Wiki

Đẹp Là Gì? (Đoàn Thêm)

  • Các bộ từ điển khác Từ điển VDict Từ điển hình ảnh Từ điển Netcenter-vn Từ điển VietDic Từ điển ĐH CamBridge Langenberg WordWeb Online Dịch văn bản online Dịch Web online Từ điển A-A,A-F,A-Y. Google P-Đ-TBN-Anh Từ điển cho Nhà Thờ Từ điển Mỹ thuật Từ điển đvị đo lường Từ điển cancerweb Từ điển Sinh – hóa Từ điển Xây Dựng VN Bách khoa Toàn thư © 2006 by Admin

    Đẹp Là Gì? (Đoàn Thêm)

    27-11-2019 | TIỂU LUẬN

    Đẹp Là Gì?


        Nhà biên khảo Đoàn Thêm

    Trong những lúc tìm Đẹp, tôi
    đã từng phải băn khoăn nhiều lần
    về một câu hỏi: Đẹp là gì?

    Vấn-đề đặt đúng hay không, sẽ
    liệu xét sau, nhưng trong thực-tế
    nó đă nẩy ra thì cũng cần xem
    đưa tới đâu, đến kết-luận tích cực
    hay tiêu-cực: nếu không giải
    đáp nổi, vẫn nên nhận định để
    rồi sau khỏi mất thời giờ nghĩ quẩn.

    Cái hộp sơn này đẹp, mặt
    người đó đẹp, bức tranh kia đẹp,
    ngôi nhà ấy đẹp, hoa mai nở đẹp;
    điệu đàn nghe chiều qua, trang
    sách mới đọc, hương vừa thoảng
    quanh đây… mọi vật mọi sự kể
    trên tuy khác hẳn nhau, đều có
    một cái gì chung: đẹp. Đẹp không
    phải là màu, vì cũng là mùi,
    không phải là hình dáng vì còn
    là âm thanh, không những là đối-
    tượng trông thấy, nhưng cũng có
    thể không màu không tiếng không
    mùi vị mà cứ rung động buồn
    vui ở bài thơ hay. Vậy ai giải
    thích cho tôi thỏa-mãn?

    Rồi sau tôi mới rõ rằng nghĩ
    miên man như vậy, chẳng phải
    chỉ một mình tôi, nhưng từ mấy
    ngàn năm nay, nhiều người đã
    vướng phải thắc-mắc tương-tự,
    và đã thử tìm thử nắm cái Đẹp chung kia.

    Theo Platon, triết-gia Hy-Lạp
    (thế-kỷ thứ IV trước dương lịch)
    thì Đẹp không phải là hình
    sắc hương thanh, Đẹp có sẵn như
    trời đất, ở bên ngoài mọi vật, rồi
    hễ nhập vào đâu thì đem thú vị
    say sưa vào đó, vào cây thì cho
    thấy hoa ngoạn mục, vào người
    cho thấy duyên-dáng, vào nhạc
    cho thấy du-dương (1). Đẹp hiện
    ra nhiều vẻ, đẹp vật chất, đẹp tinh thần,
    Thiện và Chân chẳng qua cũng là Mỹ có thể
    tiến về Chân và Thiện (2).

    Đẹp như thế là hoàn-toàn, mà
    hoàn toàn là đặc-tính của Trời
    (le divin) nên Đẹp là sự thiêng liêng
    tối-cao, tối-quí, siêu-việt,
    vĩnh-cửu, con người chỉ có thể
    hướng lên gần, nghệ-thuật phải
    làm sao phản chiếu được thật
    nhiều cái Đẹp muôn năm trường tại
    ở trên mọi vật nhất-thời. Bởi
    Đẹp là một ý-tưởng, mà ý-tưởng
    đó lại phải thỏa mãn cả Thiện
    và Chân, chỉ có thể hiện ra trong
    sự dung-hòa kết-hợp, cần tương giao
    tương-ứng, cân-xứng, thăng bằng,
    nghĩa là dưới những vẻ
    mà ta nhận thấy lý-trí sáng suốt
    êm đểm hơn là những cảm-tình
    hỗn-độn sôi nổi. Platon đưa ra
    các tỉ-dụ Đẹp đáng làm khuôn mẫu,
    những hình kỷ-hà đơn thuần,
    đều đặn như lục-lăng bát giác (3).

    Nhưng ngay ở thời ông, đã có
    người không đổng ý. Triết-gia
    Aristote, môn-đệ của ông, không
    chịu rằng Đẹp hoặc mọi ý-tưởng
    khác từ bên ngoài nhập vào sự
    vật, Đẹp không phải là một sức
    bí-huyền có trước khi con người
    sinh ra, rồi sau bay nhập vào
    thần trí mà cho thấy những gì ưa
    thích. Nếu theo Platon, thì Thơ
    chẳng hạn, là phép kỳ-diệu của
    Trời cho và nếu không sẵn thiên-
    phú, chẳng thể thành thi-sĩ;
    nlurng đối với Aristote, Thơ
    chẳng qua là ở sự-vật, con người
    phỏng theo sự vật mà nói lên
    bằng lời đẹp những rung động
    nội-tâm. Chúng ta biết sự vật và
    Đẹp nhờ ngũ-quan, sau khi nhìn
    thấy, nghe thấy, nghĩa là biết Đẹp
    một cách hậu-nghiệm, và mỹ-cảm
    nuôi tưởng tượng cho con người
    sáng tạo. Con người có thể tạo
    ra Đẹp bằng cách sắp đặt sự vật
    thế nào cho có trật-tự và hòa-hợp (4).
    Nghệ-thuật tuy bắt nguồn từ
    thực-tế, không phải là sự bắt
    chước như hệt thực-tế (Mimésis)
    vì Đẹp vượt quá thực-tế, song
    Đẹp nhờ xúc-động cá-nhân nghệ-
    sĩ mà hiển-lộ (Carthasis).

