Wiki

Luận án ngôn ngữ học lục bát và ngôn ngữ thơ lục bát đồng đức bốn

Luận án ngôn ngữ học lục bát và ngôn ngữ thơ lục bát đồng đức bốn

pdf – 193 trang

VIỆN HÀN LÂM

KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THỊ THÚY LIỄU

LỤC BÁT VÀ NGÔN NGỮ THƠ LỤC BÁT

ĐỒNG ĐỨC BỐN

Chuyên ngành: Ngôn ngữ học

Mã số: 62.22.02.40

Người hướng dẫn khoa học:

PGS. TS. Phạm Văn Tình

Hà Nội, 2016

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố

trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.

Học viên

Trần Thị Thúy Liễu

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các phụ lục

Danh mục sơ đồ

MỞ ĐẦU ………………………………………………………………………………………………………… 1

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THƠ LỤC BÁT, THƠ LỤC

BÁT ĐỒNG ĐỨC BỐN VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA LUẬN ÁN …………………………. 7

1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu thơ lục bát, thơ lục bát Đồng Đức Bốn ……… 7

1.2. Các vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài …………………………………………………. 15

1.3. Tiểu kết …………………………………………………………………………………………………… 37

Chương 2: VẦN VÀ NHỊP TRONG THƠ LỤC BÁT ĐỒNG ĐỨC BỐN ……….. 39

2.1. Vần trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn ……………………………………………………….. 39

2.2. Nhịp điệu trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn ………………………………………………. 69

2.3. Tiểu kết ………………………………………………………………………………………………….. 82

Chương 3: LUẬT PHỐI THANH TRONG THƠ LỤC BÁT ĐỒNG ĐỨC BỐN … 83

3.1. Dẫn nhập ……………………………………………………………………………………………….. 83

3.2. Luật phối thanh trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn ……………………………………. 85

3.3. Luật phối thanh trong lục bát truyền thống và trong lục bát Đồng Đức Bốn .. 108

3.4. Tiểu kết …………………………………………………………………………………………………. 113

Chương 4: CẤU TỨ VÀ NGÔN TỪ – MỘT SỐ PHƯƠNG THỨC TẠO NGHĨA

TRONG THƠ LỤC BÁT ĐỒNG ĐỨC BỐN ………………………………………………………….. 115

4.1. Cấu tứ và ngôn từ trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn ………………………………… 115

4.2. Một số biện pháp tu từ từ vựng ngữ nghĩa và cỳ phỏp trong thơ lục bát

Đồng Đức Bốn ……………………………………………………………………………………………… 127

4.3. Tiểu kết …………………………………………………………………………………………………. 144

KẾT LUẬN ………………………………………………………………………………………………… 146

CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÍ HIỆU

tr: trang.

VD: ví dụ.

ĐĐB: Đồng Đức Bốn.

B: thanh bằng ở các tiếng có vị trí 1,3,5.

b: thanh bằng ở các tiếng có vị trí 2,4,6,7.

T: thanh trắc ở các tiếng có vị trí 1,3,5.

t: thanh trắc ở các tiếng có vị trí 2,4,6,7.

DANH MỤC BẢNG

2.1: Các loại vần xét theo vị trí của tiếng hiệp vần ………………………………………… 40

2.2: Các loại vần xét theo âm vực thanh điệu ………………………………………………… 43

2.3: So sánh các kiểu cặp vần trong loại vần chính thơ lục bát Đồng Đức Bốn với

các kiểu vần trong âm tiết tiếng Việt ………………………………………………………………… 46

2.4: So sánh các kiểu nguyên âm chính trong vần chính lục bát ĐĐB với các kiểu

nguyên âm chính trong âm tiết tiếng Việt ………………………………………………………….. 46

2.5: So sánh các kiểu nguyên âm chính (nguyên âm đôi) trong vần chính lục bát

ĐĐB với các kiểu nguyên âm chính (nguyên âm đôi) trong âm tiết tiếng Việt ………. 47

2.6: So sánh các âm chính (là nguyên âm đôi) trong vần chính lục bát ĐĐB với âm

chính là nguyên âm đơn trong vần âm tiết tiếng Việt ………………………………………….. 47

2.7: So sánh các âm chính hiệp vần mở trong loại vần chính thơ lục bát ĐĐB …. 48

2.8: So sánh âm chính hiệp vần nửa mở trong loại vần chính thơ lục bát ĐĐB với

các âm chính vần nửa mở trong âm tiết tiếng Việt ……………………………………………… 49

2.9: So sánh âm chính hiệp vần nửa khép trong vần chính thơ lục bát ĐĐB với âm

chính trong vần âm tiết tiếng Việt …………………………………………………………………….. 49

2.10: So sánh âm cuối kết hợp với âm chính trong âm tiết tiếng Việt và các âm

cuối tham gia các vần chính của thơ lục bát ĐĐB ………………………………………………. 49

2.11: So sánh giữa kiểu vần trong vần chính thơ lục bát ĐĐB với kiểu vần trong âm

tiết tiếng Việt …………………………………………………………………………………………………. 51

2.12: So sánh kiểu cặp vần thông lục bát ĐĐB với vần âm tiết ……………………….. 54

213: So sánh giữa kiểu vần trong vần thông lục bát ĐĐB và kiểu vần trong âm tiết

tiếng Việt ………………………………………………………………………………………………………. 55

2.14 : Hiệp vần thông của các âm chính …………………………………………………………. 55

2.15 : Hiệp vần thông của các nguyên âm- âm chính cùng dòng ……………………….. 56

2.16 : Hiệp vần thông của các âm chính giống nhau ………………………………………… 57

2.17 : Hiệp vần thông của các nguyên âm- âm chính cùng độ mở ……………………… 57

2.18 : Hiệp vần thông của các nguyên âm- âm chính không cùng dòng không cùng độ

mở ………………………………………………………………………………………………………………… 58

2.19: Hiệp vần thông của các âm cuối ……………………………………………………………. 58

2.20: Các loại vần trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn xét theo mức độ hoà âm ……… 62

2.21: So sánh kiểu vần trong thơ lục bát với kiểu vần âm tiết ……………………………. 62

2.2.2: So sánh kiểu vần thơ lục bát Đồng Đức Bốn và vần âm tiết tiếng Việt ……… 62

