Wiki

CHUYÊN đề lựa CHỌN vấn đề dạy và PHƯƠNG PHÁP ôn tập CHO học SINH GIỎI QUỐC GIA KHI GIẢNG dạy LỊCH

Ngày đăng: 09/10/2015, 08:46

HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VILỜI NÓI ĐẦUTrong hành trình phát triển của nền giáo dục Việt Nam, hệ thống cáctrường THPT chuyên ngày càng khẳng định được vị thế quan trọng của mìnhtrong việc phát hiện, tuyển chọn và bồi dưỡng nhân tài, chắp cánh những ướcmơ bay cao, bay xa tới chân trời của tri thức và thành công. Đối với các trườngTHPT chuyên, công tác học sinh giỏi luôn được đặt lên hàng đầu, là nhiệm vụtrọng tâm của mỗi năm học. Hội thảo khoa học các trường THPT chuyên Khuvực Duyên Hải và Đồng bằng Bắc Bộ là một hoạt động bổ ích diễn ra vào tháng11 thường niên. Đây là dịp gặp gỡ, giao lưu, học hỏi, trao đổi kinh nghiệmgiảng dạy, phát hiện, tuyển chọn và bồi dưỡng đội tuyển học sinh giỏi Quốc gia,Quốc tế giữa các trường THPT chuyên trong khu vực. Năm năm qua, các hộithảo khoa học đều nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình của các trường, bước đầuđã đem đến những hiệu ứng tốt, tác động không nhỏ đến công tác bồi dưỡng họcsinh giỏi và chất lượng đội tuyển học sinh giỏi quốc gia của các trường Chuyên.Năm 2013 là năm thứ 6, hội thảo khoa học của Hội các trường THPTchuyên Khu vực Duyên hải và Đồng bằng Bắc Bộ được tổ chức tại Thái Bình mảnh đất quê lúa, mang trong mình truyền thống yêu nước và truyền thống hiếuhọc. Tại hội thảo lần này, chúng tôi chủ trương tập trung vào những vấn đề mớimẻ, thiết thực và có ý nghĩa đối với việc bồi dưỡng học sinh giỏi, để quý thầycô đã, đang và sẽ đảm nhiệm công tác này tiếp tục trao đổi, học tập, nâng caohơn nữa năng lực chuyên môn của mình.Tập tài liệu của Hội thảo lần thứ VI bao gồm những chuyên đề khoa họcđạt giải của quý thầy cô trong Hội các trường THPT chuyên Khu vực Duyên hảivà Đồng bằng Bắc bộ. Các bài viết đều tập trung vào những vấn đề trọng tâm đãđược hội đồng khoa học trường THPT chuyên Thái Bình thống nhất trong nộidung hội thảo. Nhiều chuyên đề thực sự là những công trình khoa học tâmhuyết, say mê của quý thầy cô, tạo điểm nhấn quan trọng cho diễn đàn, có thểcoi là những tư liệu quý cho các trường trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi.Xin chân thành cảm ơn sự cộng tác của quý thầy cô đến từ các trườngTHPT chuyên Khu vực Duyên hải và Đồng bằng Bắc Bộ cùng các trườngTHPT chuyên với vai trò quan sát viên. Chúng tôi hy vọng, sẽ tiếp tục nhậnđược nhiều hơn nữa sự phản hồi, đóng góp, trao đổi của quý thầy cô để cácchuyên đề khoa học hoàn thiện hơn.Thái Bình, tháng 11 năm 2013TR­êng THPT Chuyªn th¸i b×nhTrường THPT Chuyên Thái Bình1HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIChuyên đề xếp loại xuất sắcCHUYÊN ĐỀLỰA CHỌN VẤN ĐỀ DẠY VÀ PHƯƠNG PHÁP ÔN TẬP CHOHỌC SINH GIỎI QUỐC GIA KHI GIẢNG DẠY LỊCH SỬVIỆT NAM TỪ 1858 ĐẾN 1918Bùi Hương MơGiáo viên trường THPT chuyên Lê Hồng Phong Nam ĐịnhA- MỞ ĐẦUTrong Đề án phát triển hệ thống trường THPT chuyên giai đoạn 2010 2020 của Bộ giáo dục đào tạo đã xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm của các trườngTHPT chuyên là “phát hiện những học sinh có tư chất thông minh, đạt kết quảxuất sắc trong học tập để bồi dưỡng thành những người có lòng yêu đất nước,tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc; có ý thức tự lực, có nền tảng kiến thức vữngvàng; có phương pháp tự học, tự nghiên cứu và sáng tạo; có sức khỏe tốt để tạonguồn tiếp tục đào tạo thành nhân tài, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trongthời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế”.Để đạt được mục tiêu đó đòi hỏi phải các trường chuyên phải nâng caohiệu quả dạy học nói và hiệu quả của công tác bồi dưỡng học sinh giỏi nóiriêng. Đối với bộ môn Lịch sử, điều này lại càng cần thiết, bởi chúng ta đãkhông còn lạ gì với tình trạng học sinh đang ngày càng thờ ơ với môn sử, haychất lượng học sinh chuyên sử thường thấp hơn các chuyên khác. Một bài toánkhó đặt ra cho các giáo viên dạy Lịch sử ở các trường chuyên là làm thế nào đểlàm thay đổi nhận thức của học sinh về bộ môn, chọn lọc và bồi dưỡng trong sốđó thành những học sinh giỏi quốc gia môn Lịch sử.Công tác bồi dưỡng HSG là một công việc rất gian nan, vất vả, đòi hỏinhiều tâm sức, trí tuệ, thời gian của người thầy. Một trong những khó khăn củachúng ta hiện nay khi bồi dưỡng HSG quốc gia môn Lịch sử là sự thiếu hụt vàchưa thống nhất về nguồn tài liệu, phương pháp và cách thức bồi dưỡng cònmang tính kinh nghiệm cá nhân nhiều. Do vậy, việc tăng cường tổ chức cácbuổi hội thảo về các chuyên đề bồi dưỡng HSG quốc gia giữa các giáo viên ởcác trường chuyên là điều rất cần thiết để chúng ta có thể trao đổi kinh nghiệm,Trường THPT Chuyên Thái Bình2HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIqua đó bổ sung cho nhau các nguồn tư liệu và tìm ra phương pháp và cách thứctổ chức dạy học tối ưu.Phần Lịch sử Việt Nam từ 1858 – 1918 nằm toàn bộ trong chương trìnhLịch sử lớp 11 (Phần sử Việt Nam) phản ánh cuộc đấu tranh chống xâm lượccủa nhân dân Việt Nam trong khoảng thời gian một nửa thế kỉ, trải qua các giaiđoạn, các thời kì phức tạp của đất nước: thời kì đấu tranh bảo vệ nền độc lậpdân tộc (1858 – 1884); thời kì đấu tranh giành lại nền độc lập dân tộc dưới ảnhhưởng của ý thức hệ phong kiến (1885 – 1896); thời kì vận động yêu nước vàcách mạng có tính chất dân chủ tư sản đầu thế kỉ XX và phong trào yêu nướctrong những năm Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918). Đây cũng là phầnkiến thức quan trọng trong nội dung thi HSG quốc gia.Vì vậy, thông qua chuyên đề “Lựa chọn vấn đề dạy và phương pháp ôn tậpcho học sinh giỏi quốc gia khi giảng dạy Lịch sử Việt Nam từ 1858 – 1918”,chúng tôi hi vọng có thể chia sẻ với các đồng nghiệp những kinh nghiệm ít ỏicủa các giáo viên trong nhóm Sử trường THPT chuyên Lê Hồng Phong về nộidung và phương pháp bồi dưỡng HSG giai đoạn này.Chuyên đề gồm 2 phần:Phần I: Một số vấn đề chuyên sâu trong phần Lịch sử Việt Nam từ1858 – 19181. Nội dung cơ bản của Lịch sử Việt Nam từ 1858 – 1918.2. Một số vấn đề chuyên sâu trong phần Lịch sử Việt Nam từ 1858 – 1918.Phần II: Phương pháp ôn tập Lịch sử Việt Nam từ 1858 – 1918 cho HSGquốc gia1. Yêu cầu chung khi tổ chức ôn tập Lịch sử Việt Nam từ 1858 – 1918 choHSG quốc gia.2. Một số biện pháp tổ chức ôn tập Lịch sử Việt Nam từ 1858 – 1918 choHSG quốc gia2.1. Tổ chức cho HS trao đổi thảo luận theo chủ đề2.2. Xây dựng hệ thống bài tập theo từng vấn đề và rèn kĩ năng làm bài tập2.3. Hướng dẫn học sinh tự học.Trường THPT Chuyên Thái Bình3HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIB- NỘI DUNGPhần I:Một số vấn đề chuyên sâu trong phần Lịch sử Việt Namtừ 1858 – 19181. Nội dung cơ bản của Lịch sử Việt Nam từ 1858 – 1918.Trong sách giáo khoa Lịch sử lớp 11 (chương trình nâng cao), phần Lịchsử Việt Nam từ 1858 – 1918 được chia làm 2 chương:Chương I: Việt Nam từ năm 1858 đến cuối thế kỉ XIX với nội dung cơbản sau:- Bối cảnh nước Việt Nam vào những năm 60 của thế kỉ XIX đang lâmvào khủng hoảng về mọi mặt: kinh tế, chính trị, xã hội, quân sự… trong khi cácnước tư bản phương Tây đang ráo riết đẩy mạnh xâm chiếm thuộc địa, thịtrường. Đây là nguyên nhân sâu sa dẫn đến việc Pháp nổ súng xâm lược ViệtNam vào năm 1858.- Từ năm 1858 đến năm 1884, bằng sự kết hợp giữa hành động quân sựvới thủ đoạn chính trị ngoại giao, thực dân Pháp đã từng bước đánh chiếm ViệtNam. Trong khi nhân dân ta hăng hái đấu tranh chống Pháp, nêu cao ý chí độclập, phát huy truyền thống yêu nước của dân tộc thì triều đình nhà Nguyễn tỏ rabị động và thiếu tích cực, chọn đường lối “thủ để hòa”, lần lượt kí với các Hiệpước 1862, 1874, 1883, 1884 đi từ nhân nhượng, thỏa hiệp đến đầu hàng hoàn toàn.Với hiệp ước Patơnốt năm 1884, Việt Nam chính thức trở thành thuộc địa củaPháp, triều đình phong kiến trở thành công cụ trong tay chính quyền thực dân.- Trước cuộc xâm lược và thống trị của thực dân Pháp, nhân dân ta trongđó gồm một bộ phận sĩ phu, văn thân yêu nước và đông đảo quần chúng nhândân không chịu khuất phục đã dũng cảm đứng lên kháng chiến chống Pháp,hưởng ứng chiếu Cần Vương. Phong trào Cần Vương diễn ra sôi nổi trong suốt10 năm cuối thế kỉ XIX với hình thức chủ yếu là khởi nghĩa vũ trang, tiêu biểu 4cuộc khởi nghĩa lớn …, nhưng do thiếu đường lối đấu tranh đúng đắn nên đềuthất bại. Sự bế tắc của phong trào yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến đã báohiệu sự khủng hoảng về đường lối cứu nước và giai cấp tiên tiến lãnh đạo.- Song song với phong trào Cần Vương là cuộc khởi nghĩa nông dân YênThế do Hoàng Hoa Thám lãnh dạo. Cuộc khởi nghĩa này trong chừng mực nàođó đã không quá lệ thuộc vào ý thức hệ phong kiến. Vì vậy họ đã làm nênnhững kì tích. Mặc dù so sánh lực lượng yếu hơn địch nhiều lần nhưng họ vẫnTrường THPT Chuyên Thái Bình4HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIduy trì suốt 30 năm. Tuy nhiên phong trào vẫn không có đường lối đúng đắncủa 1 giai cấp tiên tiến nên cuối cùng cũng thất bại.Chương II: Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến hết chiến tranh thế giới thứnhất với nội dung cơ bản sau:- Từ 1896 – 1914 thực dân Pháp tiến hành chính sách khai thác thuộc địalần 1, từ đó đã tác động làm cho nền kinh tế và xã hội Việt Nam có nhiều biếnđổi. Thêm vào đó, những trào lưu tư tưởng dân chủ tư sản từ Trung Quốc, NhậtBản dội vào nước ta. Những điều kiện về kinh tế, xã hội, tư tưởng đã ảnh hưởngđến phong trào yêu nước của dân tộc ta trong đầu thế kỉ XX.- Bước sang đầu XX, các nhà yêu nước Việt Nam đã nhận thức rằng: conđường cứu nước của nhân dân Việt Nam không thể duy trì như cũ được nữa.Họ đã bắt đầu từ bỏ những tư tưởng theo ý thực hệ phong kiến và cũng bắt đầunhận ra cuộc vận động giải phóng dân tộc phải đổi mới, phải xây dựng đất nướctheo tinh thần dân chủ: nước gắn liền với dân. Phong trào yêu nước và cáchmạng ở Việt Nam đầu thế kỉ XX theo khuynh hướng dân chủ tư sản diễn ra với2 xu hướng chính: xu hướng bạo động đại diện là Phan Bội Châu, xu hướng cảicách đại diện là Phan Châu Trinh. Tuy nhiên khuynh hướng cứu nước mới nàycũng không đáp ứng được yêu cầu khách quan của lịch sử.- Trong những năm Chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918), chínhsách của Pháp ở Việt Nam thay đổi đưa đến những chuyển biến mới về kinh tế,xã hội. Trong thời gian chiến tranh, mặc dù vẫn có các cuộc khởi nghĩa do cácyếu nhân của Việt Nam Quang phục hội tiến hành, hay các cuộc nổi dậy của cácdân tộc thiểu số và phong trào Hội kín ở Nam Kì… nhưng xét tổng thể cácphong trào đều rơi vào bế tắc, thất bại.- Cho đến đầu thế kỉ XX, phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân tavẫn trong tình trạng khủng hoảng về đường lối cứu nước. Trong bối cảnh đó,Nguyễn Ái Quốc đã ra đi tìm đường cứu nước mở ra một hướng đi mới chocách mạng Việt Nam.2. Một số vấn đề chuyên sâu trong phần Lịch sử Việt Nam từ1858 – 1918.Trên cơ sở những kiến thức cơ bản học sinh đã được trang bị khi học ởtrên lớp theo chương trình sách giáo khoa, khi ôn tập cho học sinh các lớpchuyên và học sinh đội tuyển phần Lịch sử Việt Nam từ 1858 – 1918, chúng tôithường đi sâu vào dạy theo các chuyên đề. Nội dung các chuyên đề là nhữngvấn đề cơ bản, quan trọng, mang tính chất tổng hợp của từng giai đoạn hayTrường THPT Chuyên Thái Bình5HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VInhững vấn đề bổ dọc qua các giai đoạn. Thực tế cho thấy, việc ôn tập theo từngvấn đề đem lại hiệu quả rất cao. Nó làm cho kiến thức đã học trở nên phongphú, lôgic nhờ một tư tưởng mới, nó xem xét những điều đã học dưới mộtgóc nhìn mới và dẫn đến kết quả là không những điều đã học được củng cố,mà các tri thức còn được sắp xếp thành hệ thống và học sinh có ý thức sâusắc hơn về ý nghĩa của các sự kiện, hiện tượng lịch sử ấy. Tính hệ thống làmột trong những đặc điểm nổi bật của tri thức lịch sử. Vì vậy, khi giảng dạylịch sử, người giáo viên phải chú ý đến mối quan hệ ngang dọc, trước saucủa các sự kiện lịch sử, vì có nắm được tri thức theo một hệ thống và trật tựlôgic thì mới có thể ứng dụng những tri thức đó để giải quyết những vấn đềcó tính chất thực tiễn.Cụ thể, khi ôn tập phần Lịch sử Việt Nam từ 1858 – 1918, chúng tôiđi sâu vào các vấn đề cơ bản sau:1. Vai trò và trách nhiệm của nhà Nguyễn đối với việc để nước ta rơi vàotay thực dân Pháp ở thế kỉ XIX2. Cuộc kháng chiến chống Pháp bảo vệ nền độc lập dân tộc của nhândân Việt Nam từ 1858 – 1884.3. Phong trào yêu nước chống Pháp cuối thế kỉ XIX.4. Hai xu hướng trong phong trào yêu nước và cách mạng đầu thế kỉ XX.5. Các tư tưởng cải cách, canh tân ở Việt Nam từ nửa cuối thế kỉ XIXđến đầu thế kỉ XX.