiến với học sinh cho dù họ chưa đạt kết quả như mong muốn mà vẫn tiếp tục giúp đỡ học sinh phát triển theo hướng tích cực. – Không phân biệt đối xử với học sinh, không phân biệt hoàn cảnh xuất thân, thành tích học tập và hành vi đạo đức. – Đánh giá khách quan kết quả học tập cũng như rèn luyện của học sinh. – Kiểm soát tốt cảm xúc, chia sẻ, thông cảm với học sinh. Ứng xử công bằng góp phần thu hẹp khoảng cách thầy – trò. Mặc dù vậy, mỗi con người đều không thể tránh khỏi những thiên vị trong tình cảm. Bản thân tôi cũng có những thái độ yêu ghét rạch ròi. Tuy nhiên, tôi cũng nhận thấy rằng, sự thiên vị trong cách ứng xử của giáo viên có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành nhân cách của học sinh. Trong suốt quá trình học phổ thông, tôi đã từng chứng kiến nhiều học sinh vì bất mãn với thầy cô mà trở nên sa ngã. N.V.T là bạn học cấp III của tôi, vì học kém môn Anh nên không những không được cảm thông và giúp đỡ, T còn thường xuyên bị chỉ trích thậm tệ, thậm chí xúc phạm đến nhân phẩm cá nhân. Suốt một thời gian dài, T bị trầm cảm nặng. Thiết nghĩ, đạo đức nhà giáo ở đâu? Vẫn biết rằng tình cảm cá nhân mỗi chúng ta ai ai cũng có, nhưng cần phải biết kiềm chế, giữ ở mức độ vừa phải để các em học sinh thấy rằng: các em vẫn được yêu thương, quan tâm và giúp đỡ một cách bình đẳng. 1.2.3. Tính tích cực xã hội. Tính tích cực xã hội thể hiện trong sự tham gia vào các côn việc của xã hội, tìm hiểu, tham gia tọa đàm, tham gia vào các hoạt động tuyên truyền, giáo dục trong xã hội, tham gia vào các phong trào vận động vì môi trường xanh-sạch-đẹp, đóng góp ý kiến, hiến kế hoạch cho việc giải quyết các vấn đề xã hội, tham gia phản biện xã hội. 5 Tiểu luận Tâm lý học GVHD: Dương Thị Linh Tính tích cực xã hội thể hiện tính xã hội của con người, thể hiện vai trò chủ thể của người giáo viên làm chủ trong tương lai, vận mệnh của mình trong xã hội cũng như đóng góp một phần sức lực của mình vào sự phát triển xã hội. Mỗi giáo viên là tấm gương về cách ứng xử cho học sinh. Giáo viên tham gia tích cực các hoạt động xã hội tạo nên động lực, thúc đẩy các em tham gia. Cô Nguyễn Thị Nga, phụ trách Đoàn Thanh Niên trường THPT Phan Đăng Lưu, Yên Thành là một ví dụ mẫu mực. Nhờ sự dẫn dắt của cô, trường tôi luôn đứng đầu huyện về thành tích hoạt động xã hội. Học sinh hưởng ứng tích cực các phong trào Đoàn như “Thanh niên vì môi trường”, “Ngày vì người nghèo”, “An toàn giao thông” 1.2.4. Tự ý thức và tự giáo dục cao. Giáo viên là nhà giáo dục đồng thời phải có khả năng tự ý thức và tự giáo dục. Tự ý thức được coi là phương tiện tự điều chỉnh của chủ thể. Người giáo viên phải ý thức được bản thân trong các mối quan hệ sau đây: – Ý thức về đạo đức của bản thân, nhận biết và đánh giá được hệ giá trị, thái độ của bản thân đối với con người, cái thiện và cái ác, cái tốt và cái xấu, sự phù hợp của quan niệm, hệ giá trị của bản thân so với hệ thống chuẩn mực xã hội. – Ý thức về hành vi của bản thân, sự phù hợp hay không phù hợp so với chuẩn mực, phương thức ứng xử được chấp nhận, độc lập đánh giá hành vi của mình trên cơ sở những chuẩn mực đã được chấp nhận. – Ý thức về bản thân như là chủ thể hoạt động, ý thức về trách nhiệm và vai trò của nhà giáo trong xã hội, trách nhiệm của bản thân như một người thầy, đánh giá về trách nhiệm, vai trò của mình, hiệu quả