3.1: Mô hình lý tưởng luật phối thanh truyền thống ………………………………………… 86

3.2: Phối thanh tiếng thứ ba trong câu lục ………………………………………………………. 88

3.3: Phối thanh tiếng thứ tư trong câu lục ………………………………………………………… 89

4.1:

thống kê từ và chữ……………………………………………………………………………… 124

4.2: Mô hình cấu trúc so sánh tu từ ……………………………………………………………….. 129

DANH MỤC SƠ ĐỒ

1.1. Mô hình vần thơ trong thể thơ lục bát truyền thống ………………………………………. 31

3.1. Phân bước dòng thơ, bậc bước thơ, bậc vị trí ……………………………………………….. 84

3.2. Sơ đồ luân phiên thanh điệu theo tiếng chính ……………………………………………….. 84

3.3. Sắp đặt tiếng bằng, tiếng chắc theo âm luật ………………………………………………….. 85

3.4. Sự phân bố bằng chắc ở vị trí tam, ngũ, thất…………………………………………………. 91

3.5. Sự phân bố bằng chắc ở vị trí nhất, tam, ngũ, thất …………………………………………. 92

DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC

2.1: Phân loại vần trong âm tiết tiếng Việt

2.2: Phân loại khuôn vần âm tiết tiếng Việt theo kiểu kết thúc của vần

2.3: Các kiểu nguyên âm chính trong vần âm tiết tiếng Việt

2.4: Thống kê các loại nhịp trong câu lục, thơ lục bát Đồng Đức Bốn

2.5: Thống kê các loại nhịp trong câu bát, thơ lục bát Đồng Đức Bốn

2.6: Thống kê các loại nhịp trong cặp câu lục bát, thơ lục bát Đồng Đức Bốn

2.7: Phối thanh trong câu lục, thơ lục bát Đồng Đức Bốn

2.8: Phối thanh trong câu bát, thơ lục bát Đồng Đức Bốn

2.9: Phối thanh trong cặp lục bát, thơ lục bát Đồng Đức Bốn

2.10: Thống kê các câu lục lệch chuẩn trong truyện Kiều của Nguyễn Du

Tổng cộng: 10

phần phụ lục

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

1.1. Lục bát là thể thơ rất gần gũi, quen thuộc với mọi người dân Việt Nam. Một nhà

thơ chọn thể thơ này nghĩa là chấp nhận một thử thách về tài năng và năng lực tìm tòi

cái mới trong tư duy thơ. Đồng Đức Bốn là một nhà thơ lục bát chính danh. Sự xuất

hiện của Đồng Đức Bốn đã đem lại cho thơ lục bát, thơ truyền thống một sức sống

mới, góp phần khẳng định giá trị lâu bền của thể loại thơ này trong dòng thơ dân tộc.

Bằng những tình cảm “ngẩn ngơ, ngây ngất, dại khờ” và bằng giọng điệu nửa quê,

nửa tỉnh, Đồng Đức Bốn đã làm mới một thể thơ tưởng như đã cũ. Có lẽ không quá

lời khi Nguyễn Huy Thiệp viết: Đồng Đức Bốn vị cứu tinh của thơ lục bát [156]. Có

thể nhận thấy Đồng Đức Bốn làm mới lục bát cổ truyền ở cách ngắt nhịp, dùng từ,

hình ảnh giàu chất thơ,… Sự hiện đại của lục bát Đồng Đức Bốn còn là ở nội lực bên

trong của từng câu thơ, bài thơ. Đã có nhiều nhà nghiên cứu cùng chung một nhận

định: lục bát của Đồng Đức Bốn có một giọng điệu riêng, hiếm và lạ, thực sự chinh

phục được người đọc. Vậy nên, thơ lục bát Đồng Đức Bốn trở thành một đối tượng

nghiên cứu lí tưởng xét từ nhiều góc độ khác nhau, những cách tiếp cận khác nhau,

trong đó có cách tiếp cận của ngôn ngữ học.

1.2. Thơ lục bát của Đồng Đức Bốn chính là hơi thở, là điệu tâm hồn của cuộc sống

hôm nay. Đến với thơ, Đồng Đức Bốn lặng lẽ miệt mài sáng tạo và đã tìm thấy niềm

tin yêu cuộc đời theo cách riêng của mình. Thể hiện điều đó trong các tác phẩm của

mình, Đồng Đức Bốn đã tạo nên một phong cách riêng, một giọng điệu riêng giàu

sức ám ảnh trong thơ mà đặc biệt là thơ lục bát Việt Nam hiện đại. Thơ của Đồng

Đức Bốn xứng đáng được quan tâm nghiên cứu một cách nghiêm túc, đầy đủ, toàn

diện để thấy được đóng góp của thơ ông với nền văn học nước nhà. Chính lí do đó đã

thúc đẩy chúng tôi đi vào nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ thơ lục bát của tác giả

Đồng Đức Bốn. Từ đó, chúng ta thấy được sự khác biệt, sự tài hoa trong việc sử

dụng ngôn ngữ của Đồng Đức Bốn với các nhà thơ khác. Đây là một hướng đi cần

thiết vừa mang tính chuyên sâu vừa mang tính liên ngành.

1.3. Nghiên cứu về thể thơ lục bát hiện nay vẫn còn những khoảng trống có nhu cầu

đòi hỏi được nghiên cứu. Chọn nghiên cứu đề tài “Lục bát và ngôn ngữ trong thơ lục

bát Đồng Đức Bốn”, chúng tôi mong muốn được đưa ra một cách nhìn đầy đủ hơn,

hệ thống hơn mối tương quan biện chứng giữa hình thức và nội dung thể loại thơ lục

bát, về gương mặt thơ độc đáo của tác giả Đồng Đức Bốn dưới góc độ ngôn ngữ thơ

ca.