Để giảng dạy các vấn đề trên có hiệu quả, nhóm Lịch sử của trườngchúng tôi đã giao cho từng giáo viên tập hợp tài liệu, biên soạn và dạy cácchuyên đề. Sau mỗi một chuyên đề, chúng tôi đã trao đổi, thảo luận trong nhómđề rút kinh nghiệm, bổ sung cho nhau về nội dung và phương pháp. Đến naychúng tôi đã có một bộ chuyên đề khá hoàn chỉnh về phần Lịch sử Việt Nam từ1858 – 1918 dùng cho giảng dạy ở lớp chuyên và bồi dưỡng HSG các cấp.Sau đây tôi xin lấy ví dụ cụ thể một số chuyên đề chúng tôi đã biên soạn:Ví dụ 1:Vai trò và trách nhiệm của nhà Nguyễn đối với việc để nước ta rơi vàotay thực dân Pháp ở thế kỉ XIX.Xung quanh nguyên nhân nước ta rơi vào tay thực dân Pháp cuối thế kỉXIX và trách nhiệm của nhà Nguyễn trong tai họa đau khổ này – do xuất phát từnhững góc độ nhìn nhận khác nhau, cho đến tận bây giờ, vẫn còn có không ít ýkiến hoặc trái ngược, hoặc phiến diện, thiếu đầy đủ. Bên cạnh những ý kiến hơiTrường THPT Chuyên Thái Bình6HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIcó vẻ cực đoan: trút tất cả sự hận thù, căm ghét, giận giữ lên đầu triều đìnhphong kiến nhà Nguyễn, cho nhà Nguyễn là vương triều tối phản động, là đồđáng bỏ đi, không cần xem xét thực hư, trái phải, kết tội nhà Nguyễn là kẻ phảichịu trách nhiệm hoàn toàn trong việc để mất nước ta…, thì lại có những ý kiếnđối lập. Những ý kiến này đã cố tình bênh vực cho nhà Nguyễn, cho rằng việcmất nước ta ở cuối thế kỉ XIX là một tất yếu, thậm chí là “một tai hoạ cần thiết”,đã giúp nhân dân ta thoát khỏi chế độ bán khai. Và việc tìm hiểu nguyên nhânnước ta rơi vào tay thực dân Pháp cũng như trách nhiệm của triều Nguyễn trongvấn đề này là hết sức quan trọng, cần thiết. Nó giúp cho chúng ta có một thái độ,cái nhìn đúng đắn đối với vương triều cuối cùng trong lịch sử chế độ phong kiếnViệt Nam.1/ Bối cảnh lịch sử và nguyên nhân nước ta bị xâm lược* CNTB phương Tây- Từ nửa sau thế kỉ XIX, CNTB đang chuyển sang giai đoạn độc quyền,nhu cầu về thị trường, nhân công trở nên gay gắtchâu Á và châu Phi là đốitượng nhòm ngó số 1 của tư bản phương Tây.- Thủ đoạn của các nước tư bản là dùng vũ trang buộc các nước kí kếtnhững hiệp ước bất bình đẳng đảm bảo thoả mãn những yêu cầu của chúng.* Các nước phương Đông- Các nước phương Đông vẫn trong tình trạng lạc hậu về mọi mặt. Chế độphong kiến đang bước vào giai đoạn khủng hoảng. Trong khi tài nguyên dồidào, nhân công rẻ mạt việc bị xâm lược là không tránh khỏi.- Anh đã chiếm Ấn Độ, Ôttraylia, Inđônêxia bị Hà Lan xâm lược;Philippin là thuộc địa của Tây Ban Nha. Nhật Bản và Trung Quốc phải kí nhữnghiệp ước bất bình đẳng với Anh – Pháp – Mĩ… Việt Nam cũng nằm trong quỹđạo đó.Kết luận: Đất nước ta bị Pháp xâm lược là một tất yếu khách quan. Nếukhông phải là Pháp thì cũng sẽ là một tên đế quốc khác xâm lược Việt Nam.Thực dân Pháp có những điều kiện thuận lợi hơn các nước đế quốc khác ở ViệtNam.2/ Trách nhiệm của nhà Nguyễn đối với việc để nước ta rơi vào taythực dân Pháp ở thế kỉ XIX.Để làm rõ trách nhiệm của nhà Nguyễn, phải xét ở 2 thời điểm: trước khiquân Pháp xâm lược và trong quá trình Pháp xâm lược Việt Nam.a) Trước khi Pháp xâm lược.Trường THPT Chuyên Thái Bình7HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI- Chính sách đối nội:Vương triều Nguyễn ra đời sau một thời gian dài chiến tranh liên mien,nền kinh tế đất nước trở nên tiêu điều, chính trị rối loạn, công việc cần làmtrước mắt của Gia Long và các ông vua đầu thời Nguyễn là bắt tay xây dựng vàcủng cố nền thống trị trên nền tảng của ý thức hệ Nho giáo, một ý thức hệ tuyđã lỗi thời ở phương Đông nói chung, ở Việt Nam nói riêng nhưng vẫn chưa cómột cơ sở kinh tế, xã hội đủ mạnh để có thể thoát ra khỏi vòng ảnh hưởng và chiphối của nó.Do sự thiếu thức thời, lệ thuộc thái quá vào nhưng bài học Trung Hoa đãdẫn các vua triều Nguyễn đi từ sai lầm này đến sai lầm khác, trước hết là ở việccủng cố thể chế quân chủ quan liêu chuyên chế, ở việc tập trung quyền lực tuyệtđối vào tay nhà vua, ở việc mô phỏng bộ luật nhà Thanh để làm ra Hoàng triềuluật lệ với những quy định hà khắc, chủ yếu là trừng trị và đối phó với nhữngcuộc nổi dậy của nhân dân. Triều đình còn “bế quan toả cảng”, khước từ giaothiệp với các nước phương Tây, không cho phép người Âu lập phố xá, mở cửahàng, cùng chính sách cấm đạo, giết đạo khốc liệtNền kinh tế bị phá hoại nghiêm trọng trong những năm chiến tranh chưađược phục hồi, vì nhà nước chăm lo không đúng mức đến phát triển kinh tếnông nghiệp. Nạn kiêm tinh ruộng đất gia tăng càng khiến phần lớn nông dânmất đất. Nạn đói thường xuyên xảy ra, thiên tai, ôn dịch hoành hành làm hàngngàn nông dân phiêu tán… Trong khi đó nền công thương nghiệp lạc hậu khônggiúp gì cho việc cải thiện tình hình. Hơn nữa chế độ thuế khoá hà khắc, chínhsách bế quan toả cảng đã hạn chế công thương nghiệp trong khuôn khổ kinh tếphong kiến, chống lại ảnh hưởng của kinh tế tư bản chủ nghĩa phương Tây, tháiđộ cầu an của giai cấp phong kiến thống trị khiến cho các lực lượng sản xuấtmới không thể nảy nở được…Điều này quyết định sức đề kháng của đất nước trước sự xâm lược củathực dân Pháp. Khi Pháp xâm lược Việt Nam thì “quân và dân của đã hết, sứcđã thiếu”.- Chính sách đối ngoại: chính sách đối ngoại của nhà Nguyễn có nhữnghạn chế, đó là:+ Thứ nhất, sự bành trướng, xâm lược các nước xung quanh. Ở thời kìMinh Mạng, nhà Nguyễn đã chiếm toàn bộ một nửa nước Lào, Campuchia, giaocho Lê Văn Duyệt quản lý. Chính những chính sách cứng rắn này đã gây sự thùhằn giữa các dân tộc trên bán đảo Đông Dương.Trường THPT Chuyên Thái Bình8HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI+ Triều Nguyễn đã tỏ ra khá lúng túng trong việc vừa muốn mở cửa đểhoà nhập vào thị trường của thế giới, vừa muốn đóng cửa để bảo toàn chủ quyềndân tộc. Chính sách hai mặt của triều Nguyễn trong việc mở cửa cho phép cácthương nhân Pháp vào buôn bán, vừa đóng cửa để ngăn chặn sự xâm nhập củathực dân Pháp, đã làm cho quan hệ bang giao giữa triều Nguyễn với thực dânPháp rơi vào tình trạng bế tắc+ Thứ hai, chính sách cấm đạo của triều Nguyễn đã tạo ra một tâm lýkhông hay, làm rạn nứt khối đoàn kết của dân tộc, làm suy yếu khả năng đềkháng của dân tộc ta trước sức mạnh của kẻ xâm lược.Như vậy, với tư cách là người quản lý, điều hành đất nước, triều Nguyễnđã không giải quyết được cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội ở thế kỉ XIX, thậmchí còn làm cho tiềm lực kinh tế quốc gia suy kiệt, hao mòn sức dân, nước ViệtNam suy yếu mọi mặt và trở thành miếng mồi cho tư bản phương Tây.b) Trong quá trình Pháp xâm lược Việt NamĐây là lúc nhà Nguyễn với tư cách là một triều đại thống trị đất nước cầntỏ rõ vai trò lãnh đạo của mình và gánh vác trọng trách lịch sử là kháng chiếngiữ nước. Vậy triều Nguyễn đã làm gì?- Ngay từ đầu trước sự tấn công ồ ạt của quân Pháp, chính quyền phongkiến đã tỏ ra bị động. Trong nội bộ đã sớm có sự phân hoá thành 2 phái: pháichủ chiến và phái chủ hoà.+ Phái chủ chiến muốn dựa vào phong kiến Trung Quốc để đánh đuổi bọncướp xa lạ mà họ gọi là bọn “bạch quỷ”, “dương quỷ”.+ Phái chủ hoà với các lập luận như “chiến không bằng hoà”, “thủ để hoà”…Ý kiến được nhiều người tán thành là chủ hoà, cho thấy rằng đại bộ phậnhàng ngũ cầm quyền đã mang nặng tư tưởng sợ giặc, không kiên quyết chiếnđấu nên đã có nhiều sai lầm trong chỉ đạo kháng chiến, bỏ lỡ nhiều cơ hội đánhthắng kẻ thù.* Ở mặt trận Đà Nẵng.Tháng 9/1858, Liên quân Pháp – Tây Ban Nha đánh vào Đà Nẵng. Mặcdù đã cử Nguyễn Tri Phương ra chặn giặc nhưng quan quân triều đình vẫn chỉnặng về phòng ngự, chỉ chủ trương bao vây địch ở ngoài mé biển, nếu địch đánhvào mới chống trả, còn không hề tấn công địch lần nào.* Ở mặt trận Gia Định và các tỉnh Nam KìThành Gia Định được xây dựng từ thời Gia Long, là thành trì lớn nhấtmiền Nam, nơi đây có gần 1 vạn quân, 200 khẩu đại bác, 2000 vũ khí cầm tay, 9Trường THPT Chuyên Thái Bình9HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VItàu chiến và số lượng lúa gạo có thể nuôi hàng vạn quân trong 1 năm. Tuy nhiênquan lại ở đây chỉ chống cự yếu ớt và chưa đầy 1 buổi sáng thực dân Pháp đã lọtvào trong thành.Lúc này quân Pháp gặp khó khăn lớn: điều quân tiếp viện cho Đà Nẵng,một số khác vướng vào cuộc đấu tranh trên đất Ý ( tháng 4/1859), hạm đội liênminh Anh – Pháp bị Trung Quốc đánh bại trên sông Bạch Hà. Số quân địch ởGia Định chỉ có dưới 1000 người dàn mỏng trên phòng tuyến dài hơn 10 cây số.Nhưng Nguyễn tri Phương chỉ ra sức đào hào đắp luỹ, xây dựng đại đồn ChíHoà mà không biết chớp thời cơ tiêu diệt địch. Hậu quả là hàng ngàn quân bị tậptrung trong Đại Đồn chỉ để làm mục tiêu cho đại bác địch. Chính tướng giặcGiơnuiy phải nhận rằng “Nếu họ đánh mạnh thì họ đã đánh bại chúng tôi từ lâu rồi”.Khi Pháp chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Kì, lúc này để cứu vãn quyền lợicủa giai cấp, triều Nguyễn đã vội vàng kí hiệp ước Nhâm Tuất (5/6/1862) cắt 3tỉnh miền Đông Nam Kì cho Pháp.Sau điều ước 1862, gần như triều Nguyễn đã không còn tư tưởng chiếnđấu mà ngả hẳn sang chủ trương nghị hoà thương thuyết. Cũng từ đây, triềuđình đã đứng sang trận tuyến đối địch với nhân dân yêu nước. Triều đình chogiải tán các đội nghĩa quân miền Đông, bắt nộp thủ lĩnh nghĩa quân cho Pháp,cấm đoán nhân dân miền Tây ủng hộ miền Đông kháng chiến, những người tráilệnh bị khép vào tội khi quân.Từ 1863 – 1867 nhận thấy triều đình quá bạc nhược, Pháp quyết địnhchiếm nốt 3 tỉnh miền Tây. Chỉ trong 5 ngày (2024/6/1867), Pháp đã chiếmđược 3 tỉnh miền Tây mà không vấp phải sự kháng cự nào. Lấy xong 3 tỉnhmiền tây, thực dân Pháp cho người ra Huế báo sự việc đã rồi. Triều đình khônghề phản ứng mà chỉ xin đổi 3 tỉnh miền Tây mới mất để lấy lại tỉnh Biên Hoànhưng không được Pháp chấp nhận. Cũng từ đây trở đi, nhà Nguyễn chỉ lo đếnviệc cai trị những vùng đất còn tạm thời được kiểm soát, không hề quan tâm đếnnhững vùng đất đã bị Pháp chiếm, coi đó đã là “đất của người ta”, còn mìnhkhông còn trách nhiệm gì nữa. Điều đó chứng tỏ triều Nguyễn hoàn toàn anphận trong việc chia sẻ quyền lực với kẻ thống trị mới, bỏ rơi dân chúng giữalúc gay go nhất.* Khi Pháp đánh ra Bắc Kì.Tháng 10/1873 Pháp kéo quân ra Bắc, triều đình Huế đã đối phó lại rấtyếu ớt. Thành Hà Nội bị giặc chiếm, quan quân triều đình tan rã nhanh chóngnhưng nhân dân Hà Nội vẫn tiếp tục duy trì cuộc chiến đấu. Đội quân của LưuTrường THPT Chuyên Thái Bình10HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIVĩnh Phúc đã chiến thắng lớn ở trận Cầu Giấy, giết chết tên chỉ huy Gacnier.Bọn thực dân Pháp ở Nam Kì rất hoang mang, thêm vào đó nội bộ nước Phápđang có nhiều khó khăn. Nếu lúc này triều đình Huế quyết tâm đẩy mạnh khángchiến thì số địch ở Hà Nội và phân tán ở các tỉnh khác có thể bị tiêu diệt. Nhưngđể dọn đường cho một cuộc thương thuyết mới, Tự Đức ra lệnh cho Hoàng TáViêm triệt binh lên Sơn Tây, điều động quân của Lưu Vĩnh Phúc lên đóng trênmạn ngược chờ lệnh mới.Cũng như lần trước triều đình Huế đã nhanh chóng kí kết hoà ước vớiPháp vào 15/3/1874. Với hoà ước này, phong kiến Nguyễn chính thức dâng toànbộ đất Nam Kì cho Pháp, công nhận quyền đi lại, buôn bán, kiểm soát điều tratình hình của chúng ở Việt Nam. Lợi dụng thái độ đầu hàng của giai cấp phongkiến, thực đan Pháp còn ép triều đình Huế kí thêm một bản thương ước gồm 29khoản ngày 31/8/1874 xác lập đặc quyền của chúng trên khắp nước Việt Nam.