    So sánh hai lý-thuyết, tôi thấy
    Aristote có khuynh-hướng thiết thực
    hơn Platon, nhưng vẫn
    không cắt nghĩa cái Đẹp chung
    kia. Nêu nó không ở một thế-
    giới linh-tượng của Platon mà rơi
    xuống trẩn-gian, thì từ đâu lại để
    tôi thấy nó, khi chung quanh tôi
    chỉ có vật này đẹp, người kia
    đẹp, hay cây kia đẹp? Nếu bảo
    rằng nó nằm sẵn trong thâm-tâm
    tôi từ kiếp nào, như mọi ý-tưởng
    tổng-quát khác (concept) thì cũng
    chỉ đưa ra một giả-thuyết không
    dựa vào chi vững chắc mà lôi
    cuốn tin-tưỏng của tôi.

    Nêu vậy tôi sẵn lòng theo Platon?
    Nhưng Platon sẽ kéo tôi đi
    quá xa, vào cõi bao-la dễ lạc:
    nhận Đẹp là một linh-tượng, thì
    phải nhận cả thế-giới diệu-huyền
    ở bên ngoài thế-giới ngũ-quan và
    chứa đựng bao nhiêu linh-tượng
    khác chung sống với Đẹp, mắt
    không trông được, tai không nghe
    thấy, không khả-giác nhưng vẫn
    khả-tri. Rổi lan man như thế, tôi
    sẽ vướng phải rất nhiều thuyết
    nữa về vũ-trụ, và thể nào cũng bị
    các nhà siêu-hình-học bắt bẻ vì
    lẽ này lẽ nọ, cũng như họ đă
    chống đối nhau mấy ngàn năm chưa dứt.

    Tôi đành chịu, không dám tin
    Platon, nhưng không khỏi ngậm
    ngùi luyến tiếc: thế-giới của ông
    có lẽ chỉ là một ảo-mộng, song
    không thiếu thi-vị, và khi ở trên
    đường, trong nhà, ngoài đồng, chỉ
    thấy những mặt đẹp, những chiếc
    bình đẹp, những màu cỏ đẹp, tôi
    vẫn ước rằng cái Đẹp chung có
    nơi nương gửi, ở một Thiên-thai
    bên ngoài gió mây…

    Mà đâu phải chỉ có tôi phân
    vân? Nhiều triêt-gia sau Platon
    và Aristote, chắc cũng thấy khó
    khăn, nên không thấy ai tán đồng
    hẳn hay phản đối hẳn hai tiền triết
    Hy-Lạp, và ở phạm-vi thẩm mỹ,
    chỉ cho biết như thề nào thì
    đẹp, mỗi thứ nghệ-thuật có những
    vẻ đẹp gì, nghệ-sĩ tìm đẹp ra
    sao… còn mọi định-nghĩa thường
    hàm-hồ, hoặc tóm lại vài tính cách
    sự Đẹp, chứ không dứt
    khoát về bản-chất bí-huyền. Dù
    sao, qua nhiều thiên đại-luận
    thuyềt trình với lập-trường riêng,
    vẫn nhận ra được những ý-kiến
    có thể qui về hướng Platon hoặc Aristote.

    Triết – gia Kant (1724 -1804)
    không bảo rằng Đẹp ở bên trên
    hay ngoài mọi vật, ông căn cứ
    vào ưa thích tự-nhiên mà nhận
    định ra Đẹp. Đẹp là cái gì khiền
    ta ưa thích ngay tức khắc ở sự
    vật, không cần ý-niệm gì, không
    phải lý luận chứng minh như sự
    thiện, không đòi hỏi công-dụng
    như sự cẩn-ích. Sự Đẹp phải
    được mọi người mọi thời đều
    thấy; nghệ-thuật cần theo những
    qui-lệ, nhưng qui-lệ đó có sẵn
    trong trời đằt, tạo hóa chỉ mượn
    bậc kỳ-tài truyền lại cho đời (5).