1

2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1. Mục đích nghiên cứu

2.1.1. Việc nghiên cứu thơ gắn liền với nghiên cứu ngôn ngữ thơ như hình với bóng.

Trước đây, các nhà nghiên cứu, phê bình thơ chủ yếu nghiên cứu thơ từ phương diện

lý luận văn học, theo kinh nghiệm, theo hướng cảm thụ mang tính chủ quan, không

nêu rõ được mối quan hệ biện chứng giữa hình thức biểu đạt sâu xa là ngôn ngữ và

nội dung thơ nên còn có những ý kiến không thống nhất, gây nhiều tranh biện. Nghiên

cứu đặc điểm ngôn ngữ trong tác phẩm thơ ca là chúng ta đi vào nghiên cứu ngôn ngữ

trong hoạt động hành chức của nó. Việc nghiên cứu ngôn ngữ trong hoạt động hành

chức giúp chúng ta thấy được vai trò đặc biệt của ngôn ngữ trong sáng tạo thơ ca. Nói

Xem thêm :  Coolest Things to do in Hongdae (Local’s Guide)

cách khác: việc nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ thơ sẽ góp phần chỉ rõ sự cách tân tư

tưởng thơ, nội dung thơ một cách có cơ sở khoa học.Và ở mỗi tác phẩm thơ ca, vai trò

của ngôn ngữ lại được tác giả thể hiện theo cách riêng của mình. Điều đó giúp người

đọc nhận biết được phong cách cá nhân của từng tác giả.

2.1.2. Không rõ tự bao giờ lục bát ra đời và trở thành âm hưởng chủ đạo của thơ ca

dân tộc. Dù hiện tại còn nhiều quan điểm khác nhau về nguồn gốc của thể thơ lục bát

nhưng lục bát tồn tại và có sức sống lâu bền nhất trong lịch sử văn học Việt Nam. Là

thể thơ truyền thống mang hồn của dân tộc, lục bát từ lâu đã được các nhà nghiên cứu

quan tâm. Tuy thế, các bài viết về sự cách tân và hiện đại hóa thơ lục bát thì lẻ tẻ, rải

rác còn những công trình nghiên cứu văn học theo hướng loại hình- thể loại dưới góc

độ ngôn ngữ học kể cả hai phương diện lý luận và thực tiễn khảo cứu, nhìn chung,

còn ít ỏi và thiếu tính hệ thống. Đây là một khó khăn khi tiếp cận, tìm hiểu về thể loại

văn học, nhất là các thể loại thơ truyền thống đã từng đạt đến giá trị điển phạm trong

văn học trung đại như thể thơ lục bát.

2.1.3. Với đề tài “Lục bát và ngôn ngữ thơ lục bát Đồng Đức Bốn”, luận án tập trung

nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ thơ lục bát của nhà thơ Đồng Đức Bốn trên cơ sở đặc

điểm ngôn ngữ thơ lục bát- một “điểm nóng” của mảng nghiên cứu ngôn ngữ trong

tâm điểm thời gian là thế kỷ XXI- thời kỳ diễn ra sự tự do hóa ngôn ngữ thơ nổi bật

nhất- để tìm hiểu, khai thác và tìm ra sự trường tồn và sức sống của thơ lục bát trong

thời kỳ hội nhập văn hóa sâu rộng của thế kỷ XXI. Luận án chọn hướng nghiên cứu

về lục bát và đặc điểm ngôn ngữ thơ lục bát của Đồng Đức Bốn với mục đích trên sẽ

góp phần làm rõ mối tương quan biện chứng giữa hình thức và nội dung: chính sự

cách tân về hình thức là nhằm thể hiện, phản ánh sự cách tân về nội dung. Hướng

nghiên cứu này không chỉ để nhận thấy bản chất và sự vận động của thể thơ lục bát

2

truyền thống mà còn để thấy được diện mạo đặc sắc của thơ Việt Nam hiện đại khi có

sự tham gia của các thể thơ truyền thống.

2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

Từ mục đích nêu trên, luận án có nhiệm vụ giải quyết những vấn đề sau:

Thứ nhất, làm rõ đặc điểm ngôn ngữ thơ lục bát truyền thống và thơ lục bát Đồng

Đức Bốn; Thu thập, thống kê, xác định tần số xuất hiện các loại vần, nhịp, phối thanh

trong các bài thơ lục bát của Đồng Đức Bốn.

Thứ hai, qua miêu tả và phân tích cách tổ chức vần, nhịp, phối thanh trong thơ lục

bát Đồng Đức Bốn, chỉ ra sự kế thừa và cách tân về hình thức thơ theo khuynh hướng

hiện đại hóa thông qua việc so sánh thơ lục bát hiện đại với thơ lục bát truyền thống;

Xem xét thanh điệu trong mối quan hệ với vần và nhịp để thấy được sự chi phối của

các yếu tố trong việc tổ chức nhạc tính trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn.

Thứ ba, khảo sát việc sử dụng ngôn từ, một số biện pháp tu từ trong thơ lục bát

Đồng Đức Bốn.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Thơ Đồng Đức Bốn chủ yếu là thơ tự do và thơ lục bát nhưng thành công của ông

là ở thể thơ lục bát. Đối tượng nghiên cứu của luận án là đặc điểm ngôn ngữ thơ lục

bát của Đồng Đức Bốn trên cơ sở đặc điểm ngôn ngữ thơ lục bát truyền thống.

3.2. Phạm vi nghiên cứu

Nói về đặc điểm ngôn ngữ thơ, người ta thường nhắc đến các bình diện ngữ âm,

ngữ nghĩa, ngữ pháp được tổ chức có tính nghệ thuật. Với phạm vi rộng như vậy, luận

án sẽ chỉ giới hạn nghiên cứu, khảo sát trong phạm vi sau:

– Nghiên cứu cấu trúc của ngôn ngữ thơ lục bát (tổ chức, mô hình, niêm luật, vần,

nhịp, thanh điệu) là chủ yếu nhưng đồng thời cũng đặt việc nghiên cứu cấu trúc ngôn

ngữ thơ lục bát trong mối tương quan với thi pháp học ngôn ngữ thơ, phân tích diễn

ngôn ngôn ngữ thơ, chức năng ngôn ngữ thơ lục bát…Từ đó có một cách tiếp cận

ngôn ngữ thơ lục bát Đồng Đức Bốn theo hướng ngôn ngữ học rõ ràng hơn.

4. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu luận án

Đây là một đề tài nghiên cứu ngôn ngữ thơ nên phương pháp nghiên cứu chủ đạo

là một hệ phương pháp của ngôn ngữ học ứng dụng vào việc phân tích để nhận ra các

tầng bậc và các mối quan hệ về tổ chức ngôn ngữ bên trong của thể thơ lục bát Đồng

Đức Bốn. Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

3

– Phương pháp miêu tả: phương pháp này sử dụng miêu tả kết hợp với phân tích

mô hình các bài thơ, mô tả về câu thơ, khổ thơ, bài thơ với phép đối thanh điệu bằngtrắc, âm vực cao- thấp, cách gieo vần, luật niêm, miêu tả các khả năng ngắt nhịp thơ.

Đề tài mô tả cấu trúc, mô tả định lượng để có những nghiên cứu định tính về các quan

hệ, phương thức tổ chức và giá trị tạo lập ngôn ngữ thơ lục bát Đồng Đức Bốn.

– Phương pháp phân tích diễn ngôn: phương pháp này nghiên cứu thơ lục bát trong

mối liên hệ đa chiều giữa thơ với người sáng tác, người tiếp nhận, với ngữ cảnh, môi

trường giao tiếp, môi trường tồn tại của thơ lục bát. Đây là phương pháp chính, giữ

vai trò chủ đạo trong việc khảo sát, phân tích giá trị ngôn từ (từ ngữ, câu, liên kết văn

bản) trong một loại văn bản đặc thù là thơ lục bát – một thể thơ độc đáo của Việt Nam.

– Phương pháp phân tích định lượng: thực hiện phương pháp thống kê định lượng

để phục vụ việc mô tả, so sánh và bàn luận về các bình diện của ngôn ngữ thơ lục bát.

– Phương pháp thống kê: được thực hiện để thống kê số lượng, tỉ lệ phần trăm các

trường hợp xuất hiện và không xuất hiện phép đối thanh điệu bằng trắc ở từng cặp lục

bát, bài thơ lục bát của Đồng Đức Bốn và tổng hợp lại, khái quát lên thành các mô

hình; Thống kê các hiện tượng gieo vần ở từng cặp lục bát, các bài thơ lục bát (số

lượng, tỉ lệ phần trăm, mô hình gieo vần); Thống kê về các cách ngắt nhịp câu thơ: xét

cách ngắt nhịp ở câu lục, câu bát, cặp lục bát; đưa ra mô hình các cách ngắt nhịp khác nhau.

– Thủ pháp so sánh: được sử dụng để so sánh đặc điểm ngôn ngữ thơ lục bát Đồng

Đức Bốn với thơ lục bát truyền thống (lục bát trong ca dao, trong Truyện Kiều của

Nguyễn Du, Nguyễn Bính, Nguyễn Duy) để nhận diện cá tính ngôn ngữ thơ lục bát

Đồng Đức Bốn.

5. Đóng góp của luận án

Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu, khảo sát một cách đầy đủ về thơ lục bát của

tác giả Đồng Đức Bốn. Vì vậy, luận án có thể có những đóng góp sau:

Thứ nhất, luận án mong muốn đóng góp vào lý luận ngôn ngữ thơ ở chỗ khảo sát

và tìm kiếm ra những đặc điểm, những vấn đề cụ thể, cơ bản của thơ lục bát hiện đại

như: Sự biến đổi ngôn ngữ thơ lục bát ở vần, nhịp, hài thanh; Đặc điểm phong cách

thơ của tác giả Đồng Đức Bốn, góp phần làm rõ hơn lịch sử ngôn ngữ thơ lục bát hiện

đại Việt Nam: sự cách tân về hình thức nhằm đáp ứng sự phát triển về tư tưởng và sự

đổi mới về nội dung.

Thứ hai, luận án có những đóng góp mới vào việc nghiên cứu ngôn ngữ thơ lục bát

với lối tiếp cận ngôn ngữ học, hướng tới việc nghiên cứu cấu trúc của ngôn ngữ thơ lục

bát (tổ chức, mô hình, niêm luật, vần, nhịp, thanh điệu) là chủ yếu nhưng đồng thời

4

cũng đặt việc nghiên cứu cấu trúc ngôn ngữ thơ lục bát trong mối tương quan với thi

pháp học ngôn ngữ thơ, phân tích diễn ngôn ngôn ngữ thơ, chức năng ngôn ngữ thơ…

Thứ ba, kết quả nghiên cứu của luận án sẽ phủ nhận quan niệm cho rằng: lục bát

được định hình trong ca dao và đến Truyện Kiều thì nó hoàn thành sứ mệnh lịch sử và

nhường chỗ cho thể loại thơ khác. Từ các kết quả nghiên cứu, luận án giúp người đọc

thấy được những đóng góp của Đồng Đức Bốn trong việc làm mới thể thơ lục bát và

khẳng định thể thơ lục bát sẽ trường tồn và phát triển không ngừng bởi nó còn tiềm ẩn

nhiều điều mới lạ trong thi pháp và sẽ được các thế hệ nhà thơ như Đồng Đức Bốn và

các thế hệ tiếp nối khai phá, bồi đắp.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án

6.1. Những kết quả nghiên cứu của chúng tôi trong luận án này giúp góp thêm tư liệu

để chứng minh vào lý luận ngôn ngữ thơ lục bát ở chỗ tìm ra những đặc điểm cụ thể,

cơ bản của thơ lục bát từ truyền thống đến hiện đại, qua đó mở rộng biên độ nhận thức

về phong cách nghệ thuật của Đồng Đức Bốn trong tiến trình đổi mới thơ Việt và

ngôn ngữ thi ca tiếng Việt.

6.2. Những kết quả nghiên cứu là những phân tích, đánh giá dựa trên lượng tư liệu

hạn chế đã được khảo sát cũng như năng lực nghiên cứu còn hạn hẹp của chúng tôi.

Về thơ lục bát và ngôn ngữ thơ lục bát Đồng Đức Bốn vẫn còn nhiều đặc điểm thú vị

mà chúng tôi chưa có điều kiện để khảo sát và nghiên cứu. Đặc biệt là xem xét ngôn

ngữ thơ lục bát Đồng Đức Bốn ở mặt ngữ nghĩa và so sánh đối chiếu với các nhà thơ

lục bát hiện đại. Chúng tôi xem đây là những vấn đề còn bỏ ngỏ và hy vọng có những

nghiên cứu tiếp theo sẽ đề cập đến.

7. Cơ cấu của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, phần nội dung của

Xem thêm :  Những bài thơ về hoa sen, status hay về hoa sen, câu nói hay về hoa sen (2021) ✔️ Cẩm Nang Tiếng Anh ✔️

luận án gồm 4 chương:

Chương I. Tổng quan tình hình nghiên cứu thơ lục bát, lục bát Đồng Đức Bốn và

cơ sở lý thuyết của luận án

Chương này bao gồm phần tổng quan về tình hình nghiên cứu thơ lục bát, lục bát

Đồng Đức Bốn cũng như các nội dung lý thuyết về cấu trúc của thơ lục bát (dạng tồn

tại và nguyên tắc tổ chức cơ bản của thơ: Cặp câu lục bát, bài thơ lục bát).

Chương II. Vần và nhịp trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn

Chương này bao gồm các nội dung sau:

– Khảo sát và miêu tả vần thơ lục bát Đồng Đức Bốn xét theo vị trí tiếng hiệp vần,

theo đường nét thanh điệu, theo mức độ hòa âm.

5

– Khảo sát các cách ngắt nhịp trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn.

– Khái quát những đặc điểm cơ bản của vần và nhịp trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn.

Chương III. Luật phối thanh trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn

Chương này trình bày các nội dung sau:

– Kết quả khảo sát bằng phương pháp định lượng về luật phối thanh, đặc biệt là đối

thanh điệu bằng- trắc, luật niêm trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn.

– Khái quát những đặc trưng cơ bản của luật phối thanh trong thơ lục bát Đồng Đức

Bốn.

Chương IV. Cấu tứ và ngôn từ. Một số biện pháp tu từ trong thơ lục bát Đồng

Đức Bốn

Chương này gồm những nội dung sau:

– Tìm hiểu, khảo sát về cấu tứ và ngôn từ trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn.

– Tìm hiểu một số biện pháp tu từ trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn.

– Khái quát về xu hướng biến đổi ngôn ngữ trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn.

6

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THƠ LỤC BÁT,

THƠ LỤC BÁT ĐỒNG ĐỨC BỐN VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA LUẬN ÁN

1.1.Tổng quan tình hình nghiên cứu thơ lục bát, thơ lục bát Đồng Đức Bốn

1.1.1. Tình hình nghiên cứu thơ lục bát

Có thể thấy, các công trình nghiên cứu về thơ và ngôn ngữ thơ Việt Nam rất phong

phú và đa dạng. Bắt đầu từ thời kỳ Thơ Mới (1932- 1945), cái Tôi cá nhân trong Thơ

Mới đã được khẳng định mạnh mẽ với ngôn ngữ thơ phóng khoáng, “thoát xác” khỏi

những khuôn thước về câu chữ, niêm luật, vần…do các nhà Thơ Mới đã dám bứt phá

ra khỏi những ràng buộc, câu thúc của thơ Đường luật và thơ Cổ phong. Trong cuốn

“Việt Nam văn học sử yếu” [55], tác giả Dương Quảng Hàm đã đề cập đến những nét

cơ bản của các thể loại thi ca tiếng Việt. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu này cùng với

những kết quả nghiên cứu đã có của Phan Kế Bính, Bùi Kỉ, đến năm 1971, các tác giả

Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức đã nghiên cứu về cấu trúc hình thức phổ quát và

giản yếu lịch sử phát triển của các thể thơ nói chung trong cuốn “Thơ ca Việt NamHình thức và thể loại” [115]. Gần hơn nữa, một số công trình nghiên cứu của các tác

giả như Trần Đình Sử, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức, Lê Lưu Oanh, Mã Giang Lân,

Nguyễn Phạm Hùng, Bùi Công Hùng…đều hướng tới nghiên cứu một hoặc một vài

tác giả, tác phẩm thơ ở các góc độ như: tiến trình văn học; phê bình lí luận văn học; sự

cách tân thơ văn; nghiên cứu thơ theo hướng thi pháp học văn học.

Ngoài ra, cần phải kể đến những bài phê bình trong những năm gần đây được đăng

tải trên các trang web, trên internet, tuy ngắn gọn nhưng khá hấp dẫn trên diễn đàn

văn học. Các góc cạnh, các phương diện của thơ hiện đại Việt Nam được quan tâm,

tạo ra nhiều bàn luận, thậm chí là sự tranh cãi ở các bài viết như “Liệu pháp thơ”

[169], “Thơ Việt Nam chờ phiên đổi gác” [74], “Thơ tự do, thơ có vần, và thơ tân hình

thức” [168], “Khoảng tối của thi ca” [79]…Các công trình và bài viết nói trên đã đề

cập đến “ngôn từ” và “ngôn ngữ” khi bàn về thơ Việt Nam thế kỷ XX. Tuy nhiên,

việc nghiên cứu chú ý đến những tiếp cận mới về nghệ thuật thi ca và các yếu tố ngôn

ngữ trong thơ đã có mầm mống ở Nga từ đầu thế kỉ XX. Các nhà hình thức Nga như

R.Jacobson, V.Girmunski đã đi sâu nghiên cứu các yếu tố ngôn ngữ cấu thành nhịp

điệu thơ, phân tích chức năng ngôn ngữ thông qua các đơn vị cấu trúc hệ thống.

Những quan điểm nghiên cứu của trường phái này thể hiện rõ nét và tập trung nhất

trong bài viết về “Những con mèo” của Ch.Baudelaire. Bên cạnh đó, có thể thấy

những luận điểm của Roman Jakobson về chức năng của ngôn ngữ thơ có vai trò như

7

một cánh cửa gợi mở đường hướng cho các nhà nghiên cứu bước sang một con đường

nghiên cứu thơ Việt Nam: nghiên cứu thơ theo hướng thi pháp học kết hợp với lý

thuyết về chức năng ngôn ngữ thơ. Như vậy, có thể nói, “Các công trình nghiên cứu

theo hướng cấu trúc- chức năng mặc dù chưa làm cho những người quan tâm đến lĩnh

vực thi ca thỏa mãn hoàn toàn, song nó cũng đã tạo ra được những tiền đề quan trọng

cho việc xây dựng một lí thuyết vững chắc giúp các nhà nghiên cứu thơ có thể thực

hiện tốt những mục tiêu chưa hoàn thiện và các mục tiêu nghiên cứu mới.” [81; 51].