Để đối phó với những cuộc khởi nghĩa của nhân dân, nhà Nguyễn cònnhờ Pháp đưa quân ra Bắc Kì để đàn áp tạo điều kiện cho Pháp đánh chiếm BắcKì lần 2. Chiến thắng Cầu Giấy lần 2 (19/5/1883) làm cho giặc Pháp ở Hà Nộivô cùng hoang mang lo sợ. Trong tình hình đó, chỉ cần một cuộc đột kích nhỏcủa quân ta cũng có thể tiêu diệt hết quân địch, giải phóng Hà Nội. Nhưng triềuđình Huế không cho quân tấn công vào Hà Nội mà vẫn nuôi hi vọng thu hồi HàNội bằng con đường “thương thuyết hoà bình” như 10 năm về trước. Đến tháng7 khi viện binh của Pháp kéo sang thì thời cơ này cũng qua đi.Sau khi Tự Đức chết (17/7/1883), hoảng hốt trước những thất bại, triềuđình Huế vội vàng kí Hiệp ước Hắcmăng và hiệp ước Patơnôt chính thức thừanhận sự bảo hộ cuả Pháp. Nhà nước phong kiến Việt Nam, với tư cách là mộtnhà nước độc lập có chủ quyền đã hoàn toàn sụp đổ, trở thành thuộc địa củaPháp. Nhà Nguyễn đã từ bỏ vai trò lịch sử của mình để trở thành bù nhìn, tay saicho Pháp.3. Kết luậnTừ việc phân tích thái độ và hành động của triều Nguyễn trước cuộc xâmlược của thực dân Pháp, có thể rút ra những kết luận sau:1. Sự ra đời của nhà Nguyễn là chiến thắng của tập đoàn phong kiến phảnđộng – có sự giúp đỡ của tư bản nước ngoài – đối với một triều đại tương đốitiến bộ trong lịch sử, đó là triều Tây Sơn. Ngay từ khi thành lập, triều Nguyễnđã không nhận được sự ủng hộ của quần chúng nhân dân.Trường THPT Chuyên Thái Bình11HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI2. Và sau hơn nửa thế kỉ tồn tại (1802 – 1858), nước Việt Nam hầu như đãkhông thể phát triển theo hướng tiến bộ. Mâu thuẫn xã hội ngày càng sâu sắclàm bùng nổ hàng loạt cuộc khởi nghĩa nông dân. Kinh tế công – nông nghiệpsuy yếu, thương nghiệp bế tắc, tài chính khô kiệt. Chính sách ngoại giao đôi khithiếu khôn khéo và thiếu tỉnh táo đã đẩy đất nước vào tình trạng khó khăn khiphải đối phó với âm mưu xâm lược ngày càng ráo riết của tư bản phương Tây.Những yếu tố từng làm nên sức mạnh của các vương triều trước đây như “trêndưới đồng lòng, anh em hoà mục, cả nước giúp sức”… đã không còn nữa. Sựbóc lột nặng nề của nhà nước và của quan lại thường xuyên đè lên vai nhân dânlao động, nạn tham nhũng hoành hành, thiên tai lũ lụt đã đẩy nhân dân vào tìnhcảnh khó khăn nhất.3. Nhà Nguyễn với tư cách là người quản lý đất nước mà trách nhiệm lớnnhất là đã thi hành nhiều chính sách lỗi thời, lạc hậu, thậm chí đi ngược lạiquyền lợi của đất nước và của nhân dân, khiến cho thế nước ngày một suy yếu,xã hội luôn bất ổn, không còn đủ sức đối phó với cuộc xâm lược của tư bảnPháp. Nguyên nhân này kết hợp với những sai lầm của triều đình Huế từ năm1858 về sau với tư cách là người trực tiếp lãnh đạo và tổ chức cuộc kháng chiến,không biết dựa vào dân, áp dụng chiến thuật tác chiến sai lầm, thiên về chủhoà… Những điều này đã đưa đến sự thất bại của nhà Nguyễn trước cuộc xâmlược của thực dân Pháp.4. Quân Pháp tiến công nhưng triều đình giữ thế thủ và theo đường lốichủ hoà nên đã dẫn tới việc mất nước. Tư tưởng chủ hoà đã chi phối toàn bộchiến lược, chiến thuật của nhà Nguyễn. Triều đình đã bỏ lỡ nhiều cơ hội thắnggiặc như khi Pháp phải rút quân vào Gia Định, khi Pháp phải đưa quân sang tiếnhành chiến tranh ở Trung Quốc, và nay cả sau hai trận Câu Giấy của nhân dânta… Điều đó chứng tỏ, trong chiến tranh mà không biết địch, biết ta thì thất bạilà điều dễ hiểu.5. Nhà Nguyễn bảo thủ, cố chấp, khước từ mọi đề nghị cải cách tiến bộđể duy tân đất nước: Những tư tưởng cải cách mới chỉ xuất hiện trong một sốquan lại tức thời mà chưa tạo thành một làn sóng xã hội. Thậm chí ngay cả khinhà vua đã nhận ra điều cần phải đổi mới thì phái bảo thủ chiếm số đông trongtriều đình cũng đã gây ra trở ngại, khiến cho những chủ trương, cải cách đó chỉđược tiến hành một cách nhỏ giọt. Lực cản của những giáo điều Nho giáo lạchậu, nhất là việc sợ đụng chạm phải quyền lợi giai cấp, dòng họ Nguyễn và sựTrường THPT Chuyên Thái Bình12HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIchi phối bởi tư tưởng “nội hạ ngoại di” đã khiến cho những tư tưởng cải cách ởnước ta vào thế kỉ XIX bị thất bại.6. Từ những toan tính hẹp hòi, ích kỉ, muốn bảo toàn quyền thống trị củadòng họ và giai cấp, triều đình Tự Đức đã phản bội cuộc kháng chiến của quầnchúng nhân dân, từ chống cự yếu ớt đến đầu hàng, kí Hiệp ước Hắcmăng (1883)và Patơnốt (1884), thừa nhận sự thống trị của thực dân Pháp trên toàn bộ đấtnước Việt Nam.7. Đồng thời, khi xem xét nguyên nhân dẫn đến việc mất nước, chúng tacòn phải chú ý tới những mối quan hệ từ nhiều phía, nhiều chiều, từ thế lực củachủ nghĩa đế quốc nói chung, thế lực của tư bản Pháp nói riêng, đến những thamvọng bành trướng, chạy đua vũ trang xâm lược phương Đông của chúng. Cầnxem xét bối cảnh quốc tế và khu vực ở nửa cuối thế kỉ XIX, nghiên cứu tìnhhình Việt Nam trong các mối quan hệ chung và riêng; xem xét các nguyên nhânbên trong và bên ngoài, khách quan và chủ quan để có thể đưa ra những nhậnđịnh, đánh giá công minh, chính xác. Và không ít những nhà nghiên cứu cho ýkiến về vấn đề này, trong đó có xu hướng muốn đặt tấn bi kịch mất nước củaViệt Nam trong tấn bi kịch chung của lịch sử các dân tộc phương Đông lúc bấygiờ. Cho rằng đó không phải là trường hợp biệt lệ vì ngay cả những nước lớnnhư Trung Quốc, Ấn Độ cũng phải chịu chung số phận trước sự xâm nhập củachủ nghĩa tư bản phương Tây.Thực ra, trong bối cảnh lịch sử giữa thế kỉ XIX, việc nhân dân ta phảiđương đầu với cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân tuy là khó tránh khỏi,nhưng việc mất nước thì quyết không phải là định mệnh và cũng không phải làkhông có cách nào tránh được. Và điển hình là sự thắng lợi của hai nước NhậtBản và Thái Lan. Đồng thời, truyền thống và lịch sử Việt Nam cũng đã chứngminh điều đó, bởi trong các thế kỉ trước, và cả những thập kỉ tiếp theo, nhân dânta đã đánh thắng những tên ngoại xâm hùng mạnh, gần như bá chủ cả thế giới,tham vọng xâm lược của chúng cũng hung hãn không kém tư bản châu Âu khichúng âm mưu xâm lược phương Đông.Nói tóm lại, những nguyên nhân dẫn đến việc để mất nước ta vào tay thựcdân Pháp có thể dẫn ra khá nhiều, nhưng phải khẳng định nguyên nhân chính lànhững nguyên tắc bên trong và trách nhiệm chính thuộc về triều đình phongkiến Nguyễn.4. Mở rộng: Về những đóng góp tích cực của nhà Nguyễn :Trường THPT Chuyên Thái Bình13HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI+ Dưới thời Nguyễn, giáo dục khoa cử Việt Nam đã có bước phát triểnmới, tuyển chọn được nhiều người tài.+ Nhìn chung hệ thống hành chính thời Nguyễn đã tập trung và gọn nhẹhơn các triều đại trước đặc biệt là sau cải cách Minh Mạng, cơ cấu tổ chức chặtchẽ hơn và tính thống nhất cao hơn do đó đã có đóng góp tích cực vào lịch sửdân tộc+ Triều Nguyễn có nhiều chính sách khẩn hoang phong phú, sáng tạo vàthích hợp, góp phần tăng trưởng kinh tế nông nghiệp, bảo vệ trị an ở vùng đấtmới. Sự mở mang, phát triển ruộng đất ở miền Nam và một số huyện duyên hảiở miền Bắc cùng một số tỉnh ở trung du miền Trung là những thành quả to lớncủa triều Nguyễn+ Dưới triều Nguyễn đã có sự phát triển văn hoá, khoa học, nhất là vềlịch sử (Đại Nam thực lục, Đại Nam Hội Điển sử lệ, Việt Sử Thông giámCương mục, Lịch triều Hiến chương loại chí), địa lý (Đại Nam nhất thống trí,Đại Nam nhất thống toàn đồ…) đều đạt nhiều thành tựu, nhằm tiếp tục phát huynền văn minh, văn hiến Việt Nam.+ Kế tiếp triều Tây Sơn, vương triều Nguyễn cho xây dựng kinh đô Huếquy mô rộng lớn và kiên cố hơn, hoàn thành công cuộc thống nhất về lãnh thổvà chính quyền, tạo thế ổn định để xây dựng đất nước sau chiến tranh.Ví dụ 2Các tư tưởng cải cách, canh tân ở Việt Namtừ nửa cuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX.1. Tư tưởng canh tân đất nước cuối XIX* Bối cảnh lịch sửCuối thế kỉ XIX, CNTB chuyển dần sang giai đoạn Chủ nghĩa đế quốc,nhu cầu thuộc địa tăng nên có xu hướng đi xâm lược thuộc địa. Thực dân Phápđang xâm lược nước ta từ 1858 – 1867, Pháp chiếm được 3 tỉnh miền Tây, nênđộc lập dân tộc bị đe doạ nghiêm trọng.Cũng ở thời điểm này, chế độ phong kiến Việt Nam đang trong bướcđường khủng hoảng: nông nghiệp tiêu điều xơ xác, thủ công nghiệp tàn lụi,thương nghiệp sút kém, tài chính quốc gia kiệt quệ. Năm 1860 Nguyễn TriPhương phải tâu với vua “Quân và dân của đã hết, sức đã yếu”.Triều đình vẫn tăng cường bóc lột nhân dân, thậm chí áp dụng nhữngbiện pháp tiêu cực như cho nộp tiền chuộc tội, cho buôn bán thuốc phiện, choTrường THPT Chuyên Thái Bình14HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VImua quan bán tước… Bộ máy chính quyền từ trung ương đến địa phương trởnên sâu mọt, quan lại tha hồ nhũng nhiễu dân lành.Mâu thuẫn xã hội gay gắt, nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân bùng nổ,triều đình dồn lực lượng quân sự vào việc đàn áp các cuộc khởi nghĩa khiếnbinh lực hao mòn. Trong khi đó Pháp đang ráo riết chuẩn bị mở rộng xâm lượcnước ta.Trước vận nước nguy nan, một số quan lại sĩ phu phong kiến có điềukiện tiếp cận với văn minh nước ngoài đã lên tiếng đề đạt với triều đình nhữngcải cách duy tân.* Nội dung các tư tưởng canh tânTrong những năm trước khi Pháp đánh ra Hà Nội lần thứ nhất, ở nước tađã rộ lên một phong trào đề nghị cải cách. Đi đầu trong phong trào làm một sốquan chức, sĩ phu có học vấn cao, có dịp đi ra nước ngoài để mở rộng tầm mắtnhư Phạm Phú Thứ, Đặng Đức Tuấn, Đặng Huy Trứ, Bùi Viện, Nguyễn LộTrạch, Đinh Văn Điền, Nguyễn Trường Tộ. Họ thấy rõ sự trì trệ của đất nước,sự bảo thủ của giới hủ nho, tác hại của chính sách “bế quan toả cảng” nên đã đềxuất tư tưởng canh tân, đổi mới nhằm chấn hưng đất nước. “Họ chính là nhữngngười đã trồng cái mầm khai hóa trước tiên”.Mục đích của những đề nghị cải cách: muốn nước ta đi theo con đườngDuy tân để thoát khỏi sự xâm lược của thực dân Pháp, làm cho nước ta đượcđộc lập, bảo vệ được chủ quyền quốc gia.Nội dung các bản đề nghị canh đến đề cập đến các lĩnh vực như:+ Về kinh tế: các nhà canh tân đều đề cập đến những vấn đề về nôngnghiệp, công nghiệp, tài chính, họ đều vạch rõ những tiềm năng lớn của nước tavề rừng, biển, khoáng sản và đề nghị khai thác.+ Về chính trị: đều công kích những kẻ sâu mọt, tham nhũng, đề nghị sửađổi cải cách hành chính.+ Về ngoại giao, quốc phòng: cần củng cố và mở rộng quan hệ nhằm làmcho đất nước có khả năng đứng vững trước sự xâm lược của ngoại bang+ Về giáo dục: đề xuất tinh thần tự lực, tự cường, khuyến khích lối họcthực dụng, học ngoại ngữ…Trong trào lưu tư tưởng canh tân cuối thế kỉ XIX, Đặng Huy Trứ vàNguyễn Trường Tộ là những nhà tư tưởng tiêu biểu nhất.Nguyễn Trường Tộ (1830 – 1871) là người đã viết rất nhiều bản điều trầngửi vưa, quan nhà Nguyễn kêu gọi đổi mới toàn diện đất nước. Theo ông, phảiTrường THPT Chuyên Thái Bình15HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIcó sự canh tân đất nước, bởi “Thời đại nào có chế độ ấy. Con người sinh ra thờiđại nào cũng chỉ đủ làm công việc của thời đại ấy mà thôi. Vậy thì người sinhvào thời xưa làm xong công việc của thời xưa. Rồi dần dần thời thế đổi dời, làmsao có thể mãi mãi ôm giữ phép xưa mãi được”.Về tư tưởng, Nguyễn Trường Tộ là một nhà cải cách, ông coi ngôi vua làquý, chức quan là trọng, không muốn thay đổi chế độ quân chủ là muốn có mộtngười cầm quyền đủ khả năng dẫn dắt muôn dân tiến hành canh tân đất nước.Tuy nhiên, bên cạnh đề cao chế độ quân chủ, Nguyễn Trường Tộ cũng nhậnthấy vai trò của pháp luật và cho rằng vua cũng nên tự hạ mình để ghép vàovòng pháp luật. Ông viết “Bề trên lo giữ pháp độ, lo việc nước thì chỉ dùngngười hiền, đã theo công lý giữ pháp luật thì trên sẽ hợp điển chế không ai dịnghị, sự nghiệp không suy đốn”. Như vậy trong quan điểm của Nguyễn TrườngTộ, những yếu tố của tư tưởng dân chủ đã xuất hiện, đan xen tồn tại với quanđiểm Nho giáo, phản ánh sự dao động tư tưởng khi hệ tư tưởng cũ đã lung lay,hệ tư tưởng mới chưa xác lập.Nhìn chung, các bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ có tính thiết thực,cụ thể và cả tính dự báo. Có những ý kiến ông nêu ra trước đây trên một trămnăm vẫn mang tính cấp thiết và đúng đắn (như công tác bảo vệ môi trường). Nóthấm đượm một tinh thần yêu nước mãnh liệt, một ý thức trách nhiệm sâu sắccủa người trí thức đối với vận mệnh dân tộc. Ông có thể coi là đại diện tiêu biểucho trào lưu cải cách cuối thế kỉ XIX.Đặng Huy Trứ (1825 – 1874) với tư cách là một nhà hoạt động chính trị,ông đã đề xuất tư tưởng canh tân đất nước. Ông cho rằng cần phải bỏ lối họctầm chương trích cú của Nho học, tiếp thu khoa học kỹ thuật của phương Tây đểthúc đẩy sản xuất, làm cho dân giàu, nước mạnh. Ông viết “Làm cho dân giàunước mạnh đâu phải là một việc chẳng cần lo toan nhiều” và “Làm ra của cải,cái đạo lý lớn ấy là việc không thể coi nhẹ được”. Bên cạnh việc phát triển kinhtế, Đặng Huy Trứ còn cho rằng, phải xây dựng nền quân sự vững mạnh, bởikinh tế và quân sự có mối quan hệ hữu cơ với nhau trong vấn đề giữ vững độclập dân tộc. Ông viết “Cấy cày và canh cửi là gốc của cơm áo. Nhưng nếukhông hiểu việc binh để giữ lấy thì dù có thừa thóc trong kho, thừa vải trênkhung cửi cũng bị kẻ địch lấy đi”.Trong tư tưởng của Đặng Huy Trứ, quan niệm về dân là một nét mới khánổi bật trong tư tưởng chính trị Việt Nam cuối thế kỉ XIX. Ông coi “dân là gốcTrường THPT Chuyên Thái Bình16HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIcủa nước, là chủ của thần”, “Khí mạnh của nước là lấy dân làm gốc”. Nhữngquan niệm đó đánh dấu sự đổi mới trong suy tư của dân tộc ta cuối thế kỉ XIX.