    Hegel (1770-1834) coi Đẹp là
    sự thể-hiện của Ý-Tưởng (L’Idée)
    Ý-Tưởng là nội-dung khả-giác
    của nghệ-thuật; nghệ-thuật cho
    ý-tưởng mượn các hình-thể mà
    xuất phát cho giác-quan và tưởng tượng
    thấy rõ. Mới đầu Ý-tưởng
    của con người còn lộn-xộn, cần
    tìm cách diễn tả, chỉ đạt một
    cách gọi là, thành những hình
    thù thô kệch như tượng đá
    cổ lỗ (thời-kỳ tượng-trưng, âge
    symbolique); rồi tới nhứng hình thể
    tinh-vi (thời-kỳ cổ-điển, âge
    classique) phải đợi thời-kỳ Lãng-
    Mạn (âge romantique) mới thâu
    được cả ngoại-giới vào nội-tâm
    mà đến hình-thể xứng hợp nhất,
    tỉ như thơ tự-tình (poésie lyrique)
    — Người ta đã công kích
    ông về nhiều điểm, nhưng riêng
    tôi ở đây chỉ thắc mắc tự hỏi:
    ông có công nêu rõ sự biến
    chuyển của nghệ-thuật qua các
    thời-đại, hoàn-cảnh, và tâm-hồn
    cá-nhân; nhưng ông chỉ biết đến
    thời ông, khi Lãng-Mạn đương
    thịnh: sao quả quyết là nghệ
    thuật đã thật xứng hợp với Ý-
    Tưởng, thế còn về sau này thì
    không? Ông cắt nghĩa Đẹp bằng
    Ý-Tưửng: nhưng Ý-Tưởng đó ở
    đâu ra và là cái gì, hay lại là
    linh tượng từ thiên-cung của
    Platon rớt xuống? Tôi rất ngờ,
    khi còn nghe ông nói gần như
    Platon: nghệ-thuật đạt tới tuyệt đích
    nếu cho nhận thức và biểu
    lộ được Thiêng-Liêng (6).

    Xem thêm :  “Shinjuku Washington Hotel” details and reviews

    Sau ông, ảnh-hưởng Hy-Lạp
    cũng chưa hết. M. Blanchot tin
    rằng Thơ vốn có sẵn, rồi mới
    nhập một cách bí-mật vào thi nhân
    mà thành bài: khác gì
    Platon? (7). Theo Bachelard,
    Bergson, Malraux, sự Đẹp bắt
    đầu hiện ra trong hổn nghệ-sĩ với
    một hình ảnh lơ mơ (images,
    schèmes) nhưng nghệ-sĩ không
    bắt chước thực-tề, trái lại, biến
    đổi đi mà sáng tác: Aristote đã
    từng nghĩ thế (8).

    Phải vài pho sách mới lược
    thuật được các ý-kiến… Nhưng
    chưa ai giải nổi cho sự thắc-mắc
    ngàn xưa: Đẹp là gì? Hégel thấy
    không tài nào xét kịp từng vẻ
    đẹp riêng ở mỗi đồ vật khác nhau,
    nên phải cố xem sự Đẹp chung
    cho mọi vật ra sao; nhưng rốt
    cuộc, chính ông cũng phải lùi
    “Đẹp là đối-tượng của tưởng tượng,
    của trực-giác, của tình cảm,
    nên không thể là đề-tài
    nghiên-cứu của một khoa-học hay triết học” (9).

    Vậy tốt hơn hết là tạm gác bỏ
    ảo-vọng định nghĩa sự Đẹp mà
    trở về các hình-thái đẹp trong
    thực-tế, ở thiên-nhiên hay nghệ-thuật.

    Nhưng ngay ở phạm-vi này,
    nhiều khi tôi vẫn chưa khỏi e
    dè… Bên cạnh những vẻ đẹp thấy
    ngay giây lát như bông hoa nở
    thắm, còn bao vẻ lâu dần mới
    nhận ra đẹp hay xấu: thơ, nhạc v.v…

    Những gì đã khiến tôi ngần
    ngại? Chưa đủ kiến-thức về nghệ-
    thuật? thiếu tự-tín trong phán đoán?
    học hỏi, xem xét, suy nghĩ,
    thì tự giải thoát. Song còn những
    sự-kiện ỏ quanh tôi và chẳng tùy
    tôi hẳn: những thành-kiến, những
    cố-chấp. nghĩa là những áp-lực
    nặng nề. Tôi tự nhủ: tìm đẹp
    cho mình, thì cứ việc theo chủ-
    quan, hà-tãt phải kể đến người khác?

    So đo, cọ xát với tha-nhân,
    không phải là vô-ích, vì đôi khi
    tỉnh ngộ. Vả chăng, tôi không
    khỏi buồn nếu mình khen đẹp
    mà người chẽ xấu, và ngược lại;
    sự cô-đơn trong sáng tác cũng như
    trong thưỏng-thức, làm giảm mất
    vui, và ỏ đây vẫn cần chia xẻ.
    Nếu không gặp bạn đồng-tâm chia
    xẻ thực-sự, ít ra cũng phải hy vọng
    rằng người khác nếu thấy
    chắc cũng đồng-ý với mình là
    tranh mình vẽ hay ngắm cũng
    coi được, đàn mình gảy hay nghe
    cũng êm tai… Những sự lố-lăng
    mà tôi bác bỏ, cũng mong bạn
    hữu đừng ca ngợi. Tóm lại, nghệ-
    sĩ hay khán-giả, thính-giả hay
    thức-giả đều cẩn một sự cảm
    thông thật, hoặc sự khả-hợp, dù
    khi ích-kỷ thấy đẹp muốn giữ
    riêng cho mình. Bởi vậy, tôi lại
    gặp một thắc-mắc nửa, về tính
    cách hay của mọi vẻ đẹp.

    Một đằng tôi thường nghe nói:
    mỗi người thích một vẻ, mỗi
    người ưa một mầu, không lấy
    gì làm chuẩn-đích được: chỉ có
    sự đẹp chủ-quan. Theo triết-gia
    Kierkegaard (1813-1855), không
    thể có sự Đẹp khách-quan hay sự
    Đẹp lý tưởng chung cho cả nhân loại,
    mỗi nghệ-sĩ tự-do tìm ra một
    thứ đẹp riêng theo ý mình (10).