Ở Việt Nam, cũng đã có một số công trình nghiên cứu về thi ca tiếng Việt từ góc

độ ngôn ngữ. Trước tiên phải kể đến chuyên luận “Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du

trong Truyện Kiều” (1985) của Phan Ngọc [111]. Phan Ngọc đã dùng những thao tác

nghiên cứu định lượng, định tính của ngôn ngữ để tạo ra một hướng đi hợp lý trong

việc đánh giá tác phẩm thơ. Ngoài ra, còn có thể kể đến một số tên tuổi mà đề tài này

quan tâm như: Nguyễn Phan Cảnh, Nguyễn Hữu Đạt, Mai Ngọc Chừ, Lý Toàn

Thắng…đã có những bài viết hoặc công trình nghiên cứu, bình luận về thơ theo

hướng nghiên cứu thi pháp hoặc ngôn ngữ học.

Trong cuốn “Ngôn ngữ thơ”[16], Nguyễn Phan Cảnh đã đề cập đến vấn đề khai

thác hệ kết hợp của thơ hiện đại, cách tổ chức kép các lượng ngữ nghĩa (tính đa trị của

ngôn ngữ). Có thể nói đây là một công trình nghiên cứu rất có ý nghĩa, đặt nền móng

cho lý thuyết nghiên cứu ngôn ngữ một thể loại văn học đặc thù (trong cái nhìn phân

biệt giữa ngôn ngữ thơ với ngôn ngữ văn xuôi). Với Hữu Đạt, trong cuốn “Ngôn ngữ

thơ Việt Nam” [35], đã có những nghiên cứu nhất định về đặc điểm cơ bản của ngôn

ngữ thơ tiếng Việt trên cơ sở vận dụng khá nhuần nhuyễn các lý thuyết quan hệ hệ

hình, quan hệ cú đoạn…Bên cạnh đó, cuốn “Phong cách học và các phong cách chức

năng tiếng Việt”[37], “Phong cách học với việc dạy văn và lý luận phê bình văn

học”[38] của Hữu Đạt cũng là những công trình nghiên cứu có giá trị nền tảng, cơ sở

cho việc nghiên cứu về thơ lục bát từ phương diện phong cách học của ngôn ngữ học.

Trong cuốn “Vần thơ Việt Nam dưới ánh sáng ngôn ngữ học” [24], với một

phương pháp làm việc khoa học, logic của ngôn ngữ học, Mai Ngọc Chừ đã khai thác

tương đối triệt để vấn đề vần thơ Việt Nam: Chức năng của vần, mối quan hệ của nó

với các yếu tố khác; Đơn vị hiệp vần, hai mặt đồng nhất và khác biệt của vần thơ; Vai

trò và quy luật phân bố các yếu tố cấu tạo âm tiết tiếng Việt trong việc tạo lập vần

thơ; Vấn đề phân loại vần, vị trí và sự hoạt động của các loại vần trong các thể thơ,

khổ thơ, vần xét về mặt hòa âm. Đây là một trong những công trình khẳng định được

8

vai trò của ngôn ngữ học trong việc nghiên cứu thơ Việt ở cấp độ vần thơ. Công trình

này cũng là một gợi ý và tạo cơ sở cho đề tài này khi nghiên cứu về thơ lục bát ở nhiều

cấp độ khác nhau: cặp lục bát, bài thơ, khổ thơ.

Gần đây còn có một số các đề tài, các bài báo của tác giả Lý Toàn Thắng như “Thơ

Mới bảy chữ của Xuân Diệu: khổ thơ và luật thơ” [147; 3,7], “Thử đo đếm thơ”, [148;

42, 49], “Tìm về linh hồn tiếng Việt: Âm luật bằng trắc lục bát Truyện Kiều” [146]

cũng chú ý đến ngôn ngữ thơ. Ngoài ra, một số bài viết và công trình tiêu biểu: Tiếp

nhận ảnh hưởng của thơ truyền thống của Xuân Diệu[25]; Lục bát và song thất lục

bát của Phan Diễm Phương [126]; Những đóng góp mới trong việc nghiên cứu thể

loại thơ lục bát và Về việc vận dụng thi pháp ca dao trong thơ trữ tình hiện nay của

Nguyễn Xuân Kính [86]; Chuyên khảo: Thơ lục bát trong Truyện Kiều từ góc nhìn

của thi học và thi luật của Lý Toàn Thắng [144]; Một số cách tân trong thơ lục bát

hiện đại của Hà Quảng[128]; Thơ lục bát Việt Nam, lạm bàn và Lục bát, một thể thơ

anh minh của Nguyễn Trọng Tạo [141,142]…đã nghiên cứu ngôn ngữ thơ lục bát

theo hướng ngôn ngữ học. Một số tác giả với cách nhìn mới từ góc độ ngôn ngữ học,

lấy phương pháp nghiên cứu của ngôn ngữ học ứng dụng vào việc phân tích để nhận

ra các tầng bậc và các mối quan hệ về tổ chức ngôn ngữ bên trong của thể thơ này. Đó

là các công trình Thử bàn thêm về thể lục bát của Nguyễn Tài Cẩn và Võ Bình [12],

Tiếng Việt và thể thơ lục bát của Nguyễn Thái Hòa [65], Lục bát Huy Cận: Ngậm

ngùi của Lý Toàn Thắng [149], Thơ lục bát Việt Nam hiện đại từ góc nhìn ngôn ngữ

và Khảo sát một số đặc trưng ngôn ngữ thơ lục bát hiện đại (trên tác phẩm của một

số nhà thơ) của Hồ Văn Hải [53, 54]…Ở các bài viết này các tác giả mới chỉ tập trung

miêu tả, đánh giá kết cấu vần luật của thể thơ lục bát. Các công trình này đặt cơ sở

nền tảng cho việc “thử nghiệm và kiểm chứng” một số hướng nghiên cứu mà đề tài

này hướng tới.