* Nguyên nhân thất bại- Nguyên nhân khách quan:Những tư tưởng cải cách nhìn chung còn nặng về ảnh hưởng bên ngoàimà thiếu cơ sở vật chất tiếp nhận từ bên trong. Vào thời điểm này, Việt Namchưa có những cơ sở kinh tế – xã hội để tiếp nhận cải cách (có thể so sánh vớiNhật bản – để tiến hành canh tân, Nhật Bản phải trải qua một sự biến đổi về cấutrúc chính trị xã hội, đó là cuộc đấu tranh kéo dài giữa lực lượng bảo thủ Tô-kuga-oa với lực lượng quý tộc tư sản hoá ủng hộ Thiên hoàng, hơn nữa trước đómầm mống kinh tế TBCN đã khá phát triển ở Nhật Bản)Thực dân Pháp đang tiến hành xâm lược, triều Nguyễn phải tập trung lựclượng đối phó với cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp và những cuộc khởinghĩa của nông dân.- Nguyên nhân chủ quan:Mặc dù các đề nghị cải cách đều mạnh dạn hướng đi theo con đườngTBCN nhằm giải quyết một phần nào đó yêu cầu của lịch sử nhưng các đề nghịcái cách đó vẫn có tính chất lẻ tẻ, rời rạc. Điều này xuất phát từ những hiểu biếthết sức phiến diện và bề mặt về văn minh phương Tây. Nội dung các bản điềutrần không đả động gì đến yêu cầu cơ bản của xã hội Việt nam thời đó là giảiquyết 2 mâu thuẫn chủ yếu: giữa toàn thể dân tộc Việt Nam với tư bản Pháp vàgiữa nhân dân lao động với giai cấp phong kiến hủ bại. Vì vậy đã không đượcchính nhân dân làm hậu thuẫn để gây sức ép với giới cầm quyền.Do thái độ bảo thủ, phản động của vua quan triều đình đã bỏ qua khôngchịu sửa đổi. Tuy có lúc do tình thế thúc bách nên có chủ trương một vài sự đổimới song thực hiện một cách lẻ tẻ, chắp vá, miễn cưỡng, các điều chỉnh đó chưakịp phát huy tác dụng đã bị đình chỉ* Ý nghĩa lịch sửTrào lưu cải cách canh tân cuối thế kỉ XIX đã thể hiện tinh thần yêu nướccủa một bộ phận sĩ phu, quan lại có tâm huyết. Nó góp phần tấn công vào nhữngtư tưởng bảo thủ và chuẩn bị cho sự ra đời của phong trào Duy Tân sôi nổi, rộngkhắp ở Việt Nam đầu thế kỉ XX. Các bản điều trần của Nguyễn Trường Tộ vàcác cộng sự của ông đã mang tới cho các sĩ phu yêu nước một con đường đấutranh mới, thắp lên trong họ niềm tin vào tương lai của đất nước, để rồi chính họTrường THPT Chuyên Thái Bình17HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI20 – 30 năm sau tiếp bước các ông tiếp tục đấu tranh, tạo nên một khuynhhướng đấu tranh mới mang màu sắc dân chủ tư sản.2. Trào lưu Duy Tân vào đầu XXa) Bối cảnh:Vào đầu thế kỉ XX, nước Việt Nam không còn là một quốc gia độc lậpnhư trước, thay vào đó là 1 xã hội thuộc địa nửa phong kiến đang hoàn thiệndần. Mầm mống TBCN đã bắt đầu xuất hiện với sự ra đời của các trung tâmbuôn bán, công nghiệp tuy mới chỉ là thời kì đầu. Thêm vào đó là sự tác độngcủa cuộc Duy tân ở Trung Quốc, Nhật Bản. Nhưng giai cấp tư sản Việt Namchưa ra đời, còn giai cấp công nhân mới hình thành trong buổi sơ khai.Hệ tư tưởng Nho giáo đã hết vai trò lịch sử và chỉ làm cho dân ta mất dầnsức sống “…nước Việt Nam mơ màng đôi mắt ngủ, uể oải một thân bệnh, tônquân quyền, ức dân quyền, trọng hư văn, khinh võ sĩ, trộm cướp rình mò ở sân,mà vợ con say hát trong nhà, chủ nhân nằm dài trên giường luôn luôn ngáp mỏimệt. Than ôi! Nguy ngập lắm thay!” (Phan Bội Châu).Tiếp thu tư tưởng của các nhà canh tân cuối thế kỉ XIX, một số nhà tưtưởng đầu thế kỉ XX như Phán Bội Châu, Phan Châu Trinh, Huỳnh ThúcKháng, Nguyễn An Ninh… tiếp tục phát triển tư tưởng đó lên một trình độ mới,cao hơn về chất.b) Nội dung:* Chính trị:Các nhà tư tưởng đã kịch liệt phê phán Nho giáo và chế độ phong kiến.Phan Châu Trinh cho rằng chế độ phong kiến đã thực sự thối nát, mục ruỗng,Bộ máy của chế độ phong kiến là bù nhìn, như quân trên bàn cờ tướng:“Một ông tướng lác đứng trong cungSĩ tượng khoanh tay chẳng vẫy vùng”Từ phê phán chế độ phong kiến, các nhà tư tưởng đã tiếp thu tư tưởngdân chủ tư sản, học tập kinh nghiệm các cuộc cách mạng tư sản Trung Quốc,Nhật Bản. Họ không còn bám vào tư tưởng “trung quân” mà đã chuyển sang ýthức về chủ quyền quốc gia, dân tộc, ý thức về dân chủ dân quyền. Họ nhậnthức được mất nước là mất chủ quyền, từ đó có chủ trương: đấu tranh giành độclập dân tộc, khôi phục dân quyền; đánh đổ chế độ quân chủ, xây dựng nền dânchủ.Phan Chu Trinh đã khẳng định: nếu không đánh đổ được nền quân chủ thì dùcó khôi phục được nước cũng không là hạnh phúc của dân. Phan Bội Châu lúcTrường THPT Chuyên Thái Bình18HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIđầu chỉ mong giành độc lập nhưng về sau đã khẳng định độc lập phải gắn vớinền dân chủ (Cương lĩnh của Việt Nam Quang phục hội).Quan điểm dân là chủ nước, nước là nước của dân là một bước chuyển tưtưởng căn bản từ quân chủ sang dân chủ. Đây là một điều mới mẻ trong tư duychính trị đương thời. Để thực hiện quyền dân chủ, các nhà tư tưởng chủ trương:khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh. Về mô hình chính thể, họ cũng chorằng phải xóa bỏ chính thể quân chủ, xây dựng chính thể dân chủ cộng hòa, donhân dân làm chủ, quyền lực ở nới dân. Có thể nói, các nhà tư tưởng dân chủ đãý thức được tầm quan trọng của nền chính trị, coi đó là yếu tố quyết định chiphối mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi củanhân dân.* Kinh tế:Tư tưởng chủ đạo là hướng tới sự đổi mới kinh tế theo hướng tư bản chủnghĩa, chỉ trích sự lạc hậu, thái độ coi khinh công thương nghiệp, đề xướngphong trào thực nghiệp.Họ khởi xướng và tổ chức một số hoạt động tiêu biểu như:Hô hào phong trào “chấn hưng nội hoá, bài trừ ngoại hoá”.Phát triển các ngành thủ công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp;khuyến khích mở mang ngoại thương, hùn vốn kinh doanh theo lối tư bản.* Giáo dục:Các trường dạy học kiểu mới được mở ra trong đó đổi mới cách học, nộidung, học chủ yếu bằng chữ quốc ngữ, đồng thời học thêm chữ Pháp, chữ Hán.Nội dung giảng dạy và tuyên truyền là khơi dậy tinh thần yêu nước và tự cườngdân tộc; chống lối học từ chương; đề cao kiến thức mới, phương pháp sư phạmcũng có nhiều thay đổi theo “Tây học”.* Văn hoá, xã hội:Vận động đổi mới “phong hoá”, thay đổi lối sống, bài trừ mê tín dị đoan,thay đổi cách ăn mặc, hình thức cho nhanh gọn (nam: cắt tóc ngắn, vận âu phụcbằng vải nội; vận động mọi người để răng trắng …).c) Phong trào tiêu biểu:Có 2 phong trào lớn phản ánh nhu cầu cải cách Duy tân ở đầu XX: Cuộcvận động tân học mà Đông Kinh nghĩa thục là tiêu biểu, phong trào Vận độngDuy tân ở Trung KìVề cuộc vận động tân học do Đông Kinh nghĩa thục phát động, ta có thểthấy: theo các sĩ phu thì nguyên nhân của việc mất nước là sự “ngu và hèn”,Trường THPT Chuyên Thái Bình19HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI“ngu hèn chính là thủ cựu, thủ cựu là mất nước”. Bởi vậy phải đổi mới, duy tân.Họ quan niệm là phải cổ động tinh thần học tập theo lối tây học, thực dụng, từbỏ lối học cũ, đưa các môn khoa học vào giảng dạy như: Cách trí, sử, địa, Vệsinh, toán pháp, kinh tế, ngoại ngữ, luân lí, thể thao…Nội dung học tập còn cổ vũ thương mại nhằm phục hưng dân tộc. Các sĩphu coi việc đi buôn là yêu nước, coi việc mở những công ty kinh doanh là yêunước. Họ cho rằng đất nước muốn đạt đến nền văn minh cần phải làm 6 điều:dùng chữ quốc ngữ, hiệu đính sách vở, sửa đổi phép thi, cổ vũ nhân tài, chấnhưng công nghệ, phát triển báo chí.Song song với Đông Kinh nghĩa thục, một cuộc vận động Duy Tân đãdiễn ra ở Trung Kì nhằm chống hủ tục, chấn dân khí, khai dân trí, hậu dân sinh.Lòng căm ghét bọn phong kiến hủ bại đã khiến các sĩ phu yêu nước lúc đó đi tớichủ trương trước mắt là đánh đổ phong kiến cho dù tạm thời phải dựa vào ngườiPháp. Vì vậy cuộc vận động này có nội dung chủ yếu lên án bọn vua quanphong kiến thối nát, tích cực đề xướng tư tưởng dân chủ tư sản với các yêu cầukhai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh, hô hào mở mang trường học, phát triểncông thương nghiệp, cải cách phong tục chống lề thói phong kiến cổ hủ. Cuộcvận động thực sự là một phong trào dân chủ yêu nước sôi nổi đầu thế kỉ XX.d) Ý nghĩa:Mặc dù các phong trào trên bị Pháp đàn áp nhưng đã nói lên tinh thầnyêu nước bất khuất của dân tộc, thổi một luồng gió mới vào cuộc sống tù đọngcủa người dân góp phần chuẩn bị về tinh thần và tư tưởng cho sự nghiệp đấutranh giải phóng dân tộc, thúc đẩy các yếu tố kinh tế mới hình thành và pháttriển ở nước ta.Phong trào có ý nghĩa như một cuộc cải cách văn hoá – xã hội đầu thế kỉXX, đưa nhân dân ta đến một nền văn minh mới.e) Nguyên nhân thất bại:Ở phương Tây, tư tưởng dân chủ được hình thành trên cơ sở kinh tế – xãhội của nó nên mang tính thuần thục, điển hình, phản ánh nguyện vọng, khátkhao làm chủ xã hội của con người. Mục đích của tư tưởng dân chủ tư sản ởphương Tây là vì lợi ích giai cấp. Ở Việt Nam, các nhà tư tưởng chọn dân chủtư sản vì lợi ích của dân tộc: đi tìm co đường cứu nước, giành độc lập tự do.Những người hấp thụ và truyền bá tư tưởng đó chủ yếu là tầng lớp sĩ phu đượctư sản hóa trong hoàn cảnh giai cấp tư sản Việt Nam chưa ra đời. Cho nên tưtưởng dân chủ tư sản ở nước ta tính đặc thù: không thuần thục, điển hình như ởTrường THPT Chuyên Thái Bình20HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIphương Tây, các phạm trù dân chủ tư sản vẫn chịu ảnh hưởng của Nho giáo vàmang sắc thái văn hóa Việt Nam. Trào lưu tư tưởng ấy do những hạn chế về giaicấp và thời đại đã không thể trở thành 1 cuộc cách mạng xã hội đưa nước nướcta phát triển theo con đường TBCN như mong muốn của các sĩ phu đó.3. So sánh tư tưởng canh tân cuối XIX và xu hướng Duy tân đầuthế kỉ XX.a) Giống nhau:- Cả hai phong trào đều ra đời trong một bối cảnh hết sức đặt biệt: chúngta đang phải đối đầu với sự xâm lược và thống trị của thực dân Pháp – một nướcTB có trình độ phát triển hơn hẳn ta. Các nhà cải cách nhận thấy rằng ta thua họlà thua cả một thời đại. Đối mặt với Pháp là đối mặt với cả một thời đại khácbiệt về văn hoá, mới mẻ và tân tiến. Muốn chiến thắng, phải tìm cách lấp đầykhoảng trống về thời đại đó, thay đổi chính mình, phải cải cách theo hướng dânchủ tư sản.- Lãnh đạo là những nho sĩ thức thời, phần lớn họ xuất thân từ những giađình khoa bảng, từng ít nhất một lần có cơ hộ xuất ngoại, tận mắt chứng kiến sựkỳ diệu của văn minh phương tây, họ nhận thức sâu sắc sự lạc hậu thua kém củachế độ phong kiến.- Biện pháp tiến hành đều là bất bạo động, chủ trương hoà hoãn với Pháp,gpdt bằng con đường tự lực tự cường, sau khi chấn hưng nước nhà sẽ quay lạiđánh Pháp.+ Nguyễn Trường Tộ và các bạn đồng liêu của ông cho rằng “Sự thế hiệnnay chỉ có thể hoà. Hoà thì trên không cường lại ý trời, dưới có thể làm cho dânkhỏi khổ…”+ Phan Châu Trinh và các nhà duy tân cho rằng hoà là “dựa vào Pháp cầutiến bộ”, nghĩa là sẽ duy tân đất nước, làm cho nước mạnh dân giàu từ đó buộcPháp phải trao trả độc lập.b) Khác nhau:- Về bối cảnh:+ Cuối XIX: Pháp đang xâm lược, nhà Nguyễn vẫn là đại diện của mộtnhà nước có chủ quyền. Trong bối cảnh đó các nhà cải cách chấp nhận mộtphương thức đổi mới trên nền xã hội cũ (vẫn duy trì chế độ phong kiến)Tính chất xã hội vẫn hoàn toàn là một xã hội nông nghiệp thuần tuý, vớisự tụt hậu trầm trọng về kinh tế. Xã hội chỉ có 2 giai cấp cơ bản: địa chủ vànông dân nên không có sơ sở vật chất bên trong.Trường THPT Chuyên Thái Bình21HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI+ Đầu XX: ảo tưởng về một triều đại phong kiến hoàn toàn sụp đổ khinhà Nguyễn kí hiệp ước đầu hàng chấp nhận làm tay sai cho Pháp. Điều này dẫnđến những người có tư tưởng Duy tân đã phủ nhận triều đình phong kiến, đề caodân quyềnCuộc khai thác thuộc địa lần 1 đã làm biến đổi kinh tế – xã hội Việt Nam,những giai cấp, tầng lớp mới đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến: côngnhân, tư sản, tiểu tư sản ra đời tạo cơ sở kinh tế – xã hội cho phong trào DuyTân. Bên cạnh đó và ảnh hưởng của luồng tư tưởng dân chủ tư sản bên ngoàidội vào từ Trung Quốc, Nhật Bản…- Về tư tưởng chính trị+ Cuối XIX: các nhà cải cách chưa có điều kiện tiếp xúc lâu dài hệ thốngvới văn minh phương Tây nên họ mới đưa ra những đề xuất mang tính lẻ tẻ, vụnvặt. Đường lối chính trị của họ mơ hồ, không rõ ràng.+ Đầu XX: các sĩ phu đã tìm thấy con đường cứu nước qua các bộ Tânthư từ Trung Quốc, Nhật Bản. Họ xác định đường đường lối chính trị hết sức rõràng: đánh đổ chế độ phong kiến, đưa nước nhà theo con đường TBCN, xâydựng xã hội giàu mạnh.