hoạt động, sản phẩm và con đường cải thiện hoạt động. – Đánh giá bản thân trong mối quan hệ với môi trường lao động, môi trường sống với tư cách là nhà giáo, người công dân. – Ý thức về sự phát triển bản thân theo thời gian, về những thành công và thất bại, yếu kém cần khắc phục. 1.3. Các yêu cầu về năng lực của người giáo viên. 1.3.1. Năng lực dạy học. Để có thể thực hiện được tốt hoạt động dạy học, người giáo viên phải có: – Hiểu biết và kiến thức chuyên ngành môn dạy: Giáo viên phải là chuyên gia trong lĩnh vực mình giảng dạy.Hiểu biết về lĩnh vực chuyên nghành này chính là hiểu biết về hệ thông kiến thức về nội dung môn học, các phương pháp khoa học trong nghiên cứu,khám phá và ứng dụng các kiến thức đó trong thực tiễn.Nhà giáo phải có khả năng tham gia nghiên cứu khoa học và và ứng dụng các kiến thức chuyên nghành vào thực tiễn. Tuy nhiên,đối với nhà giáo thì như thế là chưa đủ. Những kiến thức đó phải được người giáo viên thấm nhuần, hệ thống hoá,khái quát hoá,chế biến để có thể truyền cho học sinh theo cách dễ hiểu nhất,dễ ghi nhớ nhất. – Năng lực tổ chức quá trình dạy học:. – Kiến thức hiểu biết về học sinh, khả năng đánh giá người học. – Năng lực ngôn ngữ. – Năng lực sử dụng kĩ thuật dạy học. Thầy Phan Bá Nghĩa- giáo viên môn Vật lý trường THPT Phan Đăng Lưu là tấm gương về năng lực dạy học tốt. Được vinh dự theo học bộ môn của thầy trong 3 năm cấp III, thầy để lại trong tôi nhiều ấn tượng tốt đẹp. Suốt 30 năm đứng trên bục giảng, thầy đào tạo nên nhiều thế hệ nhân tài, gặt hái nhiều thành tích trong các kì thi Vật lí Quốc gia cũng 6 Tiểu luận Tâm lý học GVHD: Dương Thị Linh như Quốc tế. Có được thành tích này là nhờ phương pháp dạy học logic, có hiệu quả của thầy. Thầy luôn chú trọng giảng dạy về kĩ năng và phương pháp, như các phương pháp giải nhanh và các cách giải đặc thù cho từng dạng đề; sử dụng ngôn ngữ phổ thông, dễ hiểu và diễn đạt súc tích, hài hước. Do đó, thầy luôn đi đầu trong công tác giảng dạy chuyên môn trong toàn huyện cũng như tỉnh. 1.3.2. Năng lực giáo dục. Vấn đề giáo dục bao giờ cũng quan trọng vì hoạt động giáo dục trong nhà trường góp phần quan trọng nhất tạo ra định hướng nhân cách đúng đắn cho học sinh, tạo dựng hệ giá trị, chuẩn mực đạo đức và hệ thống hành vi phù hợp. Năng lực giáo dục ở giáo viên bao gồm: – Có hiểu biết và kiến thức, kỹ năng về giáo dục và quá trình giáo dục. – Có năng lực giao tiếp sư phạm. – Có kĩ năng định hướng giao tiếp. – Có kĩ năng định vị. – Có kĩ năng làm chủ trạng thái, cảm xúc của bản thân, vượt qua những trạng thái cảm xúc khó khăn trong giao tiếp. – Có kỹ năng sử dụng phương tiện giao tiếp. – Có năng lực nhận biết, đánh giá phẩm chất nhân cách, tính cách học sinh. – Có năng lực cảm hóa, thay đổi nhân cách theo mô hình mong muốn. – Có năng lực tự giáo dục và làm gương. Trong năm học qua, tôi đã được học hỏi rất nhiều từ giảng viên các bộ môn ở Đại Học Vinh. Đặc biệt, khi mới tiếp xúc với một số thầy cô, thấy các thầy cô khá nghiêm khắc, tôi hết sức lo lắng. Lấy ví dụ như bộ môn Tâm lý học, tôi khá trăn trở vì đây là môn học khó, nhiều khi rất muốn từ bỏ. Nhưng sau một thời gian học tập, nhận được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình từ cô giáo, tôi đã dần làm quen và cảm thấy yêu thích đối với bộ môn. Cô hiểu rõ tiềm năng cũng như yếu kém để áp dụng những