Từ góc độ lí luận văn học, các nhà nghiên cứu đã xem xét thi luật của lục bát gồm

vần và nhịp, tiết tấu và âm hưởng, kết cấu và giọng điệu,… Đó là các tác giả Lê Bá

Xem thêm :  Traveling Vietnam by Motorbike Q&A: Riding From Saigon to Hanoi

Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi [57], Mã Giang Lân [96], Lạc Nam [92], Bùi

Văn Nguyên, Hà Minh Đức [114], Đỗ Lai Thuý, Trần Khánh Thành[157, 152]…Các

bài nghiên cứu về thơ Việt Nam theo hướng ngôn ngữ học đăng trên tạp chí Khoa

học- Đại học Quốc gia Hà Nội, Tạp chí Ngôn ngữ, của các tác giả Đinh Văn Đức,

Nguyễn Thị Phương Thùy là những công trình nghiên cứu có giá trị nền tảng cho

hướng nghiên cứu của đề tài này. Gần đây, một số khoá luận, luận văn ở các trường

9

đại học cũng có những nghiên cứu thơ lục bát từ góc độ ngôn ngữ học. Tuy nhiên,

những nghiên cứu về thơ lục bát, trong đó gồm những nghiên cứu từ góc độ ngôn ngữ

học vẫn chưa khai thác hết những bí ẩn về thể thơ lục bát truyền thống của dân tộc.

1.1.2. Những nghiên cứu thơ lục bát từ truyền thống đến hiện đại của Việt Nam

Lục bát là thể thơ của dân tộc mang cốt cách thuần túy Việt Nam. Đơn vị cơ bản

của nó là một cặp câu “tức hai câu thơ” chiếm hai dòng so với tiếng (chữ) cố định:

Câu lục ở dòng trên có 6 tiếng, câu bát dòng dưới có 8 tiếng. Số lượng câu thơ của

một bài thơ lục bát không hạn định, có thể từ hai đến hàng ngàn câu. Nhưng có ý kiến

cho rằng: không chỉ dân tộc Việt mới có lục bát mà là dân tộc khác cũng có lục bát

như lục bát Chăm chẳng hạn. Thực ra, lục bát Chăm là để chỉ thơ Ariya Chăm. Theo

Insara, “Ariya” trong tiếng Chăm có nghĩa là: 1. Trường ca Ariya cam- Bini (trường

ca Chăm Bacni); 2. Thơ: Sakadha Ariya; 3. Thể thơ: thể Ariya, cặp sáu- tám Chăm

(Insara- lục bát Chăm) [80].

Ariya Chăm và lục bát Việt Nam theo phân tích của Insara có nhiều điểm khá

giống nhau như: a. đều có hiện tượng gieo vần lưng; b. đều có thể gieo vần bằng và

vần trắc và thanh điệu phát triển khá thoải mái. Tuy nhiên, tiếng Chăm là một ngôn

ngữ đa âm tiết khác với tiếng Việt, số lượng được đếm trong Ariya cũng khác. Hiện

nay, các nhà nghiên cứu cũng chưa khẳng định được lục bát Việt và Ariya Chăm thể

nào có trước thể nào có sau và cũng không biết dân tộc nào sinh ra nó. Nhưng ta có

thể hiểu rằng giữa chúng có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau.

Có nhiều lối nghiên cứu về thơ lục bát từ truyền thống đến hiện đại ở Việt Nam.

Trong đó, các nhà nghiên cứu đã đề cập đến mọi vấn đề lý luận của thể thơ lục bát

như vần, nhịp, luật phối thanh, các biến thể…Tuy nhiên, nếu xem xét kỹ sẽ thấy còn rất

nhiều vấn đề chưa có ý kiến thống nhất, nhất là vần luật và âm luật.

Theo tác giả Nguyễn Tài Cẩn và Võ Bình trong “Thử bàn thêm về thể lục bát”

[12], muốn hiểu vận luật của thể thơ lục bát không thể dùng khái niệm bài, khác với

thể thơ Đường luật. Vì thể lục bát thoát thai từ văn học dân gian nên đơn vị tế bào của

nó là cặp 6- 8. Do đó, một tác phẩm lục bát (bài) gồm nhiều chu kỳ lặp đi lặp lại; mỗi

chu kỳ như vậy tạo thành một đơn vị tế bào, tức là một chỉnh thể tối thiểu. Bài lục bát

đơn giản nhất (gồm một chu kỳ) bao giờ cũng có hình thức 6 + 8, tức là đơn vị có độ

dài 14 tiếng: mở đầu bằng một dòng 6 và kết thúc bằng một dòng 8.

Thành tố trực tiếp của đơn vị tối thiểu thể thơ lục bát là dòng thơ. Kết quả phân tích

về mặt bằng trắc và về vần cho thấy: đằng sau tiếng thứ 6 có một đường ranh giới cấu

trúc đi qua, tách 6 tiếng đầu thành một bộ phận riêng (sau tiếng thứ 6 là một chỗ nghỉ

10

hơi khá rõ), sau tiếng thứ 6 cũng là chấm dứt quy tắc luân phiên thanh điệu của bộ

phận trước. Việc cắt đôi chu kỳ thành dòng 6, dòng 8 là có cơ sở vận luật rõ ràng và

cái gọi là “dòng” đúng là một khái niệm chỉ thành tố trực tiếp của đơn vị tối thiểu.

Dưới dòng là bước thơ. Thành tố trực tiếp của bước thơ là vị trí của tiếng. Dòng 6

gồm ba bước: 2- 2- 2, còn dòng 8 gồm bốn bước: 2- 2- 2- 2. Căn cứ chủ yếu để cắt

dòng thành bước thơ là quy tắc chi phối sự nhấn mạnh và sự luân phiên thanh điệu ở

các tiếng thứ 2, thứ 4 (cả dòng 6 và dòng 8) cũng như quy tắc luân phiên thanh điệu

và hiệp vần ở các tiếng thứ sáu (cả hai dòng) và tiếng thứ 8 (của dòng 8). Quy tắc đó

dẫn đến hệ quả là xem các tiếng ở các vị trí 2, 4, 6, 8 như là những tiếng quan trọng,

được phát âm rõ hơn và có vai trò đặc biệt hơn: vai trò làm cột mốc để chia cắt dòng

thơ thành các bước thơ. Hệ quả tiếp theo là, trong mỗi bước tồn tại hai vị trí: đã tách

các vị trí 2, 4, 6, 8 xem là quan trọng thì các vị trí 1, 3, 5, 7 cũng được tách ra. Các

bước thơ trong lục bát nói chung có độ dài như nhau, bước nào cũng gồm hai tiếng.