- Phương pháp tiến hành:+ Cuối XIX: dựa vào một “ông vua sáng” tiến hành cải cách từ trênxuống, từ chính quyền Trung ương phát động tới địa phương. Tuy nhiên họkhông vạch ra được phương hướng hành động cụ thể và hợp lí trong tình thế đấtnước đang nguy ngập.+ Đầu XX: dự định dấy lên một phong trào sâu rộng trong cả nước, dựavào nhân dân được khai hoá mà tiến hành mà trước hết là tầng lớp thị dân đôngđảo. Phan Châu Trinh và các đồng chí của ông vạch ra một kế hoạch chi tiết vàcụ thể cho từng bước hành động: khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh.- Kết quả thực tiễn:+ Cuối XIX: mới dừng lại ở những bản điều trần, chưa trở thành mộtphong trào rộng lớn có ảnh hưởng đến quần chúng.+ Đầu XX: Đạt được những thành tựu to lớn và cụ thể như Cuộc Duy tânở Trung kì, Đông Kinh nghĩa thục lôi cuốn đông đảo nhân dân tham gia, cổ vũ ýthức tự cường dân tộc, thúc đẩy cải cách văn hóa xã hội, thúc đẩy kinh tế, gópphần tạo nên một diện mạo mới của nền kinh tế – xã hội Việt Nam.Trường THPT Chuyên Thái Bình22HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIPhần IIPhương pháp ôn tập Lịch sử Việt Nam từ 1858 – 1918cho HSG quốc gia1. Yêu cầu chung khi tổ chức ôn tập Lịch sử Việt Nam từ 1858 – 1918cho HSG quốc gia.Trên cơ sở đã biên soạn các vấn đề chuyên sâu về phần Lịch sử Việt Namtừ 1858 – 1918, giáo viên cần lựa chọn các hình thức tổ chức và phương phápdạy học cho phù hợp với đối tượng học sinh giỏi. Điều này quyết định đến hiệuquả của quá trình dạy học nói chung và công tác bồi dưỡng HSG nói riêng.Theo kinh nghiệm của chúng tôi, việc tổ chức ôn tập cho HSG quốc gia cầnđảm bảo những yêu cầu sau:- Kết hợp đa dạng, nhuần nhuyễn các phương pháp và hình thức tổ chứcdạy học, đặc biệt các phương pháp dạy học tích cực đóng vai trò quan trọngquyết định thành công của dạy học các chủ đề trong đó học tập theo nhóm là cốtlõi. Ở đây, học sinh được giao nhiệm vụ học tập và tự tìm cách thức thực hiện(có sự hỗ trợ của giáo viên). Học sinh sẽ tận dụng tối đa những hiểu biết vànhững kiến thức tự tìm hiểu được để trình bày, trao đổi với các bạn khác. Do đó,dạy học theo chủ đề không chỉ hướng tới mục tiêu bồi dưỡng về kiến thức màcòn rèn luyện khả năng quan sát, thu thập, xử lý thông tin, suy luận, áp dụngvào thực tiễn cũng như các kỹ năng giao tiếp, hợp tác, điều hành…- Phải tận dụng tối đa những kinh nghiệm, những kiến thức đã có của họcsinh có liên quan đến nội dung chuyên đề, tạo điều kiện cho học sinh tiếp cậnkiến thức ở những góc độ khác nhau để có thể hiểu sâu sắc kiến thức; hướngdẫn học sinh vận dụng những kiến thức đó để giải quyết các nhiệm vụ học tậpthông qua hệ thống các câu hỏi.- Phải xây dựng hệ thống bài tập phong phú, đa dạng tương ứng với cácchuyên đề và rèn kĩ năng làm bài cho học sinh. Đây là một yêu cầu rất quan trọng đểhình thành cho học sinh kĩ năng làm bài thi và ứng phó với các dạng đề thi.2. Một số biện pháp tổ chức ôn tập Lịch sử Việt Nam từ 1858 – 1918cho HSG quốc gia2.1. Tổ chức cho HS trao đổi thảo luận theo chủ đềMột trong những biện pháp dạy học các chuyên đề cho học sinh lớpchuyên cũng như bồi dưỡng HSG mà chúng tôi thường áp dụng là tổ chứccho học sinh trao đổi thảo luận trên lớp. Thực tế cho thấy phương pháp nàyTrường THPT Chuyên Thái Bình23HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIrất phù hợp với các vấn đề lịch sử mang tính chất tổng hợp, nâng cao cũngnhư phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh giỏi để các em có thể pháthuy tính tích cực, độc lập, sáng tạo cũng như các kĩ năng phân tích, lập luậnbảo vệ ý kiến của mình, phát triển khả năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau.Khi tham gia thảo luận, các em cùng trao đổi, hợp tác và học hỏi lẫn nhau, bổsung kiến thức cho nhau. Đây không phải là một phương pháp mới, song vấn đềđặt ra là tổ chức trao đổi thảo luận như thế nào cho hiệu quả và không mangtính hình thức?Theo chúng tôi, khi tổ chức cho học sinh trao đổi thảo luận cần đảm bảonhững yêu cầu sau:- Thu hút sự tham gia tích cực của tất cả học sinh. Muốn vậy giáo viêncần tạo điều kiện cho các em về: thời gian chuẩn bị, nêu rõ yêu cầu, chia nhóm,hướng dẫn cụ thể về nguồn tài liệu và cách tìm kiếm tài liệu. Kết quả của quátrình chuẩn bị thường là một bài viết (bài báo cáo) của nhóm học sinh (hay cánhân học sinh).- Giáo viên cần làm tốt vai trò của mình là người tổ chức, hướng dẫn,điều khiển quá trình thảo luận, hướng dẫn học sinh biết cách trình bày một vấnđề, cũng như biết cách nhận xét phần trình bày của nhóm khác.- Đảm bảo không khí tự do, thoải mái, động viên được tất cả học sinhhăng hái tham gia thảo luận, nhận xét và bổ sung ý kiến.- Cuối buổi thảo luận, giáo viên cần tổng kết, rút ra những kết luận về vấnđề và đánh giá, nhận xét, rút kinh nghiệm cho lần thảo luận sau.2.2. Xây dựng hệ thống bài tập theo từng vấn đề và rèn kĩ năng làm bài tậpĐể giúp học sinh ôn tập kiến thức có hiệu quả, với mỗi chuyên đề, chúngtôi đã xây dựng hệ thống bài tập tương ứng, đặc biệt là đi sâu vào loại bài tậpnhận thức. Tuy nhiên, việc xây dựng bài tập lịch sử không thể tiến hành tùytiện, mà phải xuất phát từ những căn cứ khoa học, đảm bảo những nguyên tắccơ bản sau:- Đảm bảo tính hệ thống trong việc xác định nội dung bài tập lịch sử thểhiện ở thời gian, trình tự trước sau của các sự kiện, hiện tượng lịch sử, thấyđược mối liên hệ lôgic giữa các sự kiện, hiện tượng lịch sử.- Các bài tập lịch sử phải mang tính đa dạng, toàn diện về nội dung, đi từdễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, tạo điều kiện cho học sinh khai thác nộidung phong phú và tiếp cận với nhiều nguồn sử liệu.Trường THPT Chuyên Thái Bình24HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI- Nội dung bài tập lịch sử phải phù hợp với trình độ nhận thức, phát huytrí thông minh sáng tạo của học sinh.- Bài tập lịch sử cần chính xác về nội dung và chuẩn mực về hình thức.Sau đây tôi xin nêu một số dạng câu hỏi cho từng chuyên đề của phầnLịch sử Việt Nam từ 1858 – 1918 mà chúng tôi đã sưu tầm và biên soạn.Chuyên đề 1: “Vai trò và trách nhiệm của nhà Nguyễn đối với việc đểnước ta rơi vào tay thực dân Pháp ở thế kỉ XIX”1. Trình bày những nét nổi bật về chính sách đối nội, đối ngoại của nhàNguyễn vào nửa đầu thế kỉ XIX. Chính sách của nhà Nguyễn đã để lại nhữnghậu quả gì trước nguy cơ bị mất nước?2. Trong quá trình Pháp xâm lược Việt Nam (1858 – 1884), triều đìnhHuế đã kí với Pháp những hiệp ước nào? Hoàn cảnh và nội dung chính của cáchiệp ước này.3. Phân tích những sai lầm của nhà Nguyễn trong việc để mất 6 tỉnh Nam Kì.4. Dùng những sự kiện để chứng minh trong quá trình Pháp tiến hànhcuộc chính trị xâm lược Việt Nam, thái độ nhà Nguyễn luôn chọn con đườngcầu hoà, nhượng bộ, thiếu ý chí quyết tâm chống xâm lược.5. Cuối thế kỉ XIX, Việt Nam mất nước vào tay thực dân Pháp có phải làmột tất yếu? Nhận xét trách nhiệm của nhà Nguyễn trong việc để mất nước.Chuyên đề 2: “Cuộc kháng chiến chống Pháp bảo vệ nền độc lậpdân tộc của nhân dân Việt Nam từ 1858 – 1884”.1. Trình bày bối cảnh lịch sử và đặc điểm cuộc kháng chiến chống Phápcủa nhân dân Việt Nam từ 1858 – 1884.2. Lập bảng tóm tắt cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược(1858 – 1884)3. Khi thực dân Pháp xâm lược “lục tỉnh Nam Kì”, Triều đình nhàNguyễn và nhân dân Nam Kì có phản ứng khác nhau. Sự khác nhau đó thể hiệnnhư thế nào ? Vì sao có sự khác nhau đó ?4. Trong quá trình thực dân Pháp xâm lược Việt Nam (1858 – 1884),nhân dân ta đã kháng chiến như thế nào? Kết quả và tác dụng của cuộc khángchiến đó?5. Dựa trên những điều kiện, nhân vật lịch sử tiêu biểu, chứng minh trongsuốt quá trình xâm lược Việt Nam từ 1858 – 1884, thực dân Pháp đã vấp phải sựkháng cự mạnh mẽ của các tầng lớp nhân dân ta.Trường THPT Chuyên Thái Bình25HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI6. Thông qua phong trào kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta từ1858 đến 1884, hãy chứng minh câu nói của Nguyễn Trung Trực: “Bao giờngười Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây”.7. Thông qua cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1858 –1884), hãy so sánh thái độ chống Pháp của vua quan triều đình nhà Nguyễn vàcủa nhân dân ta. Vì sao có sự khác nhau đó?Chuyên đề 3: “Phong trào yêu nước chống Pháp cuối thế kỉ XIX”.1. Trình bày nguyên nhân bùng nổ và các giai đoạn phát triển của phongtrào Cần Vương.2. Phân tích đặc điểm, tính chất của phong trào Cần Vương.3. Trong chiếu Cần Vương có đoạn: “… Biết thì phải tham gia côngviệc, nghiến răng, dựng tóc thề giết hết giặc, nào ai là không có cái lòngnhư thế?…”. Qua nội dung chiếu Cần Vương, em hãy phân tích thái độ củacác văn thân, sĩ phu và quần chúng nhân dân đỗi với chiếu Cần Vương.4. Khi nói đến nội dung của phong trào Cần Vương, đồng chí Lê Duẩn đãnhận xét “Nội dung của phong trào này không phải biểu hiện mâu thuẫn giữa đếquốc với phong kiến. Nội dung cốt tử của nó là biểu hiện mâu thuẫn giữa tinhthần dân tộc độc lập với chế độ đế quốc cướp nước”.Em có đồng ý với nhận định trên không? Vì sao?5. Vì sao khởi nghĩa Hương Khê được coi là cuộc khởi nghĩa tiêu biểunhất trong phong trào Cần Vương?6. Trình bày tóm tắt cuộc khởi nghĩa Yên Thế (1884 – 1913). Tại saocuộc khởi nghĩa này có thể tồn tại gần 30 năm ?7. So sánh phong trào Cần Vương (1885 – 1896) với khởi nghĩa Yên Thế(1884 – 1913) trên các mặt: mục tiêu đấu tranh, lực lượng lãnh đạo, quy môphong trào và phương thức đấu tranh.8. Tại sao nói phong trào Cần Vương cuối thế kỷ XIX đỉnh cao của cuộckháng chiến chống Pháp do nhân dân Việt Nam tiến hành trong nửa sau thế kỷ XIX?9. Trình bày đặc điểm của các phong trào đấu tranh yêu nước chống Phápcủa nhân dân ta cuối thế kỉ XIX. Vì sao tất cả các phong trào đó cuối cùng đềubị thất bại ?Chuyên đề 4: “Hai xu hướng trong phong trào yêu nước và cáchmạng đầu thế kỉ XX”Trường THPT Chuyên Thái Bình26HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI1. Nêu điều kiện lịch sử và nhận xét về kết cục của phong trào yêu nướcở Việt Nam đầu thế kỉ XX.2. Trình bày sự khác nhau về điều kiện lịch sử và khuynh hướng chủ yếutrong phong trào yêu nước Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.3. Nhận xét về khuynh hướng chính trị, kết cục và ý nghĩa của các phongtrào yêu nước chống Pháp ở Việt Nam cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX.4. Lập bảng so sánh phong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỉ XIXvà phong trào yêu nước đầu thế kỉ XX trên những tiêu chí sau: mục tiêu, lực lượngtham gia, địa bàn hoạt động, hình thức đấu tranh. Nêu nguyên nhân thất bại.5. Đầu thế kỷ XX, trào lưu dân tộc chủ nghĩa đã xuất hiện như thế nào ở ViệtNam? Nội dung? Phân tích mặt tích cực, hạn chế và đặc điểm của trào lưu này.6. Khi đánh giá lại cuộc đời hoạt động cứu nước của mình, Phan BộiChâu viết “Suốt đời đã mưu tính việc gì cốt nhằm mục đích giành thắng lợitrong phút cuối cùng, dù phải thay đổi thủ đoạn, phương châm cũng không ngầnngại”. Em hãy bình luận nhận định trên.7. Tóm tắt hoạt động cứu nước của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh.So sánh những điểm giống và khác nhau trong con đường cứu nước của PhanBội Châu và Phan Châu Trinh.8. Tại sao nói trào lưu dân tộc chủ nghĩa đầu thế kỷ XX ở nước ta là sự kếtục phong trào Cần Vương yêu nước chống Pháp cuối thế kỷ XIX đồng thời đãmang nhiều nét mới khác trước?Chuyên đề 5: “Các tư tưởng cải cách, canh tân ở Việt Nam từ nửacuối thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX”.1. Nguyên nhân xuất hiện trào lưu cải cách duy tân ở Việt Nam vào nửacuối thế kỷ XIX ? Nêu tên những sĩ phu tiêu biểu trong phong trào cải cách vànhững nội dung chính trong các đề nghị cải cách của họ.2. Nêu những đề nghị cải cách ở Việt Nam cuối thế kỉ XIX. Vì sao nhữngđề nghị cải cách này không được thực hiện? Từ đó rút ra điều kiện để thực hiệnmột cuộc cải cách.3. Tại sao trong những điều kiện, bối cảnh, không gian, thời gian và tháchthức tương tự Việt Nam vào cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX, vương quốc Xiêmđã thực hiện thành công tư tưởng cải cách, trong khi những tư tưởng canh tân ởViệt Nam lại không được hiện thực hoá ?Trường THPT Chuyên Thái Bình27HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI4. Phân tích những điểm giống nhau và khác nhau giữa trào lưu cải cáchduy tân ở nửa cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX.Trên cơ sở hệ thống bài tập trên, đối với học sinh giỏi, chúng tôi đặc biệtquan tâm đến việc rèn kĩ năng làm bài cho các em, bao gồm: kĩ năng phân tíchđề, lập dàn ý, kĩ năng trình bày bài viết… Trong bài làm, chúng tôi thườngkhuyến khích những ý tưởng sáng tạo của các em. Một trong những biện phápchúng tôi đã áp dụng có hiệu quả là cho học sinh chấm chéo bài của nhau. Cácem tỏ ra rất hào hứng và khách quan. Qua việc chấm bài của bạn, các em có thểnhận ra những thiếu xót, hạn chế của bạn, đồng thời rút kinh nghiệm luôn chobản thân.Sau đây tôi xin lấy ví dụ một số đề kiểm tra về phần Lịch sử Việt Nam từ1858 – 1918.