    Đằng khác, biết bao áng văn,
    bản nhạc, pho tượng… được
    nhiều người tán dương; các
    tuyển-tập, các giải thưởng, các
    viện bảo-tàng đều công-nhận sự
    Đẹp chung. Triết-gia Kant, tuy
    căn cứ vảo chủ-quan mà giao cảm
    đop xâu. cũng tin rằng sự Đẹp
    phải được tôi-đa-sô ở mọi thời
    ira chuộng (11).

    Theo quan-điểm thứ nhất, thì
    tự-do cá-nhân được tôn trọng,
    không ai chê bai kẻ khác nếu họ
    chẳng xét đoán như mình. Nhưng
    sự thông-cảm có thể gặp trở ngại,
    nghệ-sĩ mặc sức buông thả theo
    hứng riêng, hav lạc vào bí-mật,
    qiái-dị: trường-hợp nhiều thơ
    siêu-thực và nhiều tranh trừu tượng.

    Với quan-điểm thứ hai, người
    ta muốn hòa-hợp, nghệ-thuật ở
    điều-độ thăng-bằng, có thể lên
    cao mà vẫn dễ hiểu: trường-hợp
    các nghệ-sĩ và các môn-phái Cổ-
    điển. Nhưng người ta hay dựa
    vào sự đồng-ý, tôn những vật
    hoặc người đitợc nhận là đẹp
    làm kiểu-mẫu, đưa những đồng điểm
    lên làm tiêu-chuẩn, biến
    những sở-thích của số đông làm
    thể-lệ, lấn áp cả sáng-kiền của
    những ai không tán thành.

    Ở đâv, tôi ba phải, và nghĩ cả
    hai quan-điểm kể trên đều có
    phần đúng. Mỗi con người đều có
    cảm xúc riêng tư không ai chối
    cãi và khó lòng cắt nghĩa. Nhưng
    ngoài ra, đã cùng giống loài, cùng
    xác thịt, cùng nếp sống, v.v… đã
    có nhu-cầu chung thì phản-ứng
    đối với những phương-tiện thỏa mãn
    cũng có thể tương-tự nhiều
    hay ít: đối với sự Đẹp và nghệ-
    thuật, cũng vậy (12). Sự đẹp do
    chủ-quan của một nghệ-sĩ tìm ra,
    thường được truyền thụ cho
    nhiều người khác thấy: hiểu
    người khác, tôi có thể thay đổi
    chủ-quan của tôi để giống họ và
    hòa nhập vào các chủ-quan khác,
    để tới ý-niệm khách-quan về sự Đẹp chung.

    Song nếu tôi không chịu chú
    ý kiểm soát, thì sự hòa-đồng kia
    cũng có hại. Lắm khi tôi yên trí
    là đẹp tại nhiều người khác ưa.
    Xưa kia, có bậc tôn-trưởng bảo
    tôi rằng thơ ấy thơ nọ được sĩ
    phu bốn phương ngâm nga, thế
    là từ đó tôi cũng thấy hay; nhiều
    bức tranh được tôi ca ngợi chỉ
    vì đã nổi tiếng; về sau đọc lại,
    ngắm lại, chẳng thấy rung cảm,
    tôi đành rút lui về chủ-quan, và
    từ đó, tôi không ngần ngại gạn
    lọc dần những cái đẹp «ưa lây»
    đã ngấm ngầm len lỏi vào tâm hồn
    tôi tuy trái với sở-thích, dẫu
    tác-phẩm nằm trong văn-học-sử
    hay ngủ ở viện bảo-tàng.

    Tôi cũng đã từng chịu sự lừa
    dối của những chữ, nhửng lời lẽ
    tâng bốc, mới đầu để nói bóng,
    sau quen đi thành tiếng thông dụng,
    rồi in sâu vào óc tôi lúc
    nào chẳng biết. Đẹp như Tây-Thi,
    Tống-Ngọc: không ai dám chê là
    xấu vì mấy mươi vạn người
    truyền tụng rồi, và nói hay không,
    chưa ai trông thấy bóng nàng kia
    và chàng đó: tôi cũng nghĩ là
    mỹ-mạo tuyệt-trần. Hoa-khôi hoa-hậu
    thế-giới: coi hình ảnh ở báo
    hav màn bạc, tôi không mê, tuy
    không dám chê, trước áp-lực của
    dư-luận. Ngẫm kỹ, tôi phủ nhận,
    vì tiếng rằng của «thế-giới»,
    nhưng thực ra chỉ là của đa-số
    trong vài chục ông giám-khảo,
    chọn trong vài trăm cô; rất có thể
    mấy ông nhà văn ghi lại dung nhan
    để sau này làm tập nghiên cứu
    như «l’éternelle et changeante Beauté”
    của Madge Garland, rổi hậu-thế tưởng rằng
    đó là Đẹp điển-hình của nhân loại
    năm 1936 hay 1961, và nhiều
    ông khác dựa vào đó mà rút ra
    những kết luận hùng-hồn về
    đường lối thẩm-mỹ chung của
    thế-hệ chúng ta. Cho nên, tôi
    không tin nửa rằng những nàng
    bụng tròn của Cranach hoặc
    những bà mập của Rubens tiêu
    biểu cho cả phái đẹp ở thời các
    ông: có lẽ đấy là một vài cô đứng
    làm kiểu-mẫu như Hélène Fourment mà thôi.