biện pháp giáo dục linh hoạt với từng sinh viên. Hơn nữa, cô hết lòng truyền thụ những kiến thức sư phạm với niềm say mê và tinh thần trách nhiệm. Sự nghiêm túc, không vụ lợi khiến cho sinh viên ngày càng yêu quý, gắn bó với cô cũng như bộ môn Tâm lý học. 1.4 Con đường hình thành nhân cách và uy tín của người giáo viên. 1.4.1. Nhân cách. Nhân cách (phẩm chất và năng lực) có thể được hình thành và phát triển trong giai đoạn học tập ở trong trường đại học và giai đoạn học tập nghề nghiệp sau khi ra trường. Quá trình trưởng thành đòi hỏi sự phấn đấu không ngừng nghỉ, liên tục học hỏi, trau dồi kiến thức và đạo đức. Gonbolin(1979) viết “không chỉ những con người bình thường mà ngay cả những bộ óc vĩ đại nếu không thường xuyên tự bồi dưỡng cũng sẽ dần dần mất hết nhu cầu trí tuệ và hứng thú tinh thần”.Vậy việc nâng cao trình độ, rèn luyện phẩm chất của người giáo viên phải được tiến hành thường xuyên, nghiêm túc. Hình thành nhân cách trong giai đoạn học tập ở trường đại học. 7 Tiểu luận Tâm lý học GVHD: Dương Thị Linh Có những quan điểm quan niệm khác nhau về việc đào tạo giáo viên.Quan niệm truyền thống cho rằng: đào tạo giáo viên phải được tổ chức trong trường sư phạm, ở đó sinh viên được cung cấp kiến thức về những môn khoa học chuyên ngành và kiến thức về các khoa học giáo dục, trong đó có kiến thức về tâm lý học. Ngày nay, quá trình đào tạo được tổ chức mềm dẻo hơn, theo mô đun kiến thức. Sinh viên có thể tiếp thu kiến thức khoa học giáo dục một cách độc lập, thậm chí sau khi hoàn thành chương trình đại học một chuyên nghành nhất định. Cho dù chọn con đường tổ chức quá trình đào tạo được diễn ra như thế nào đi chăng nữa,kiến thức các môn học mà giáo viên sẽ giảng dạy là điều kiện cần nhưng chưa đủ. Người giáo viên cần tiếp thu những kiến thức về khoa học giáo dục, nâng cao tay nghề sư phạm,hình thành và phát triển phẩm chất nhân cách,năng lực dạy học và giáo dục phù hợp. Tuy mới chỉ là sinh viên năm nhất, nhưng tôi tự ý thức được tầm quan trọng của việc trau dồi nhân cách ngay trong những năm học đại học. Tôi tích cực thu nạp kiến thức các thầy cô cung cấp và tận dụng mọi cơ hội để đưa những kiến thức đó vào thực tế, như tham gia dạy học tình nguyện ở làng trẻ SOS, dạy phụ đạo cho học sinh cấp III Chính vì vậy, không những tôi có thêm nhiều kinh nghiệm giảng dạy mà còn được bồi dưỡng niềm say mê nghề nghiệp, yêu thương học trò Hình thành và phát triển nhân cách trong quá trình hành nghề. Bắt đầu hành nghề,người giáo viên cảm thấy những thiếu hụt trong năng lực của cá nhân khi gặp phải những tình huống sư phạm phức tạp.Cùng với đó là sự vận động đi lên từng ngày của các nhu cầu xã hội được phản ánh trong trường học.Ngoài việc tham gia vào các khoá đào tạo cao hơn, người giáo viên phải không ngừng tự học, tự tu dưỡng suốt đời để có đủ trình độ đáp ứng những yêu cầu ngày càng cao của xã hội. Tóm lại, việc học tập nâng cao trình độ, phẩm chất và năng lực của người giáo viên là hoạt động thường ngày,có thể diễn ra ngay từ khi bước vào giảng đường trường đại học.Sự khác biệt là ở chỗ việc học nâng cao năng lực có thể được tiến hành một cách có ý thức,có kế hoạch và sử dụng phương pháp phù hợp. Việc học tập là để trau dồi phẩm chất và nâng cao năng lực bản thân để tổ chức hoạt động dạy học và giáo dục học sinh giúp học sinh có kĩ năng, năng lực và hình thành nhân cách cho học sinh.Dù học theo bất kì hình thức nào thì người giáo viên vẫn là chủ thể của quá trình tiếp thu kiến thức để tăng cường năng lực và chuyển hoá kiến thức nhân loại thành kiến thức và năng lực của bản thân.