Đề kiểm tra số 1:Trình bày bối cảnh lịch sử và đặc điểm cuộc kháng chiến chống Phápcủa nhân dân VN từ 1858 – 1884.Giải quyết* Bối cảnh lịch sử:- Giữa thế kỉ XIX, chế độ phong kiến Việt Nam lâm vào khủng hoảng suyyếu tạo điều kiện cho tư bản Pháp xâm lược.- Từ 1858 – 1884 bằng các hành động quân sự kết hợp với thủ đoạn chínhtrị, Pháp lần lượt chiếm được 3 tỉnh miền Đông (1862), 3 tỉnh miền tây (1867),hai lần đánh ra Bắc Kì và cuối cùng là đánh thẳng vào kinh thành Huế buộctriều đình phải đầu hàng.- Trong thời gian này, về phía triều đình nhà Nguyễn, do sai lầm trongviệc đánh giá kẻ thù, trong đường lối kháng chiến, lại không quyết tâm giữ nướcnên đã thất bại. Triều đình lần lượt kí các hoà ước đầu hàng: hiệp ước NhâmTuất (1862), hiệp ước Giáp Tuất (1874), hiệp ước Hắc măng (1883) và hiệp ướcPatơnôt (1884).- Trong khi triều đình từng bước nhân nhượng, đầu hàng thì nhân dân vẫnkiên trì đấu tranh, từ chỗ liên minh với triều đình kháng chiến đến chỗ tách rathành mặt trận riêng.* Khái quát về cuộc kháng chiến của nhân dân từ 1858 – 1884* Đặc điểm:- Cuộc kháng chiến của nhân dân rất kịp thời, chủ động ngay từ Pháp đặtchân lên bán đảo Sơn Trà đến khi nhà Nguyễn đầu hàng vì nhân dân có ý thứcTrường THPT Chuyên Thái Bình28HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIbảo vệ tổ quốc rất cao, bất cứ khi nào đất nước bị đe doạ mà không cần đợi lệnhtừ triều đình.- Cuộc kháng chiến diễn ra bền bỉ, liên tục, lớp trước ngã lớp sau lại tiếnlên, quyết tâm đánh đến cùng với những tấm gương hi sinh anh dũng… Ngay cảkhi bị triều đình bỏ rơi, ngăn cản thì phong trào vẫn diễn ra sôi nổi.- Mục tiêu đấu tranh là vì độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Nhân dânsẵn sàng tạm gác mối thù giai cấp, đặt quyền lợi lên trên hết, vì thế họ tựnguyện đứng dưới ngọn cờ của triều đình để kháng chiến.Khi triều đình Huế cam tâm phản bội quyền lợi dân tộc, cắt đất cầu hoà,nhân dân ta đã nhanh chóng kết hợp giữa nhiệm vụ chống đế quốc xâm lược vớichống phong kiến đầu hàngTừ đây nhân dân tách ra thành 1 mặt trận chống Pháp riêng, không lệthuộc vào triều đình, giặc đi đến đâu lập tức bị đánh ở đó. Có 1 số sĩ phu thuộcphái chủ chiến đã anh dũng kháng Pháp với nhân dân như Nguyễn Tri Phương,Hoàng Diệu…- Nhân dân chiến đấu bằng mọi thứ vũ khí có trong tay, sáng tạo nhiềucách đánh (tập kích, phục kích, đánh tàu chiến…) và kháng chiến bằng nhiềuhình thức trên cả mặt trận quân sự và văn hoá… bằng tất cả sức lực, tinh thầnmưu trí, sáng tạo với những tấm gương như Nguyễn Trung Trực, Nguyễn HữuHuân, Trương Định…- Cuộc kháng chiến của nhân dân ta cũng còn một số hạn chế: thiếuđường lối đấu tranh, không thống nhất các lực lượng kháng chiến nên chưa tạothành phong trào rộng lớn, có quy mô và tổ chức chặt chẽ…- Tác dụng: cuộc chiến đấu của nhân dân khiến kẻ địch phải tạm thờichùn bước, kéo dài cuộc chiến tranh xâm lược tới 26 năm mới tạm thời bìnhđịnh bảo hộ được nước ta.Kết luận: Mặt trận nhân dân kháng chiến là cơ sở, chỗ dựa cho phe chủchiến trong triều đình tồn tại và phát triển. Họ là lực lượng chủ lực trong cuộckháng chiến chống Pháp ngay cả khi thực dân Pháp đã đè bẹp sự kháng cự củatriều Nguyễn. Họ là nơi nuôi dưỡng ngọn lửa yêu nước bùng cháy suốt nhữngnăm Pháp thuộc.Đề kiểm tra số 2:Đầu thế kỷ XX, trào lưu dân tộc chủ nghĩa đã xuất hiện như thế nào ởViệt Nam? Phân tích mặt tích cực, hạn chế của trào lưu này. Sự thất bại củaTrường THPT Chuyên Thái Bình29HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VItrào lưu dân tộc- chủ nghĩa đầu thế kỷ XX đã đặt ra cho cách mạng ViệtNam những yêu cầu nào cần giải quyết?Giải quyết* Hoàn cảnh lịch sử Việt Nam đầu thế kỷ XX+ Chương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất đã gây nhiều chiếnchuyển kinh tế, xã hội Việt Nam; đã xuất hiện nhiều giai cấp, tầng lớp xã hộimới, dễ dàng tiếp thu tư tưởng dân chủ tư sản của phương Tây bắt đầu du nhập.+ Ảnh hưởng tân thư tân báo, cuộc Duy Tân thành công ở Nhật, thất bại ởTrung Quốc đã tác động đến tư tưởng trí thức phong kiến, tư sản Việt Nam.Từ đó xuất hiện trào lưu dân tộc chủ nghĩa qua các hoạt động: Phong tràoĐông Du, cuộc vận động Duy Tân, Đông kinh nghĩa thục … (học sinh giớithiệu khái quát)* Mặt tích cực và hạn chế của trào lưu dân tộc chủ nghĩa:- Tích cực:+ Vẫn kế thừa truyền thống yêu nước, đấu tranh giành độc lập dân tộc củanhân dân ta nhưng đã mang lại một tư tưởng mới. Từ tư tưởng trung quân áiquốc theo ý thức hệ phong kiến đã chuyển sang chủ nghĩa quốc gia dân tộc. Từđây cuộc đấu tranh chống đế quốc gắn liền với cuộc đấu tranh đòi dân chủ, dânquyền nhằm xây dựng đất nước theo chế độ dân chủ tư sản.+ Các biện pháp đấu tranh cũng mang hình thức mới, phong phú, đadạng: chú ý phát triển kinh tế công – thương nghiệp, đấu tranh vũ trang, đấutranh chính trị, đấu tranh ngoại giao, cải cách xã hội.+ Phong trào có quy mô rộng lớn thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dântham gia: : tư sản, tiểu tư sản trí thức, nông dân, công nhân, …- Hạn chế:+ Mơ hồ về chính trị, thưa thấy được bản chất của đế quốc (Phan BộiChâu muốn nhờ Nhật giúp; Phan Chu Trinh đề nghị Pháp cải cách).+ Chưa thấy được vai trò quan trọng của công nhân và nông dân trong sựnghiệp đấu tranh cách mạng của dân tộc.+ Do hạn chế của điều kiện lịch sử, hạn chế của giai cấp, thời đại, thiếusự lãnh đạo của một giai cấp tiên tiến nên các phong trào này cuối cùng đềukhông thành côngTrường THPT Chuyên Thái Bình30HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI* Yêu cầu lịch sử đặt ra- Những nhiệm vụ mà lịch sử đề ra cần tiếp tục giải quyết là: đánh đuổithực dân Pháp, giành độc lập dân tộc, cải cách xã hội tiến lên chế độ dân chủbằng phương pháp cách mạng mới.- Giải phóng dân tộc là nhiệm vụ lịch sử đặt lên hàng đầu. Yêu cầu lịchsử lúc này là đòi hỏi phải tìm ra một con đường cứu nước mới đúng đắn phùhợp với xu thế phát triển của thời đại để giành lại độc lập chủ quyền dân tộc2.3. Hướng dẫn học sinh tự học.Việc rèn kĩ năng tự học cho học sinh ở các lớp chuyên sử là điều rất cầnthiết để thực hiện mục tiêu bộ môn. Đó là con đường mà người giáo viên đưahọc sinh của mình đến với chân lý khoa học bằng chính hoạt động của họ. Nógiúp học sinh đào sâu, củng cố kiến thức và phát triển toàn diện cho các em. Kĩnăng tự học là công cụ để các em học suốt đời. Đó là: kĩ năng tự làm việc vớisách giáo khoa lịch sử; kĩ năng tự làm việc với tài liệu tham khảo dưới sự hướngdẫn của GV; kĩ năng nghe giảng kết hợp với tự ghi chép; kĩ năng phát hiện vấnđề và giải quyết vấn đề; kĩ năng tự kiểm tra đánh giá… Vì vậy, khi ôn tập choHSG quốc gia, chúng tôi rất coi trọng việc hướng dẫn học sinh tự học.Trong khuôn khổ của bài viết, chúng tôi chỉ xin đề cập đến việc rèn cho họcsinh kĩ năng tự làm việc với tài liệu tham khảo dưới sự hướng dẫn của giáo viên.Khi ôn tập cho học sinh giỏi thì việc đọc tài liệu tham khảo là yêu cầu bắtbuộc vì nội dung ôn tập thường là những vấn đề mang tính chất tổng hợp xuyênsuốt nhiều bài, thậm chí nhiều chương với lượng kiến thức vừa rộng vừa sâuhơn so với sách giáo khoa. Để có thể giải quyết được các nhiệm vụ học tập ởtrên lớp đòi hỏi học sinh phải nghiên cứu tìm hiểu trước tài liệu tham khảo. Đólà khâu chuẩn bị để học sinh có thể tiến hành trao đổi, thảo luận hay trình bàybáo cáo trước lớp. Để cho việc đọc sách của học sinh không tản mạn, chệchhướng, giáo viên cần hướng dẫn các em chọn sách và phương pháp đọc.Đọc sách không đơn thuần là một công việc giải trí đơn giản mà là mộthoạt động học tập, nghiên cứu phức tạp. Tùy theo mục đích, yêu cầu cụ thể củatừng người mà kế hoạch và phương pháp đọc sách khác nhau. Một nhà giáo dụchọc đã đưa ra một quy trình đọc sách khái quát với các giai đoạn, các khâu nhưsau:Trường THPT Chuyên Thái Bình31HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIĐối với học sinh, việc nghiên cứu các chương, mục trong sách thamkhảo là để hiểu sâu sắc, mở rộng, nâng cao kiến thức đã được học trong sáchgiáo khoa nhằm giải quyết những bài tập mà thầy giao cho.Ví dụ khi dạy chuyên đề ““Vai trò và trách nhiệm của nhà Nguyễn đốivới việc để nước ta rơi vào tay thực dân Pháp ở thế kỉ XIX”, chúng tôi hướngdẫn các em đọc những tài liệu sau:1. Phong trào dân tộc trong đấu tranh chống Pháp ở Việt Nam từ 1885 1918, Nguyễn Ngọc Cơ, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2007.2. Tiến trình Lịch sử Việt Nam, Nguyễn Quang Ngọc (Chủ biên), NxbGiáo dục, Hà Nội, 2000.3. Đại cương Lịch sử Việt Nam, Tập I, Trương Hữu Quýnh (Chủ biên),Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1999.4. Lịch sử nhà Nguyễn – Một cách tiếp cận mới, Nhiều tác giả, Nxb Đạihọc Sư phạm, Hà Nội, 2005.5. Một số vấn đề lịch sử, Khoa Lịch sử ĐHSP Hà Nội, Nxb Đại học Quốcgia, Hà Nội, 2001.Để việc đọc sách có hiệu quả, giáo viên cần nêu rõ yêu cầu và hướng dẫnhọc sinh cách đọc cũng như cách ghi chép khi đọc sách: tên tác giả, tên sách, thờigian đọc, nội dung chủ yếu của sách, những vấn đề rút ra sau khi đọc sách (nhữngvấn đề liên quan đến bài học, vấn đề thích nhất, những thắc mắc cần giải quyết…).Trường THPT Chuyên Thái Bình32HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VINgoài ra, việc rèn luyện cho học sinh các kĩ năng khác như kĩ năng nghegiảng kết hợp với ghi chép trên lớp, kĩ năng phát hiện vấn đề và giải quyết vấnđề, kĩ năng tự kiểm tra đánh giá… cũng góp phần nâng cao hiệu quả ôn tập choHSG quốc gia.C- KẾT LUẬNCông tác bồi dưỡng HSG quốc gia là công việc khá đặc thù đòi hỏi ngườigiáo viên cần có cái tài và cái tâm với nghề. Tuy còn nhiều khó khăn và tháchthức song những ai đã từng trải qua công tác này đều cảm thấy trưởng thànhhơn rất nhiều về chuyên môn cũng như trách nhiệm hơn với nghề của mình. Vànhững thành quả mà chúng ta đạt được sẽ là sự động viên to lớn để thầy và tròtiếp tục phấn đấu trong giảng dạy và học tập.Trên đây là một số kinh nghiệm của chúng tôi trong việc lựa chọn vấn đềdạy và phương pháp ôn tập cho HSG quốc gia khi giảng dạy Lịch sử Việt Namtừ 1858 – 1918. Những kinh nghiệm này được chúng tôi rút ra từ thực tiễn bồidưỡng HSG ở trường trong nhiều năm và đã đem lại kết quả tốt. Chúng tôi hivọng sẽ nhận được sự chia sẻ, góp ý của các bạn đồng nghiệp để cùng tìm ranhững giải pháp tối ưu nhằm nâng cao hiệu quả công tác bồi dưỡng học sinhgiỏi quốc gia môn lịch sử.Xin chân thành cảm ơn!Trường THPT Chuyên Thái Bình33HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIChuyên đề xếp loại A:LỰA CHỌN VẤN ĐỀ DẠY VÀ PHƯƠNG PHÁP ÔN TẬPCHO HỌC SINH GIỎI QUỐC GIA KHI GIẢNG DẠYLỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ NĂM 1858 ĐẾN NĂM 1918Nguyễn Thị Thanh HuyềnTrường THPT Chuyên Nguyễn Tất Thành – Yên Bái.A. PHẦN MỞ ĐẦU1. Lý do chọn đề tàiMột trong những nhiệm vụ then chốt, mũi nhọn của trường THPT Chuyênkhác với các trường THPT khác chính là nhiệm vụ bồi dưỡng học sinh giỏi. Đốivới giáo viên các trường Chuyên nói chung, giáo viên dạy bộ môn Lịch sử trongtrường Chuyên nói riêng, vấn đề lựa chọn nội dung giảng dạy và phương phápôn tập cho học sinh theo từng giai đoạn, từng vấn đề, từng nội dung cụ thể là hếtsức quan trọng. Một bộ môn với lượng kiến thức lớn, nhiều sự kiện như mônLịch sử sẽ dễ trở thành môn học nhàm chán, tẻ nhạt, một môn học về những sựkiện “cũ kỹ” đã trải qua từ rất lâu và không tạo ra được hứng thú học tập chohọc sinh nếu như không có một phương pháp dạy tích cực, đổi mới, phù hợp vớitừng giai đoạn lịch sử cụ thể.Lịch sử Việt Nam từ năm 1858 đến năm 1918 là một giai đoạn lịch sử đầybiến động với nhiều sự kiện quan trọng đánh dấu quá trình xâm lược, bình địnhquân sự, khai thác thuộc địa của thực dân Pháp trên đất Việt Nam và quá trìnhnhân dân Việt Nam chiến đấu chống lại sự xâm lược và ách đô hộ của thực dânPháp. Cuộc chiến đấu của nhân dân ta đã diễn ra sôi nổi, quyết liệt với nhiềuphong