    Theo cùng một đà suy luận như
    vậy, tôi càng thấy hụyền-hoặc,
    nhiều ý-kiến về sự Đẹp chung.
    Người ta thường bảo: nhà văn
    nhà thơ ấy nói lên được tiếng
    nói của thời-đại: nghĩa là đã tìm
    được cái hay cái đẹp chung cho
    cả một nưóc hoăc cả loài người
    1890 hay 1940? Tôi nghĩ bất-quá
    các vị cũng như hoa-khôi hoa-
    hậu, hợp với một số nào, ở một
    vài giới nào, về những điểm nào
    đó thôi; còn khi sáng tác, chẳng
    ai dám chắc sẽ vừa ý bao nhiêu
    người xa lạ. Nếu trách họ không
    nói đưoc tiếng nói của thế-hệ, là
    tự nhận mình làm phát-ngôn-viên
    của thế-hệ mà phê bình, khi chỉ
    căn cứ vào chủ-quan của mình
    đem dựng lên làm chủ-quan của
    mấy chục, mấy trăm triệu người (13).

    Xem thêm :  Dàn ý + 4 mẫu bài văn hay nhất

    *

    Về tính-cách vĩnh-cửu hay nhất thời
    của sự Đẹp, tôi lại càng dè dặt hơn.

    Hiện nay, các lý-thuyết tiến hóa
    lan tràn mạnh-mẽ, và trong
    sự hăng-hái tranh thủ tương-lai,
    nhiều người phủ nhận một cách
    tiên-nghiệm những vẻ đẹp cũ và
    chủ-trương rằng thời nào nghệ-
    thuật ấy, thời qua đẹp hết, thấy
    gì không mới mẻ thì nghi kỵ. —
    Ngược lại, nhiều người khác ngờ
    vực những chi được ca ngợi bây
    giờ, coi những phát-minh của
    nghệ-thuật hiện-đại như sự bồng-
    bột chốc lát, chẳng bao lâu sẽ bị
    chê bai: hoặc chỉ ưa chuộng
    luyến tiếc những vẻ đẹp đã quen
    thuộc từ xưa. Những sự xung đột
    ấy đã có hồi khiến nhiều ý kiến
    của tôi bị lung lay, tôi không
    biết mình nên bỏ hay giữ những
    ưa-thích mới hoặc những tha thiết
    cũ, và phân-vân tự hỏi mình muốn thứ đẹp nào?

    Rồi tôi thấy cần phân biệt rõ
    ràng hai phương-diện sáng-tác và thưởng-thức.

    Nghệ-sĩ , tìm đẹp cho
    mình và cho người, tất phải
    khám phá ra những dáng vẻ chưa
    từng thấy, còn nếu chỉ phỏng
    theo lắp lại người trước về mọi
    mặt, thì khó rung động được
    người chung quanh, cũng không
    tới chỗ độc-đáo mà thể hiện nổi
    cá-tính, một trong những mục đích nghệ-thuật.

    Nhưng ngay về phương-diện
    này, cững lại phải tách rời kết quả
    và phương-tiện; miễn là kết quả
    mới, những phương-tiện
    thực hiện vẫn có thể cũ một phần
    nào. Với câu 12 âm Alexandrin,
    mà Ronsard dùng ở thế-kỷ XVI,
    những thi-nhân về sau này, Victor
    Hugo, Jules Supervielle, Jean
    Cocteau hay Marie-Noel, vẫn diễn
    tả nổi những tâm-tình mới. Ai
    dám cả quyết rằng ngũ-ngôn hay
    lục-bát chữ nôm đã được tân dụng
    khả-năng ở thời Nho-học?
    Trái với một vài dư-luận, tranh
    thể-hiện (peinture figurative)
    chưa lỗi-thời để phải nhường
    bước cho tranh trừu-tượng
    (peinture abstraite) vì vẽ người,
    cây cỏ, nhà cửa vẫn có thể thành
    công như Dunoyer de Segonzac,
    khi nghệ-sĩ biết sử-dụng một cách
    đặc-biệt các phương-tiện kỹ-thuật
    cũ. Nom chiếc đỉnh đồng, phần
    đông chê là cũ kỹ: nhưng chỉ
    cũ kỹ nếu đứng trên tủ chè
    hoặc án thư, mà nghi ngút khói
    hương giữa hai bình bông; còn
    nếu đặt trên thảm rộng giữa
    phòng tiếp-tân cho khách bỏ tàn
    thuốc lá, như tôi đã thấy ở nhà
    một ngoại-kiều, thì trông chẳng
    cổ-kính như tôi vẫn tưởng: . Thiết
    nghĩ đối với chữ trong thơ, âm
    trong nhạc, và hình sắc trên
    tranh… cũng vậy mà thôi. Bởi
    nhiểu khi tôi xét quá vội vàng,
    nên mới trách oan họa-sĩ này hay
    thi-nhân khác là đi theo những vết đường mòn.