Đây là quá trình tự giác, có ý thức và được người giáo viên lập kế hoạch chi tiết. 1.4.2. Uy tín. Thầy giáo có xứng đáng là đại diện cho nền văn minh nhân loại, nền giáo dục tiến bộ, cho điều hay lẽ phải hay không thì đều xuất phát từ uy tín của người thầy.Uy tín là tấm lòng và tài năng của thầy giáo, uy tín thực không phải là cái mác hay là vỏ bọc bên ngoài mà nó phải được hình thành từ chính những phẩm chất, năng lực thật sự của thầy giáo. Uy tín được toát lên từ toàn bộ cuộc sống của người thầy, thầy có năng lực và phẩm chất tốt đẹp sẽ được học sinh thừa nhận và kính trọng. Vì có tấm lòng nhân ái thầy mới có tình thương với học sinh, tận tụy với công việc và đạo đức trong sáng, có tài năng thầy mới đạt được hiệu quả cao trong công tác. Cũng có một số giáo viên xây dựng uy tín bằng các thủ đoạn giả tạo như : trấn áp, khoe khoang, vô nguyên tắc hoặc nuông chiều học sinh. Có thể họ cũng tạo được uy tín nhưng rồi một sớm một chiều sẽ thất bại bởi bản chất là không có thật. Nhờ có uy tín thực mà thầy giáo có ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến đời sống học sinh, trở thành hình mẫu lí tưởng cho cuộc đời các em, uy tín soi dẫn các em đi theo thầy. Uy tín 8 Tiểu luận Tâm lý học GVHD: Dương Thị Linh không phải là điều một người thầy dễ dàng có được, nó được hình thành từ lòng yêu nghề, yêu trẻ, tính công bằng, ý chí tiến thủ và phương pháp, kĩ năng dạy học hiệu quả, sáng tạo. 2. Vai trò của nhân cách trong quá trình dạy học. Nhân cách của người thầy đóng vai trò vô cùng quan trọng trong sự nghiệp trồng người. Có lẽ hơn bất kì nghề nghiệp nào khác, nghề dạy học là nghề có trách nhiệm cao nhất bởi lao động của nhà giáo mang tính quyết định, là kim chỉ nam, sợi chỉ đỏ, định hướng cho sự hình thành nhân cách của thế hệ trẻ. Nghề dạy học là nghề nghiệp đặc thù. Nếu như kĩ sư làm việc với máy móc, kiến trúc sư làm việc với bản vẽ, thì giáo viên làm việc với con người. Thành quả sau quá trình lao động phải là những con người hoàn chỉnh. Hơn bất kì một ngành nghề nào khác, nghề giáo không được phép tạo ra thứ phẩm bởi việc làm hỏng một con người là tội lỗi lớn không thể tha thứ. Sản phẩm hoạt động của nhà giáo là tri thức, kĩ năng, kĩ xảo và các phẩm chất, nhân cách được hình thành ở học sinh. Bằng năng lực và nhân cách của mình, giáo viên đã giúp người học chuyển tải nền văn hóa xã hội vào bên trong thành những phẩm chất, năng lực thông qua hoạt động học tập của học sinh. Nhờ có năng lực, nhà giáo nắm bắt được đối tượng, thiết kế được mô hình nhân cách tương lai của học sinh, sử dụng những tác động phù hợp và phát huy được tính chủ thể của học sinh. Nhờ có phẩm chất tốt đẹp, nhà giáo trở thành tâm gương, là hình mẫu cho học sinh noi theo. Theo Usinxki: “Nhân cách của người thầy là sức mạnh có ảnh hưởng to lớn đối với học sinh. Sức mạnh đó không thể thay thế bởi bất kì cuốn sách giáo khoa nào, bất kì câu chuyện, châm ngôn đạo đức, bất kì một hệ thống khen thưởng hay trách phạt nào khác”. Trong suốt 12 năm học phổ thông, tôi nhận thấy bản thân mình chịu ảnh hưởng rất nhiều từ các giáo viên. Không thể phủ nhận rằng, tình cảm đối với từng giáo viên hầu như chi phối thái độ học của tôi đối với bộ môn họ dạy. Tôi chọn con đường trở thành giáo viên dạy Hóa học, một phần vì lòng kính yêu và biết ơn đối với thầy Truyền- người đã thổi bùng lên trong tôi tình yêu đối với bộ môn. Thầy giáo tốt là một con đường sáng, đưa học sinh tới cái đích tốt đẹp. 3. Nhân cách người giáo viên trong xã hội hiện nay. Nhân cách của người giáo viên luôn là vấn đề được xã hội hết sức quan tâm. Theo quan niệm truyền thống phương Đông, người thầy giữ vai trò thứ hai trong cương thường “Quân, sư, phụ”. Ngày nay, sự biến đổi của nền kinh tế-xã hội đã tác động không nhỏ tới đời sống đạo đức nói chung và đạo đức người thầy nói riêng, trong đó bên cạnh tác động tích cực vẫn tồn tại nhiều ảnh hưởng tiêu cực. Sau đây, tôi sẽ đi sâu hơn về vấn đề này. 3.1. Tích cực. Trong xã hội Việt Nam chúng ta ngày nay cũng có rất nhiều thầy, cô giáo đã thấm nhuần đạo đức của nghề thầy giáo và hàng ngày, hàng giờ đang học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ chí Minh, họ không màng danh lợi, hy sinh tất cả cho sự nghiệp trồng người. Trong số đó tiêu biểu có cô Vũ Thị Tứ, giáo viên Trường THPT DTNT Quỳ Châu (Nghệ An)- trường hiện nay em họ tôi đang theo học. Với tấm lòng yêu nghề, yêu trò, từ khi mới ra trường cô đã tình nguyện lên vùng núi cao Quỳ Châu để dạy cái chữ cho con em nơi đây. Không những thế cô còn giúp các em có hoàn cảnh khó khăn, phải bỏ học có điều kiện đến trường bằng cách nhận nuôi các em. Suốt ba năm học cấp ba, em tôi- một học 9 Tiểu luận Tâm lý học GVHD: Dương Thị Linh sinh thuộc diện hộ nghèo của xã đã được cô Tứ giúp đỡ nhiệt tình và nhận được học bổng vì có thành tích học tập tốt. Với nhiệt tình và tài đức của mình, cô Vũ Thị Tứ đã giành được nhiều thành tích xuất sắc trong việc dạy học. Khi được hỏi về mình, cô chỉ khiêm tốn trả lời, “Những việc làm của em là từ tấm lòng và bản thân cũng chưa làm được gì nhiều…” Rồi việc thầy giáo Lê Văn Tùng, người bạn học cùng lớp suốt 4 năm đại học của mẹ tôi, hàng năm khi tới mùa mưa lũ, thấy các em học sinh của mình phải oằn mình vượt qua dòng lũ để tới trường với ước mơ cháy bỏng được đi học để trở thành người có ích cho xã hội. Cảm nhận được sự vất vả, khó khăn thậm chí là phải chứng kiến cảnh tang thương khi học trò của mình bỏ mạng trong dòng lũ, thầy đã nghĩ ra một cách để giúp các em tới trường an toàn. Là một giáo viên dạy môn giáo dục thể chất của trường THPT Thanh Chương I, bằng nghiệp vụ của mình, thầy đã tự đứng ra mở lớp học bơi cho học sinh để phòng đuối nước, giúp phụ huynh yên tâm cho trẻ đến trường. Việc làm này đã thu hút được nhiều học sinh và phụ huynh đồng tình hưởng ứng. Đây là việc làm thiết thực xuất phát từ cái tâm, cái tài của người thầy. Mẹ thường kể về thầy là một người thầy mẫu mực, và mong muốn tôi noi theo tấm gương ấy để trở thành người giáo viên tốt. Hơn bao giờ hết tôi rất tự hào khi mình được học tập dưới mái trường mang tên đồng chí Phan Đăng Lưu, ngôi trường nghèo nhưng có truyền thống hiếu học. Bằng chính bằng nhân cách cao đẹp của mình, nhiều thầy cô trong trường đã đào tạo ra những thế hệ học trò có tài,có đức. Nói về tấm gương tiêu biểu cho nhân cách nhà giáo, cả thầy và trò trong trường không khỏi bùi ngùi khi nhắc tới thầy giáo Hoàng Tiến Sĩ. Trong suốt quá trình dạy học, thầy