trào đấu tranh tiêu biểu trong suốt nửa sau thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XXnhư phong trào Cần Vương (1885-1896), khởi nghĩa nông dân Yên Thế (18841913), phong trào đấu tranh theo khuynh hướng dân chủ tư sản với hai nhân vậtđại diện là Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh, khuynh hướng đấu tranh cáchmạng mới với hoạt động của Nguyễn Ái Quốc những năm đầu thế kỷ XX,…Đây là một giai đoạn lịch sử quan trọng, trong đó, nội dung giai đoạn này chủyếu được sử dụng trong kì thi học sinh giỏi các cấp như cấp trường, cấp Tỉnh,đặc biệt là trong kì thi học sinh giỏi Quốc gia.Như vậy, muốn đạt giải cao trong kì thi học sinh giỏi Quốc gia không thể bỏqua hay ôn luyện sơ sài giai đoạn Lịch sử Việt Nam từ năm 1858 đến năm 1918.Trường THPT Chuyên Thái Bình34HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VITuy nhiên, trên thực tế cho thấy, đây cũng là một giai đoạn lịch sử có những nộidung tương đối nhiều và khó, yêu cầu học sinh phải nắm được nhiều sự kiện, phảicó kỹ năng tổng hợp, phân tích, đánh giá các sự kiện, nhân vật lịch sử. Chính vìvậy, nếu không định hướng được nội dung dạy và phương pháp ôn tập đúng đắnsẽ dễ gây tâm lý “sợ học”, “sợ sự kiện” cho học sinh, từ đó làm giảm sút hứngthú, niềm say mê và chất lượng học tập, kết quả, thành tích của học sinh.Nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của giai đoạn lịch sử này nên chúngtôi mạnh dạn trình bày một số nội dung trong chuyên đề “Lựa chọn vấn đề dạy vàphương pháp ôn tập cho học sinh giỏi Quốc gia khi giảng dạy phần lịch sử ViệtNam từ năm 1858 đến năm 1918” để tham gia Hội thảo khoa học lần thứ VI củacác trường THPT Chuyên Khu vực Duyên hải – Đồng bằng Bắc Bộ năm 2013.2. Mục đích của đề tàiViệc nghiên cứu chuyên đề có mục đích chính là tổng hợp kiến thức, sauđó lựa chọn các vấn đề lịch sử cụ thể, chuyên sâu về lịch sử Việt Nam giai đoạntừ năm 1858 đến năm 1918 để giảng dạy cho đối tượng học sinh là học sinhgiỏi, từ đó đề xuất được phương pháp ôn tập hiệu quả, mang lại kết quả caotrong kì thi chọn học sinh giỏi Quốc gia.Đồng thời, sau khi hoàn thiện chuyên đề, đây có thể được coi là một tàiliệu tham khảo cho học sinh và giáo viên khi học tập và giảng dạy môn Lịch sửtại trường THPT Chuyên Nguyễn Tất Thành nói riêng và trên toàn tỉnh Yên Báinói chung. Mặt khác, chúng tôi viết chuyên đề này tham gia Hội thảo các trườngTHPT Chuyên ở khu vực Duyên hải và Đồng bằng Bắc Bộ để mạnh dạn đưa ramột số, ý kiến, giải pháp của mình, mong được các thầy cô đồng nghiệp ở cáctrường THPT Chuyên khác tham khảo, nhận xét, góp ý, bổ sung để kết quảgiảng dạy học sinh giỏi Quốc gia môn Lịch sử trong tất cả các trường ngày càngđạt hiệu quả cao hơn. Như vậy, việc nghiên cứu chuyên đề có ý nghĩa khoa họcvà ý nghĩa thực tiễn lớn.B. NỘI DUNGI. Lựa chọn vấn đề dạy cho học sinh giỏi Quốc gia phần Lịch sử ViệtNam từ năm 1858 đến năm 1918Với việc lựa chọn các vấn đề dạy cho học sinh giỏi Quốc gia phần Lịch sửViệt Nam tôi xin được trình bày theo hai khía cạnh cơ bản: Thứ nhất là kháiquát lại nội dung chính, cơ bản của cả giai đoạn lịch sử Việt Nam từ năm 1858đến năm 1918, sau đó tiến hành lựa chọn, đưa ra một số vấn đề, nội dung, câu hỏiTrường THPT Chuyên Thái Bình35HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIchuyên sâu để giải quyết. Thiết nghĩ, đối tượng nghiên cứu của chuyên đề chính làcác vấn đề được lựa chọn dạy cho học sinh giỏi Quốc gia – đây là bộ phận học sinhxuất sắc nhất đã vượt qua các vòng thi Tỉnh, thi lập đội tuyển, kiến thức nền cơ bảnđã được các giáo viên cung cấp khá đầy đủ, hệ thống. Nhưng muốn đi vào tìm hiểuchuyên sâu theo từng vấn đề cụ thể cũng cần có cái nhìn chung, bao quát đối vớigiai đoạn lịch sử đang nghiên cứu.1. Khái quát nội dung cơ bản của tiến trình lịch sử Việt Nam từ năm1858 đến năm 19181.1. Quá trình thực dân Pháp xâm lược Việt Nam và cuộc chiến đấu củanhân dân ta từ năm 1858 đến năm 1884Do nhu cầu tìm kiếm thị trường, thuộc địa, ngày 1 tháng 9 năm 1858 thựcdân Pháp xâm lược nước ta tại Đà Nẵng. Nhà Nguyễn yếu hèn không phối hợpvới nhân dân để chống giặc ngoại xâm. Vì quyền lợi giai cấp, nhà Nguyễn đãphản bội lợi ích của dân tộc lần lượt kí các hiệp ước đầu hàng (1862, 1874,1883 và 1884). Thực dân Pháp lần lượt chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kì, batỉnh miền Tây Nam Kì, mở rộng xâm lược Bắc Kì lần một (1873 – 1874), lần hai(1882 – 1884).Đối lập với thái độ và hành động của triều đình nhà Nguyễn, nhân dân kiênquyết đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược. Trước hành động xâm lược củaliên quân Tây Ban Nha – Pháp, khiến cho nhân dân Đà Nẵng vô cùng căm phẫnđã nổi dậy đấu tranh, thực dân Pháp bị thất bại phải kéo quân vào Gia Định.Năm 1859, khi Pháp đánh vào Gia Định, phong trào kháng chiến nhân dândiễn ra sôi nổi. Nghĩa quân Nguyễn Trung Trực đã đốt cháy tàu Pháp trên sôngVàm Cỏ, đoạn chảy qua thôn Nhật Tảo vào ngày 10 tháng 12 năm 1861. Nghĩaquân do Trương Định lãnh đạo đã làm địch “thất điên bát đảo”, ông được nhândân tôn là Bình Tây Đại Nguyên Soái. Nhân dân sáu tỉnh Nam Kì nêu cao tinhthần quyết tâm kháng chiến chống Pháp. Tiêu biểu là tấm gương Nguyễn TrungTrực trước kháng chiến ở miền Đông, sau sang miền Tây lập căn cứ ở HònChông (Rạch Giá). Khi bị giặc bắt đem ra chém, ông đã khẳng khái tuyên bố:“Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánh Tây”.Khi thực dân Pháp xâm lược Bắc Kì lần thứ nhất và lần thứ hai cũng bịquân và dân ta đánh trả quyết liệt. Quân dân thành Hà Nội đã làm nên hai chiếnthắng Cầu Giấy lần thứ nhất (21/12/1873) và chiến thắng Cầu Giấy lần thứ hai(19/5/1883), đã giết được tướng giặc Gác-ni-ê, Ri-vi-e và nhiều sĩ quan, binhTrường THPT Chuyên Thái Bình36HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIlính Pháp làm nức lòng, cổ vũ tinh thần, ý chí chiến đấu của quân dân ta, khiếnquân địch lúng túng, hoang mang, lo sợ.1.2. Phong trào Cần Vương (1885 – 1896) và cuộc khởi nghĩa nông dânYên Thế (1884 – 1913)Sau khi phe chủ chiến thất bại trong cuộc phản công tại kinh thành Huếnăm 1885, Tôn Thất Thuyết đã thay mặt Vua Hàm Nghi ban “Chiếu CầnVương”. Hưởng ứng chiếu Cần Vương, hàng trăm cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ đãdiễn ra rộng khắp từ Bắc vào Nam. Các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu như khởinghĩa Ba Đình (1886 – 1887), khởi nghĩa Bãi Sậy (1885 – 1892), đặc biệt làkhởi nghĩa Hương Khê (1885 – 1896). Phong trào Cần Vương đã gây cho địchnhiều khó khăn, lúng túng nhưng cuối cùng bị thất bại. Thất bại của phong tràoCần Vương chứng tỏ ngọn cờ cứu nước theo phạm trù tư tưởng phong kiếnkhông phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử.Diễn ra gần như đồng thời với phong trào Cần Vương là cuộc khởi nghĩanông dân Yên Thế (1884 -1913) và phong trào đấu tranh chống Pháp của đồng bàomiền núi cuối thế kỉ XIX có quy mô rộng, tính chất quyết liệt, thời gian kéo dài đãgây cho địch nhiều thiệt hại song kết quả cũng bị thất bại. Một lần nữa chứng tỏgiai cấp nông dân không thể đảm đương được sứ mệnh lịch sử là lãnh đạo nhândân đấu tranh giành thắng lợi, đập tan được ách thống trị của thực dân Pháp.1.3. Trào lưu dân chủ tư sản đầu thế kỷ XX với khuynh hướng đấu tranhcủa Phan Bội Châu và Phan Châu TrinhCuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, do ảnh hưởng của cuộc khai thác thuộc địalần thứ nhất của thực dân Pháp (1897 – 1914), xã hội Việt Nam phân hóa sâusắc, xuất hiện nhiều giai tầng xã hội mới. Một số sĩ phu yêu nước tiến bộ đươngthời đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh cách mạng theo khuynh hướng dân chủ tưsản như phong trào Đông Du của Phan Bội Châu (1905 – 1909), Đông KinhNghĩa Thục của Lương Văn Can, Nguyễn Quyền (1907), cuộc vận động DuyTân của Phan Chu Trinh, phong trào chống thuế ở Trung Kì (1908) và phongtrào yêu nước trong thời kì chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918). Tất cảđều bị thất bại chứng tỏ phong trào cách mạng Việt Nam đang bế tắc về đườnglối, khủng hoảng về giai cấp lãnh đạo cách mạng.1.4. Nguyễn Ái Quốc và sự lựa chọn con đường cứu nước mớiTrước bối cảnh lịch sử thời đại mới và tình hình trong nước, Nguyễn TấtThành không tán thành con đường cứu nước của các bậc tiền bối và Ngườiquyết định sang các nước phương Tây tìm đường cứu nước. Người muốn tìmTrường THPT Chuyên Thái Bình37HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIhiểu xem các nước bên ngoài phát triển, văn minh như thế nào để về cứu giúpđồng bào ta. Những hoạt động cứu nước của Người trong giai đoạn 1911 1918 tuy chỉ mới bước đầu nhưng là điều kiện quan trọng để Người xác địnhcon đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam.2. Các vấn đề lựa chọn để giảng dạy và giúp học sinh ôn tập giai đoạnlịch sử Việt Nam từ năm 1858 đến năm 1918Yêu cầu cần đạt đượcVấn đề lựa chọn để học sinhNội dungvề kiến thứcôn tậpQuá trình – Nắm được ý đồ, quá trình – Trình bày quá trình xâm lượcPháp xâm xâm lược của thực dân Pháp Việt Nam của thực dân Pháp từlượcViệt từ năm 1858 đến năm 1884. năm 1858 – 1884.Namvà – Trình bày được quá trình – Trình bày khái quát cuộc đấucuộc chiến chiến đấu của nhân dân ta tranh chống thực dân Pháp xâmđấucủa chống lại sự xâm lược của lược của nhân dân ta trong giainhân dân ta thực dân Pháp qua hai trận đoạn 1858 – 1884.từ năm 1858 tuyến: trận tuyến của triều – So sánh thái độ của triều đìnhnhà Nguyễn và của nhân dân trongđếnnăm đình và của nhân dân.- Nắm được hoàn cảnh kí cuộc kháng chiến chống thực dân1884kết, nội dung các Hiệp ước Pháp xâm lược theo các nội dung:đầu hàng, bán nước của nhà Chủ trương, việc chuẩn bị, biệnNguyễn: Nhâm Tuất (1862), pháp đấu tranh, kết quả.Giáp Tuất (1874), Hắc- – Vì sao nhà Nguyễn kí Hiệp ướcmăng (1883), Pa-tơ-nốt Nhâm Tuất? Nêu nội dung và rútra nhận xét về bản Hiệp ước này.(1884).- Rút ra được đặc điểm, tính – Phân tích đặc điểm phong tràochất cuộc kháng chiến của quần chúng nhân dân chống Phápnhân dân ta trong giai đoạn xâm lược (1858 – 1884).- Em hãy làm sáng rõ động cơ,1858 – 1884.- Nắm được nội dung, kết mục đích, những nội dung cơ bảnquả của một số đề nghị cải của trào lưu cải cách duy tân nửacách, duy tân vào nửa cuối sau thế kỷ XIX. Tại sao trào lưunày lại không được thực hiện vàthế kỷ XIX.- Đánh giá được trách hậu quả của nó?nhiệm của nhà Nguyễn – Việt Nam mất vào tay thực dântrong việc để mất nước ta Pháp cuối thế kỷ XIX có phải làTrường THPT Chuyên Thái Bình38HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIPhong tràoCần Vương1885 – 1896và cuộc khởinghĩa nôngdânYênThế (1884 1913)vào tay thực dân Pháp nửa tất yếu hay không? Đánh giá tráchcuối thế kỷ XIX.nhiệm của nhà Nguyễn trong việcđể mất nước.- Trình bày được hoàn cảnh – Phân tích hoàn cảnh bùng nổ vàlịch sử ra đời và nội dung phân chia các giai đoạn phát triểncủa Chiếu Cần Vương.chính của phong trào Cần Vương.- Phân tích được nguyên – Phân tích thái độ của các vănnhân bùng nổ của phong thân sĩ phu và của nhân dân đốitrào Cần Vương và thái độ với Chiếu Cần Vương.của các văn thân sĩ phu, – So sánh các cuộc khởi nghĩa tiêuquân chúng nhân dân đối biểu trong phong trào Cần Vươngvới chiếu Cần Vương.theo các tiêu chí: Thời gian, Người- Nắm được các giai đoạn lãnh đạo, Địa bàn hoạt động, Tổphát triển của phong trào chức, Chiến thuật, Kết quả.Cần Vương và những nét – Cuộc khởi nghĩa tiêu biểu nhấtchính của các cuộc khởi trong phong trào Cần Vương lànghĩa tiêu biểu: Khởi nghĩa cuộc khởi nghĩa nào? Vì sao ?Ba Đình (1886-1887), khởi – Phân tích đặc điểm, tính chất,nghĩa Bãi Sậy (1885-1892), nguyên nhân thất bại, ý nghĩa lịchkhởi nghĩa Hương Khê sử của phong trào Cần Vương.(1885-1896), khởi nghĩa – Trình bày hoàn cảnh, các giaiHùng Lĩnh (1886-1892). Từ đoạn phát triển, kết quả, ý nghĩađó có thể so sánh giữa các của khởi nghĩa nông dân Yên Thế.cuộc khởi nghĩa này và xác Vì sao cuộc khởi nghĩa Yên Thếđịnh được cuộc khởi nghĩa lại tồn tại được trong một thời gianHương Khê là tiêu biểu nhất dài? Vì sao khởi nghĩa nông dântrong phong trào Cần Vương. Yên Thế không được xếp vào- Rút ra được đặc điểm và ý phong trào Cần Vương ?nghĩa lịch sử của phong trào – So sánh khởi nghĩa nông dânYên Thế với các cuộc khởi nghĩaCần Vương.