    Còn về phương-diện ,
    thiết nghĩ thành-thực là
    hơn. Mới hay cũ, Đẹp chỉ để cho
    một mình thích thú, miễn là tôi
    không một mực chối từ những vẻ
    đẹp khác mà người ta ưa chuộng:
    nói vậy, chứ nhiều khi rất khó,
    tôi đã bị cái ưa-thích của tôi làm
    cho ngứa ngáy khó chịu trước
    những ưa-thích trái ngược, nên
    tôi phải cố sức nén lòng mới giữ
    yên được sự kèn cựa của chủ-
    quan tôi; cũng vì thế, tôi không
    dám vừa sáng tác vừa phê bình
    trong ngành sáng-tác của mình.

    Nhưng chính tại trót ưa một vài
    thứ đẹp cũ, mà cứ bị chê
    hoài, tôi đă ngẫm xem nên xử
    thế nào, đành xét lại cả nhửng
    sự được coi là dĩ-nhiên.

    Mặt trăng, hoa hồng, giọt sương
    trong… đă có mấy vạn năm rồi,
    chẳng ai nở chê là xấu và cũ. Vậỵ
    thì chắc chắn nhiều vẻ đẹp rất cũ
    mà vẫn đáng ưa, có thể tìm ra
    nhiều tỉ-dụ khác, bên ngoài lãnh vực thiên-nhiên.

    Ở con người, tôi ngắm lại
    những hình ảnh thời xưa: tóc
    đuôi gà lê thê của các bà các cô,
    tôi không thích. Nhưng giá thử
    vợ tôi có nhan-sắc của La Vallièré
    hay Mancini thế-kỷ thứ XVII,
    chắc tôi cũng chẳng thấy cũ kỹ và đáng ghét.

    Tiến vào nghệ-thuật, tôi gặp
    không biết bao nhiêu kiệt-tác cũ:
    nếu phải gạt bỏ, sẽ cần phá các
    viện bảo-tàng và đốt sách như
    Tần-Thủy-Hoàng. Chúng ta chỉ
    có thể xác-định giá-trị của một
    tác-phẩm sau sự thử-thách của
    thời-gian, nghĩa là khi nó đã cũ rồ.

    Vả chăng, cũ đối với ai? Cũ
    người mới ta là sự rất thường.
    Tỏi đã đọc chán truyện Kiều,
    nhưng cháu tôi học bài thuộc lòng
    đến đoạn «Buồn trông cửa bể
    chiều hôm» khen rối rít là hay:
    tôi mỉm cười với một ý nghĩ chế
    nhạo của kẻ đã thừa biết. Có
    khác nào một bạn thấy tôi xem
    tranh Le Greco, hỏi tôi coi làm
    chi những mầu sắc cũ? Nhưng
    tôi chưa từng thấy, thì vẫn mới nguyên.

    Dưới mắt trẻ thơ, cuộc đời đầy
    dẫy sự mới mẻ, nên nó lần mò
    vui thú với những đổ vật không
    còn sức rung cảm tôi nữa: cái
    khuy bóng, cái lõi chỉ tròn, mảnh
    giấy xanh đỏ. Tôi ra đời giữa một
    nhân-loại đã tìm thấy từ mấy vạn
    năm nay muôn vẻ đẹp mà những
    người sinh trước tôi chán ngán
    lâu rồi: nếu tôi chỉ muốn theo
    kịp ngưới ta, tất sẽ bỏ phí những
    kho tàng vô-giá.

    Sau nữa, con người tôi rất
    phức tạp, vì là kết-quả của bao
    nhiêu sự kiện mới và cũ, nên
    những phản-ứng trước mọi vật cũ
    mới không thể giản dị cho tôi
    dứt khoát. Tôi gặp bạn, bắt tay
    chào: cử chỉ đó mới truyền cho
    chúng ta ngót 100 năm nay từ khi
    người Pháp sang Việt-Nam. Tôi
    nhớ quê hương xa cách: một
    mối tình đã ràng buộc mấy ngàn
    năm… Cạnh những đòi hỏi của
    cuộc sống mới, còn những nhu cầu
    bắt nguồn bắt rễ tận da thịt
    sương tủy thuộc nòi giống lâu
    đời, và ở đáy lòng mờ mịt chìm
    sâu vào những thời qua: vì thế,
    tôi vẫn ưa những nhan-sắc của
    Le Titien thời Phục-Hưng thế-
    kỷ XVI, và những tao-nhã của
    Vương-Duy Lý-Bạch nhà Đường.

    *

    Nếu nhiều người cùng tôi khen
    một bức tranh đẹp, tôi càng dễ
    tin là .

    Khi nói , tôi mặc-nhiên
    thừa nhận là hợp lắm với một sự
    Đẹp lý-tưởng nào đó để mọi
    người cùng hưởng và cùng làm
    tiêu-chuẩn so sánh các vẻ đẹp
    riêng biệt ở nơi này, lúc khác.
    Thành thử tôi lại quay về cái Đẹp
    khuôn mẫu của Platon?

    Chưa hẳn, vì cái Đẹp chung kia
    của mọi người cũng không bất-di
    bất-dịch như hình-tượng Hy-Lạp.
    Hồi 1930-1940, phần đông các kép
    đào điện-ảnh phải tuấn-tú như
    Ramon Novarro, xinh xắn ngây
    thơ như Danielle Darrieux… Sau
    thế-chiến II, chàng Ben-Hur phải
    vạm vỡ gân guốc như Charlton
    Heston, và các nàng phải nở
    trước nở sau như Lolo hay Tina
    Louise. Nhu-cầu Đẹp, ước-vọng
    Đẹp chung, theo những mẫu mực
    (canons) biến chuyển khó lường.
    Đến đây, hình như tôi lại thấy
    Hegel nói chí-lý, đúng hơn Platon?