đã chứng tỏ được nhân cách cao đẹp, thầy luôn được học sinh và phụ huynh quý trọng, các đồng nghiệp tin tưởng và khâm phục. Thầy luôn tận tâm với nghề, tận tình giúp đỡ học sinh, coi học sinh như người con trong gia đình, bằng những đồng lương ít ỏi của mình thầy giúp đỡ cho học sinh nghèo hiếu học. Hơn thế nữa, thầy mở lớp học thêm cho những học sinh có hoàn cảnh khó khăn, thầy đến từng nhà các em học sinh đó động viên, vận động các em đi học….Là một thầy giáo trẻ tuổi đời còn chưa đến 35 nhưng thầy đã ra đi quá sớm, để lại cho toàn bộ học sinh và tập thể giáo viên trong trường những thương tiếc,đau buồn,xót xa, Bên cạnh tấm gương của thầy còn có cô giáo Phan Thị Sắc- giáo viên dạy văn lớp 12 của tôi. Có lẽ lớp tôi đã lấy đi không ít những giọt nước mắt của cô, vui có, buồn có.Vui là khi cô thấy chúng tôi hiểu bài, tích cực học tập. Nói đến đây, tôi lại thấy có lỗi với cô vô cùng. Nhớ đến những ngày đầu cô mới vào dạy, lớp tôi nào có đứa nào chịu học văn, suốt buổi học chỉ nghe tiếng lách cách của bàn phím máy tính, những quyển đề thi toán, lí, hoá trải đầy bàn, mỗi người một việc. Tuy nhiên, bằng sự kiên nhẫn, lòng yêu nghề, cô đã đưa chúng tôi đi vào quỹ đạo. Cô luôn nhẹ nhàng phân tích cái đúng, cái sai cho chúng tôi hiểu và sửa chữa. Tôi còn nhớ hình ảnh cô vội lau đi những giọt nước mắt khi buổi học thêm chỉ có vài người, hình ảnh những giọt mồ hôi lấm tấm trên trán cô nhưng khuôn mặt cô luôn hiện hữu những nụ cười thật hiền hậu, ấm áp, Chính những điều trên làm cho lớp tôi không còn ghét môn văn như trước nữa. Bằng nhân cách tốt đẹp của mình, các thầy cô đã tạo ra những mầm non cho đất nước, đào tạo ra những con người có nhân cách tốt đẹp, góp phần vào công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước. 3.3. Tiêu cực 10 […]… nhân cách người giáo viên 4 1.2 Các yêu cầu về phẩm chất người giáo viên 4 1.3 Các yêu cầu về năng lực người giáo viên 6 1.4 Con đường hình thành nhân cách của người giáo viên 7 2 Vai trò của nhân cách trong quá trình dạy học .9 3 Nhân cách của người giáo viên trong xã hội hiện nay 3.1 Tích cực 9 3.2 Tiêu cực 10 4 Bàn luận về trau dồi đạo đức, nhân cách người giáo viên . .. những người có học thức trong môi trường sư phạm Có một nguyên tắc mà bất cứ người thầy nào cũng phải ghi nhớ là: “Dùng nhân cách để giáo dục nhân cách Nguyên tắc này vạch rõ rằng trong nhà trường, học sinh không chỉ học ở sách giáo khoa mà quan trọng hơn, các em còn được học từ nhân cách những người thầy của mình Nhân cách của thầy thì luôn được phơi bày trước toàn thể học sinh qua ngôn từ và cách. .. nan Thầy giáo là người ươm mầm nhân cách học sinh Công cụ chủ yếu của giáo dục là nhân cách của người thầy, cho nên nghề giáo đòi hỏi thầy giáo về những phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn rất cao Người làm công tác giảng dạy phải luôn luôn nâng cao kiến thức để truyền đạt cho học sinh Để hoàn thành sứ mệnh cao cả của mình, mỗi người thầy phải luôn làm tốt công tác “dạy chữ, dạy nghề, dạy người … Hằng năm các cơ sở giáo dục đều tiến hành bồi dưỡng năng lực giáo viên nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục, nhưng dường như chưa có đổi mới trong cách dạy, hình thức còn phiến diện Ví dụ, nhiều giáo viên vẫn còn áp dụng phương pháp dạy học truyền thống: Giáo viên đọc, học sinh chép và học thuộc