Chính vì thế mà từ lâu người ta đã rút ra nhận định khái quát là thơ tiếng Việt ưa nhịp

chẵn, trước hết được thể hiện ở lục bát.

Về hiệp vần, nếu xét theo vị trí gieo vần, thơ lục bát có hai loại vần: vần lưng và

vần chân. Cụ thể, vần chân (cuối dòng 6) và vần lưng (giữa dòng 8) là sự kết hợp

dòng với dòng để tạo thành chu kỳ. Còn vần chân (cuối dòng 6) chính là vần có chức

năng làm phương thức trực tiếp nối với chu kỳ trước, còn vần chân (cuối dòng 8)

chính là vần có chức năng làm phương thức nối chặt với chu kỳ sau. Nếu xét theo

mức độ hòa âm, thơ lục bát chia làm hai loại: vần chính và vần thông. Theo “Từ điển

thuật ngữ văn học” [57; 293], vần chính là phần vần của hai âm tiết hiệp vần hoàn

toàn trùng nhau, trừ thanh điệu. Vần thông là loại vần được tạo nên bởi sự hòa phối

âm thanh giữa các tiếng được gieo vần, trong đó bộ phận vần cái (kể từ nguyên âm

chính đến cuối âm tiết) không lặp lại hoàn toàn mà có thể khác nhau chút ít.

Về nhịp trong thơ lục bát được thể hiện hoàn chỉnh qua hai dòng thơ. Xét về tính

hoàn chỉnh của thể lục bát, về mặt ngữ nghĩa cũng như về âm và ngữ điệu thì cặp lục

bát mười bốn tiếng được coi như là một đơn vị nhịp điệu, một “chỉnh thể về nhịp”.

1.1.3. Tình hình nghiên cứu thơ lục bát Đồng Đức Bốn

1.1.3.1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu thơ lục bát Đồng Đức Bốn

Từ xưa đến nay các nhà thơ Việt Nam ai cũng có thể sáng tác được bằng thể lục

bát, nhưng làm thơ hay bằng thể này thì không dễ dàng. Tương truyền rằng, hầu như

Nguyễn Khuyến (1835-1909) không làm bài nào theo thể lục bát. Con cháu nhà thơ

11

thắc mắc thì ông giải thích rằng, bao nhiêu cái hay của thể thơ này đã nằm cả ở

Truyện Kiều rồi, vì thế ông không làm thơ lục bát nữa.[117].

Nếu như thơ lục bát Đồng Đức Bốn nói chung được các nhà nghiên cứu quan tâm

một cách đặc biệt thì vấn đề ngôn ngữ trong thơ ông lại chưa được quan tâm nhiều.

Đây là một vấn đề chưa được nghiên cứu một cách quy mô.

Từ trước đến nay có không ít các nhà nghiên cứu, phê bình cũng đã đi tìm hiểu về

cách thức thể hiện trong từng tập thơ, từng bài thơ lục bát của Đồng Đức Bốn. Điểm

qua các nghiên cứu về ngôn ngữ thơ lục bát Đồng Đức Bốn chúng tôi thấy có các ý

kiến, bài viết của các tác giả: Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Thị Anh Thư, Nguyễn

Thanh Toàn, Lê Quốc Hán, Chu Nhạc, Chu Toàn, Chử Văn Long, Trần Huy Tản…

Trước hết là sự đánh giá của nhà văn Nguyễn Huy Thiệp với tập thơ đầu tay “Con

ngựa trắng và rừng quả đắng” in năm 1992 do Phạm Tiến Duật viết lời giới thiệu.

Tập thơ bộc lộ rõ tâm thế của chàng thi sĩ tương lai lúc này: Đồng Đức Bốn hoàn toàn

chưa nhận ra mình, anh đang đi như một người mê ngủ. Chen lẫn giữa những bài thơ

lục bát khá độc đáo là rất nhiều bài thơ tự do ỡm ờ, nửa dơi, nửa chuột. Đây là lời

đánh giá thật đúng về Đồng Đức Bốn trong thời kỳ anh hoang mang dò dẫm từng

bước một trên con đường thơ, chẳng biết đâu là sở trường, sở đoản của mình. Nhưng

đến tập thơ “Chăn trâu đốt lửa” xuất bản năm 1993 là một tập thơ thuần lục bát thì

nhà văn Nguyễn Huy Thiệp đã phải thốt lên : Đồng Đức Bốn là một nhà thơ lục bát có

một không hai, là vị cứu tinh của thơ lục bát.[156].

Nhà văn Nguyễn Huy Thiệp cũng đã có những nhận xét khá sắc sảo về tập thơ

“Trở về với mẹ ta thôi” của Đồng Đức Bốn do Nhà xuất bản Hội Nhà văn xuất bản

tháng 11 năm 2000. Đặc biệt, Nguyễn Huy Thiệp đã đi sâu vào tìm hiểu bài thơ lục

bát “Vào chùa”, từ đó ông đi đến nhận định : Y bát của Ngộ năng của Môn phái lục

bát- của Đồng Đức Bốn giá trị không sao kể xiết.

Cũng có những cảm nhận sâu sắc về tập thơ lục bát “Trở về với mẹ ta thôi”, nhà

văn Nguyễn Thị Anh Thư bước đầu đã có sự đánh giá về thể thơ lục bát của Đồng

Đức Bốn : Từng cặp câu thơ (6-8) của Đồng Đức Bốn rất chắc khoẻ đa phần từ ngữ

được chắt lọc một cách tinh tế với một kiểu logic suy tư (cách liên tưởng) lạ thường

đem lại người đọc sự bất ngờ, ngỡ ngàng về ý tứ, về ngôn từ, về hình ảnh.

Nhà thơ Nguyễn Thanh Toàn trong bài viết :“Vài ý nghĩ tản mạn về thơ Đồng Đức

Bốn” đã có những tìm hiểu về cách dùng từ, về cái hồn lục bát của Đồng Đức Bốn:

Lục bát khó. Thơ tứ tuyệt (4 câu) càng đòi hỏi kết cấu chặt chẽ, cũng rất khó. Đồng

Đức Bốn có nhiều bài tứ tuyệt lục bát có nhiều mặt ngữ nghĩa như thế.

12

Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Giáo Dục

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button