    Nhưng nếu trở lại những hình
    ảnh cũ, tôi nhận rằng mặc dầu
    những sự thay đổi tùy thời-trang,
    tóc dài hay tóc ngắn, thân thể
    mập hay mảnh rẻ, môi trái tim
    hay dày mọng, ở rất nhiều người
    được khen là diễm-lệ, vẫn có một
    số điểm chung, dù Lucrèce Borgia
    thế-kỷ XVI hay Marylin Monroe
    ngày nay: các đường nét tròn
    cong hay ngay thẳng, vẫn phải
    cân đối nhịp nhàng, các thành phần
    phải xứng hợp với toàn thể,
    nõn nà bóng bảy chớ không
    xù xì, mềm mại chứ không gãy
    nhọn… Ở đàn ông, các lực-sĩ đẹp
    vạm-vỡ đều đặn như thế nào
    chăng nữa, cũng chỉ gợi lại kích thước
    bề-thế của thần Thái dương
    Apollon hoặc người ném
    đĩa Le Discobole ở Hy-Lạp. Phải
    chăng những chi-tiết vừa kể là
    những đặc-điểm của một sự Đẹp
    muôn thuở hay ít ra là nhiều
    thuở, ở bên ngoài và bên trên
    những sự gia giảm của mỗi thời?

    Xem thêm :  Stt Chúc Ngủ Ngon Hay Nhất ❤️ Top Status Chúc NY Ý Nghĩa

    Chỉ căn cứ vào các đặc-điểm
    kia, thì sẵn sàng tin có Đẹp vĩnh cửu.
    Chỉ chú trọng vào những sự
    tô-điểm, thì dễ nói rằng chỉ có
    Đẹp nhất-thời. Nhưng phân biệt
    như trên, tôi đã vô-tình dung hòa
    Platon với Hegel?

    Ở triết-học, lý-thuyết nào cũng
    bị những lý-thuyết về sau công kích,
    và nhiều khi phá vỡ gần
    hết: trong nhiều trường-hợp, tôi
    tránh sao khỏi hoài nghi?

    Trái lại, ở nghệ-thuật, mỗi vẻ
    đẹp mới và độc-đáo, là một phát-
    minh còn lại mãi, dù người khác
    tìm ra vẻ khác, vì mỗi người một
    lối, không thể so sánh một cách
    máy móc các thứ kiệt-tác. Đẹp
    của Renoir không diệt đẹp của
    Le Tintoret: .

    Thành thử mỗi sự khám-phá
    chỉ làm giầu thêm cho nhân-loại,
    và chung sống với các khám-phá
    trước. Tôi ưa nghệ-thuật chính vì
    thỏa mãn cho tôi, hoặc ít ra cho
    tôi ảo-tưởng thỏa mãn ở cõi này
    một nhu-cầu day dứt, một khát
    vọng trường-lưu (le désir d’éternité).

    GHI CHÚ:

    (1) Le beau n’était pas un attribut particulier
    à mille et un objets; sans doute,
    hommes, chevaux, vêtements, vierge ou lyre,
    sont des choses belles, mais au-dessus de
    tout cela, il y a la Beauté elle-même (theo
    Raymond Bayer nói về Platon: Méthode esthétique).

    Une beauté première qui, par sa présence
    même, rend belles les choses que nous appelons
    belles (theo P. M. Schuhl – Platon et l’Art de son temps).

    (2) Một kẻ si-tình, mới đầu yêu vì sắc
    và bằng thân-thể, rồi yêu cả tâm-hồn mỹ –
    nhân, yêu thì phải thực lòng và tốt với
    người đẹp, rồi có thể thành người tốt, ái tình
    tổng hợp cả Chân Thiện Mỹ.

     

    (3) Đẹp lý-tưởng của Platon đã đưa tới
    một quan-niệm nghệ thuật tuyệt-đối với
    những qui-mô bất-dịch. Người thời trước
    tìm thấy Đẹp, người thời sau cứ việc noi
    theơ thì dễ thấy đường. Trong ngót hai
    mươi thế kỷ, các môn phái gọi là Cổ-Điển
    dù ở hội-họa, kiến-trúc, văn-chương… đều
    chịu ảnh-hưởng của ông. Kết-quả là nhiều
    kiệt-tác, nhưng cũng là một tinh-thần nệ-
    cổ, lệ thuộc những mẫu-mực kích-thước
    kìm hãm sự phát-triển nghệ-thuật.

    (4) Un être ou une chose composée de
    parties diverses ne peut avoir de beaute
    qu’autant que ses parties sont disposées dans
    un certain ordre et qu’elles ont en outre
    une dimension qui ne peut pas être arbitraire,
    car le beau consiste dans l’ordre et la grandeur.

    (Nếu theo Aristote mà suy luận ra, thì
    nghệ-thuật bắt nguồn ở tạo vật hơn là ở
    ý-thức, thiên về cảnh và tình hơn lý, ưa
    động hơn tĩnh, biến đồi thực-tế chớ không
    theo sát, tùy sức cá-nhân hơn là theo
    những mẫu mực ngàn xưa. Dù sao, hai
    lý-thuyết ròng rã mấy chục thế kỷ, cứ tùy
    nơi tùy lúc lên xuống cạnh tranh mà chi
    phối kiến-trúc, thi ca, hội-họa. Như ở hội họa,
    thì trọng màu sắc dễ rung cảm hơn
    đường nét lạnh lùng: ỏ thời Phục-Hưng
    Ý, họa-phái thành Florence chịu ảnh-hưởng
    Platon, họa-phái thành Venise chịu ảnh
    hưởng Aristote (René Huyghe — L’ Art. et l’Homme).