Giáo viên dạy sử cấp III của tôi (xin phép được giấu tên) là người có tư tưởng khá bảo thủ trong cách dạy học Giờ… giáo dục Tuy nhiên, khi xử lý những giáo viên có ngôn ngữ và cách ứng xử phản sư phạm, các cấp quản lý giáo dục cần hết sức thận trọng và khách quan để phân biệt đó là những lỗi lầm bột phát nhất thời của một giáo viên nóng nảy hay là bản chất sẵn có của một người có nhân cách thấp kém Nếu đó chỉ là lỗi lầm bột phát nhất thời thì cần dành cho giáo viên đó cơ hội sửa chữa theo tinh thần “những nhà giáo. .. dù người giáo viên đó có kiến thức rộng và sâu bao nhiêu đi chăng nữa cũng khó có thể trở thành người giáo viên tốt được Chính lòng yêu nghề vừa là động lực, vừa là mục tiêu giúp người giáo viên tìm ra những phương pháp, biện pháp giảng bài thiết thực Với lòng yêu nghề, với hành trang kiến thức sư phạm, với trách nhiệm cao cả đối với học sinh sẽ giúp người giáo viên có động lực phấn đấu trở thành giáo. .. viên giỏi, người giáo viên tốt Người giáo viên phải thường xuyên học tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ (tích cực tham gia hội giảng, hội thảo, hội thi…), thường xuyên trau dồi, nâng cao kiến thức về ngoại ngữ, tin học để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục Người giáo viên tốt phải có quan điểm luôn coi học trò là trung tâm của quá trình giáo. .. cô nào đáng quý trọng để noi theo, giáo viên nào không đáng gọi là thầy Một nguyên tắc giáo dục khác mà người thầy luôn ghi nhớ là: “Phải tôn trọng nhân cách học sinh” Mặc dù học sinh có hành vi và lời nói như thế nào đi nữa, người thầy cũng không được xúc phạm nhân cách các em bằng những lời lẽ thô bỉ và hành động thô bạo để “trả đũa” học sinh của mình Khi bị giáo viên mạt sát bằng câu “Ai sủa trong… cho xã hội 4 Bàn luận về trau dồi đạo đức, nhân cách người giáo viên 4.1 Như thế nào là người thầy tốt? Trong mọi giai đoạn lịch sử, người thầy bao giờ cũng được xã hội tôn vinh và kính trọng, nghề giáo được coi là nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý Để xứng đáng với sự tôn vinh đó, người thầy phải thật sự mẫu mực, dạy người, dạy chữ Ai trong nghề thầy giáo , ai làm việc với đầy đủ tinh thần trách… ra, người thầy còn phải có cái “Đức”, “Đức” là yêu cầu không thể thiếu đối với mỗi giảng viên Có “Tâm”, có “Tài” cũng chưa là người thầy tốt Bác Hồ đã từng nói: “Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó, có tài mà không có đức là người vô dụng” Càng quan trọng đối với lĩnh vực giáo dục, để tạo ra nhân cách người học thì trước hết người thầy phải biết thuyết phục học sinh bằng chính nhân cách . Thế nào là nhân cách người giáo viên 4 1.2. Các yêu cầu về phẩm chất người giáo viên 4 1.3. Các yêu cầu về năng lực người giáo viên 6 1.4. Con đường hình thành nhân cách của người giáo viên 7 2 quan. 1.1. Thế nào là nhân cách của người giáo viên? Nhân cách là tổng thể phẩm chất và năng lực tạo nên bản sắc và giá trị tinh thần của mỗi cá nhân. Khi nói đến nhân cách người giáo viên, ta nhắc. của nhân cách trong quá trình dạy học 9 3. Nhân cách của người giáo viên trong xã hội hiện nay. 3.1. Tích cực 9 3.2. Tiêu cực 10 4. Bàn luận về trau dồi đạo đức, nhân cách người giáo viên.

Xem thêm :  Phim Hoạt Hinh Nhat Ban
Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Giáo Dục

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button