    (5) Le beau plait universellement et sans concept.

    Le génie est la disposition innée de l’esprit
    par laquelle la nature donne ses règles à l’Art.

    L’Art est une imitation dont la nature a
    donné des règles par le moyen du génie.
    (Critique du jugement — traduction P. Picon et Denis Huisman).

    (6) L’Art atteint son but suprême quand
    il rend conscient et exprime le divin —
    Hegel. (theo Denis Huisman — L’Esthétique).

     

    (7) Le poème est ce qui doit exister sans
    lui et avant lui (le poète) dans une conscience
    supérieure où s’unissent l’obscur du
    fond de la terre et la clarté d’un pouvoir
    universel… M. Blanchot: La part du Feu.

    Ce n’est pas en eflet par art, mais inspiration
    et suggestion divine que tous les
    grands poctcs épiques comỹosent tous ces
    beaux poèmes… Ces beaux poèmes ne sont
    ni humains ni faits par des hommes, mais
    divins et faits par les Dieux — Platon.

     

    (8) L’Art et l’imagination — Textes de P. Picon.

    (9) Le beau étant l’objet de l’imagination,
    de l’intuition, du sentiment, ne saurait être
    l’objet d’une science et ne se prêterait pas à
    un traitement philosophique (Hégel — theo Denis Huisman).

    (10) L’heure de la pensée germanique —
    (L’Art et l’Âme — René Huyghe).

    (11)….L’accord le plus parfait possible àe
    tous les temps et de tous les pays. (Critique du jugement — Kant).

     

    (12) Kant gián-tiếp nhận có sự Đẹp
    khách-quan, nhưng đã giải thích như sau
    vì sao Đẹp chủ-quan có thể hợp với Đẹp
    khách-quan: cảm mà ưa thích là tùy chủ quan;
    nhưng khi ta nhận xét rằng vật này
    vật kia là đẹp, ta phỏng đoán rằng người
    khác cũng nhận như ta, ta mặc-nhiên dựa
    vào một ý-niệm đẹp chung mà xét “La
    nécessité du consentement universel concue
    dans un jugement de gout, est une nécessité
    subjective, représentée comme objective sous
    la supposition d’un sens commun”.

    (13) Ở trường hợp này, triết-gia Kant đã
    không lầm, khi ông nêu ra sự phỏng đoán
    một quan-niệm Đẹp chung, suy ta ra người mà xét.

    PHỤ LỤC:

    Sự Đẹp là ánh huy-hoàng cùa sự thật: Le Beau, c’est la splendeur du Vrai.
    (Triết-gia PLATON? RAVAISSON?)

    Sự Đẹp là cái gì đồng-nhất giữa mọi sự dị-biệt canh-cải: Le Beau
    est l’unité dans la variété. (Triết-gia ARISTOTE?)

    Sự Đẹp, là vật thể. Đó là bằng chứng lạ lùng và không ngờ rằng
    ngoại-thể lại chính là nội-dung: Le Beau, c’est la forme. Preuve
    étrange et inattendue que la forme, c’est le fond. (Thi-sĩ VICTOR HUGO)

    Sự Đẹp tức là sự quái dị: Le Beau, c’est le bizarre. (Thi-sĩ BAUDELAIRE)

    Sự Đẹp chắc chắn là cuộc tương-phùng của mọi sự thích-hợp:
    Le Beau est assurément la rencontre de toutes les convenances. (Họa-sĩ DELACROIX)

    Sự Đẹp là nguyên nhân kích-thích tất cả các sinh lực của chúng ta:
    Le Beau est ce qui cause une stimulation vitale de toutes nos energies. (Triết-gia GUYAU)

    Sự Đẹp là sự hoàn-toàn mà ta được thấy rõ: La Beauté est l’évidente
    perfection. (Học giả PAUL SAURIAU)

    Sự Đẹp là sự thành công hiển nhiên của nghệ-thuật, trong một bầu
    không-khí bình-tĩnh hòa-hợp, cao-cả tương-xứng, điều-độ và lại
    còn đầy hạnh-phúc và yêu đương: Le Beau est l’évidente réussite
    đe l’Art dans un climat de calme, d’harmonie, đe grandeur, de
    justes proportions, de mesure, et même de bonheur et d’amour.
    (Mỹ-học-gia ETIENNE SOURIAU)

    Đoàn Thêm

    Tìm Đẹp
    Nam Chi Tùng Thư, 1964


    Cùng Tác Giả

    Cùng Tác Giả:

     

    Đẹp Là Gì? Đoàn Thêm Biên khảo

    Hội Họa Cũ Và Hội Họa Mới Đoàn Thêm Nhận định

    Quốc Túy Đoàn Thêm Biên khảo

    Giành Và Giữ Độc Lập, Mở Mang Lãnh Thổ, Xây Dựng Xứ Sở Đoàn Thêm Biên khảo

  • Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Giáo Dục

    Related Articles

    Trả lời

    Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

    Check Also
    Close
    Back to top button