- Nắm được các giai đoạn trong phong trào Cần Vương theochính trong cuộc khởi nghĩa các nội dung: Hoàn cảnh, mụcnông dân Yên Thế (1884- tiêu, lãnh đạo, lực lượng tham gia,1913), từ đó lý giải được địa bàn hoạt động, kết quả, ýnguyên nhân cuộc khởi nghĩa.Trường THPT Chuyên Thái Bình39HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VITràolưudân chủ tưsảnvớikhuynhhướng đấutranhcủaPhanBộiChâuvàPhan ChâuTrinhnghĩa này tồn tại trong mộtthời gian dài.- Rút ra được nguyên nhânthất bại, ý nghĩa lịch sử củacuộc khởi nghĩa Yên Thế.- Biết so sánh những điểmgiống và khác nhau giữakhỏi nghĩa nông dân YênThế với Phong trào CầnVương.- Nắm được những tác độngcủa cuộc khai thác thuộc địalần thứ nhất của Pháp(1897-1914) đối với tìnhhình kinh tế – xã hội ViệtNam.- Nắm được bối cảnh lịch sửthế giới và trong nước tácđộng đến sự hình thành tràolưu dân chủ tư sản ở ViệtNam với hai khuyng hướng:bạo động vũ trang của PhanBội Châu và cải cách duytân của Phan Châu Trinh.- Nắm được những nét kháiquát về tiểu sử, hoạt động,chủ trương cứu nước và vaitrò của Phan Bội Châu,Phan Châu Trinh.- So sánh được những điểmgiống và khác nhau về chủtrương cứu nước của PhanBội Châu và Phan ChâuTrinh và lý giải đượcnguyên nhân dẫn đến sựTrường THPT Chuyên Thái Bình40- Thông qua cuộc đấu tranh củanhân dân ta từ năm 1858 đến cuốithế kỷ XIX, hãy chứng minh câunói của Nguyễn Trung Trực: “Baogiờ người Tây nhổ hết cỏ nướcNam thì mới hết người Nam đánhTây”.- Trình bày hoàn cảnh, nội dungvà phân tích tác động của chươngtrình khai thác thuộc địa lần thứnhất (1897-1914) của thực dânPháp tới tình hình kinh tế, xã hộiViệt Nam.- Phân tích nguyên nhân dẫn đếnnhững nhận thức mới trong bộphận sĩ phu yêu nước Việt Namđầu thế kỷ XX.- Trình bày sơ lược tiểu sử và hoạtđộng cứu nước của Phan Bội Châuvà Phan Châu Trinh.- Hãy so sánh điểm giống và khácnhau trong khuynh hướng cứunước của Phan Bội Châu và PhanChâu Trinh. Lí giải nguyên nhâncủa sự khác nhau đó.- Trình bày hoạt động chính củaphong trào Đông du. Nguyên nhânthất bại của phong trào và bài họcthực tế rút ra từ phong trào đó làgì?- So sánh phong trào Đông du vàphong trào Duy tân đầu thế kỷHỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIkhác nhau đó.- So sánh được phong tràoĐông Du và phong trào Duytân, từ đó giải thích được vìsao lại có sự khác biệt.- So sánh được sự giống vàkhác nhau giữa phong tràoCần Vương cuối thế kỷ XIXvới phong trào dân tộc dânchủ đầu thế kỷ XX.- Rút ra được đặc điểm,nguyên nhân thất bại, ý nghĩalịch sử của phong trào dân tộcdân chủ đầu thế kỷ XX.Nguyễn ÁiQuốc và sựlựachọncon đườngcứunướcmới- Phân tích được nguyênnhân Nguyễn Ái Quốc ra đitìm đường cứu nước.- Nắm được những hoạtđộng chính của Nguyễn TấtThành từ năm 1911 đếnnăm 1918 và đánh giá đượcvai trò, công lao của Ngườitrong giai đoạn này.- Lí giải được nguyên nhânTrường THPT Chuyên Thái Bình41XX. Giải thích vì sao lại có sựkhác nhau giữa hai phong trào.- Trong cuộc đấu tranh giải phóngđất nước chống ách ngoại xâm, hainhiệm vụ dân tộc và dân chủ xuấthiện đồng thời khi nào? Nhữngnăm đầu thế kỷ XX, hai nhiệm vụnày được những nhà cách mạngnước ta giải quyết như thế nào?Nêu ý nghĩa lịch sử của phong tràoyêu nước cách mạng thời kỳ này.- So sánh phong trào Cần Vươngcuối thế kỷ XIX và phong trào dântộc, dân chủ đầu thế kỷ XX.- Phân tích đặc điểm cơ bản vàđánh giá vai trò của phong tràodân tộc dân chủ ở Việt Namnhững năm đầu thế kỷ XX đối vớisự phát triển của lịch sử dân tộctrong giai đoạn này.- Những biểu hiện nào chứng tỏphong trào yêu nước chống Pháp ởViệt Nam cuối thế kỷ XIX – đầuthế kỷ XX “dường như trong đêmtối không có đường ra”?- Phân tích nguyên nhân NguyễnÁi Quốc ra đi tìm đường cứunước.- Trình bày quá trình tìm đườngcứu nước của Nguyễn Tất Thànhtừ năm 1911 đến năm 1918 và chỉrõ công lao của Người trong giaiđoạn này.- Hướng đi và mục đích đi tìmđường cứu nước của Nguyễn TấtHỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIvì sao Người quyết địnhsang các nước Phương Tâytìm con đường cứu nướcmới và con đường cứu nướcnày có điểm gì khác so vớicon đường cứu nước củacác vị tiền bối.Thành có điểm gì mới so với cácbậc tiền bối trước đó?- Tại sao nói hoạt động củaNguyễn Tất Thành trong nhữngnăm 1911 – 1918 là cơ sở quantrọng để Người xác lập con đườngcứu nước đúng đắn cho dân tộcViệt Nam?II. Lựa chọn phương pháp ôn tập cho học sinh giỏi quốc gia khi họcphần Lịch sử Việt Nam từ năm 1858 đến năm 1918Trên cơ sở xác định, lựa chọn được những nội dung chuyên sâu để giảngdạy cho học sinh giỏi Quốc gia giai đoạn lịch sử Việt Nam từ năm 1858 đếnnăm 1918, giáo viên cần phải lựa chọn được phương pháp ôn tập đúng đắn, hiệuquả cho học sinh. Chỉ có thực hiện đồng nhất hai nội dung: kiến thức đúng, cầnthiết và phương pháp học hiệu quả mới có thể mang lại kết quả học tập tối ưu.Đối tượng giảng dạy là những học sinh giỏi Quốc gia nên những phươngpháp học truyền thống như thuyết trình một chiều, thày đọc – trò chép,… lànhững điểm tối kỵ trong hoạt động dạy – học này. Vậy để đem lại hiệu quả giáodục cao trong việc bồi dưỡng học sinh giỏi Quốc gia, người giáo viên phải lựachọn những phương pháp nào? Đây là một câu hỏi mà chưa có câu trả lời chuẩnmực, khuôn phép. Bởi hầu hết các giáo viên giảng dạy đều dựa trên một sốnguyên tắc giáo dục cơ bản nhưng những nguyên tắc này lại được nhìn nhận,nghiên cứu và thực hiện theo yếu tố chủ quan, cá nhân. Trên phương diện là mộtgiáo viên giảng dạy bộ môn Lịch sử, cũng được tiếp cận với việc bồi dưỡng họcsinh giỏi, tôi xin được đưa ra một số phương pháp theo ý kiến chủ quan như sau:Trước hết, tôi xin đặt phương pháp tự học của học sinh lên hàng đầu. Bởichỉ có tự học người học sinh mới có thể chủ động lĩnh hội kiến thức, phát huytính sáng tạo trong việc học tập.Trải qua các vòng thi cấp trường, cấp Tỉnh, học sinh đã có được nhữngkiến thức nền cơ bản nhất định và khả năng tự học của các em cũng đã đượcchứng tỏ. Trên thực tế cho thấy, cũng có những học sinh học thuộc lòng giỏi,đặc biệt là những bài viết có sẵn do giáo viên cung cấp, những học sinh này cóthể đạt giải ở các vòng thi cấp Tỉnh, thậm chí lọt vào đội tuyển Quốc gia.Nhưng nếu chỉ có như vậy, học sinh này không có khả năng tự học, tự biến kiếnTrường THPT Chuyên Thái Bình42HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIthức của thầy cô cung cấp thành kiến thức của bản thân thì không thể đạt giảicao trong kì thi học sinh giỏi Quốc gia. Việc tự học của học sinh có thể thựchiện được trên nền tảng cơ bản là kiến thức thầy cô cung cấp. Hiện nay, nhiềuđịa phương đang tổ chức việc thực hiện giáo án tự nghiên cứu. Công việc nàycó thể vất vả cho các thầy cô giáo hơn bình thường, vì các thầy cô phải tự biênsoạn giáo án đầy đủ, chính xác và đặc biệt phải nêu được vấn đề hướng dẫn tựhọc, tự nghiên cứu cho học sinh. Việc thực hiện giáo án tự nghiên cứu cũngtương đối thuận lợi khi giảng dạy học sinh giỏi Quốc gia vì thời gian ôn tập cóhạn, đồng thời sẽ khắc phục được tình trạng đọc – chép kiến thức. Giáo án tựnghiên cứu của giáo viên có thực hiện được hay không, có hiệu quả không phụthuộc rất lớn vào khả năng, phương pháp tự học của học sinh.Thứ hai, phương pháp ôn luyện mang lại hiệu quả cao là phương pháp traođổi – đàm thoại kết hợp với phương pháp dạy học nêu vấn đề. Việc trao đổi,đàm thoại diễn ra giữa các đối tượng là giáo viên – học sinh, học sinh – học sinh,học sinh – giáo viên – học sinh. Có thể thực hiện phương pháp trao đổi – đàmthoại trên cơ sở tự học của học sinh, khi các em đã có một lượng kiến thức nhấtđịnh để có thể trao đổi được. Cách đặt vấn đề của giáo viên cũng là một yếu tốquan trong trong việc giảng dạy học sinh giỏi Quốc gia. Nội dung đưa ra traođổi – đàm thoại phải thực sự là nội dung có vấn đề, trong quá trình giải quyếtcâu hỏi sẽ tiếp tục làm nảy sinh các vấn đề yêu cầu học sinh phải liên tục suynghĩ, trả lời. Như vậy, học sinh sẽ chủ động lĩnh hội kiến thức một cách độc lập,sáng tạo. Sau đó, giáo viên phải chốt lại vấn đề đã nêu ra, giải đáp thỏa đángnhững câu hỏi của học sinh và có thể hướng dẫn học sinh ghi chép các nội dungchính hoặc phát cho học sinh một bảng chuẩn kiến thức về vấn đề vừa tìm hiểu.Ví dụ: Khi giáo viên lựa chọn vấn đề “Việt Nam mất vào tay thực dânPháp cuối thế kỷ XIX có phải là tất yếu hay không? Đánh giá trách nhiệmcủa nhà Nguyễn trong việc để mất nước” để học sinh tiến hành trao đổi – đàmthoại, học sinh đã có cái nhìn khái quát, cơ bản nhất về quá trình Pháp xâm lượcViệt Nam, cuộc đấu tranh của nhân dân ta chống lại sự xâm lược của Pháp vớihai trận tuyến rõ ràng, một bên là cuộc chiến đấu dưới sự lãnh đạo của quanquân triều đình với một bên là cuộc chiến đấu của nhân dân. Trong vấn đề này,giáo viên cũng có thể soạn giáo án tự nghiên cứu với các nội dung cơ bản đã nóiở trên, phát cho học sinh từ buổi học trước, yêu cầu các em tự học và suy nghĩ,nghiên cứu vấn đề: Việc Việt Nam rơi vào tay thực dân Pháp vào cuối thế kỷXIX có phải là tất yếu hay không? Có nước nào có hoàn cảnh tương tự như ViệtTrường THPT Chuyên Thái Bình43HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VINam, cũng đứng trước nguy cơ xâm lược của chủ nghĩa thực dân Phương Tâymà lại thoát khỏi thân phận bị nô dịch hay không?Từ những hiểu biết đã có, học sinh sẽ trao đổi, trả lời được việc Việt Namrơi vào tay thực dân Pháp vào cuối thế kỷ XIX là một việc không tất yếu. Trongquá trình trao đổi – đàm thoại sẽ tiếp tục nảy sinh vấn đề: Đây là điều không tấtyếu nhưng cuối cũng Việt Nam lại rơi vào tay thực dân Pháp. Vậy trách nhiệmđể mất nước ta vào tay thực dân Pháp thuộc về ai? Tại sao lại như vậy?Các vấn đề liên tục nảy sinh, yêu cầu học sinh phải tư duy, suy nghĩ, vậndụng kiến thức để trao đổi, trả lời và cuối cùng rút ra được rằng: Nhà Nguyễnđã biến việc mất nước từ không tất yếu thành tất yếu. Nhà Nguyễn phải chịutrách nhiệm về việc để mất nước ta vào tay thực dân Pháp vào cuối thế kỷ XIX.Song có phải toàn bộ các quan lại nhà Nguyễn đều hèn nhát, can tâm dâng nướcta cho thực dân Pháp hay không? Học sinh sẽ nhớ lại các tấm gương chiến đấucủa Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu…để đưa ra được một đánh giá công bằngvà chính xác hơn.Thứ ba, phương pháp sử dụng các bài tập lịch sử phát huy khả năng tư duylôgic, năng lực phân tích, tổng hợp, đánh giá các sự kiện lịch sử. Đây là nhữngcâu hỏi khó, đòi hỏi năng lực tư duy cao của học sinh.Theo cuốn “Tài liệu tập huấn phát triển chuyên môn giáo viên trường THPTChuyên môn Lịch sử” – Bộ Giáo dục và Đào tạo, Năm 2012 – đã xác định một sốdạng câu hỏi tự luận thường gặp. Từ thực tế nghiên cứu các đề thi quốc gia, tôixin tổng hợp lại, đưa ra một số dạng câu hỏi yêu cầu khả năng tư duy sâu của họcsinh trong giai đoạn lịch sử Việt Nam từ năm 1858 đến năm 1918:Một là, câu hỏi xác định, phân tích tính chất, đặc điểm của sự kiện lịch sử.Với dạng câu hỏi này, học sinh phải nắm vững kiến thức lịch sử cơ bản, có khảnăng xác định và phân tích đặc điểm, tính chất của các sự kiện lịch sử.Ví dụ: Phân tích đặc điểm phong trào chống thực dân Pháp xâm lượccủa nhân dân ta từ năm 1858 đến năm 1884.Gợi ý trả lời:Trước khi đi vào phân tích các đặc điểm của phong trào chống thực dânPháp xâm lược của nhân dân ta từ năm 1858 đến năm 1884, học sinh cần xácđịnh được các đặc điểm cơ bản sau:- Mục đích của phong trào: Lúc đầu chỉ đơn thuần là cuộc đấu tranhchống ngoại xâm, về sau có sự kết hợp phần nào với cuộc đấu tranh chống triềuđình phong kiến đầu hàng.Trường THPT Chuyên Thái Bình44HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI- Lực lượng tham gia: đông đảo, chủ yếu gồm ba lực lượng:+ Một số quan quân triều đình Nguyễn: Nguyễn Tri Phương, HoàngDiệu, Đốc học Phạm Văn Nghị…+ Quần chúng nhân dân tự động đứng lên tổ chức kháng chiến: TrươngĐịnh, Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Hữu Huân,…+ Một số nho sĩ trí thức yêu nước đấu tranh bằng văn thơ: Nguyễn ĐìnhChiểu, Phan Văn Trị,…- Hình thức đấu tranh: phong phú, sáng tạo như đấu tranh vũ trang, tịđịa, đấu tranh bằng văn thơ,…- Quy mô: Số lượng lớn, nhưng còn mang tính chất địa phương, chưa có sựliên kết chặt chẽ và chưa phát triển thành phong trào có quy mô toàn quốc.- Kết quả: Thất bại, bị đàn áp dã man.- Ngoài ra, còn một số đặc điểm khác như: Chiến đấu kịp thời, xác địnhđúng kẻ thù dân tộc, tinh thần chiến đấu dũng cảm,…Hai là, câu hỏi xác lập mối quan hệ nhân quả giữa các sự kiện lịch sử thếgiới đối với Việt Nam. Với dạng câu hỏi này, học sinh phải nắm vững kiến thứclịch sử thế giới và kiến thức lịch sử Việt Nam trong cùng một khoảng thời giancụ thể, đồng thời phải nhận biết được mối quan hệ, tác động giữa các sự kiệntrong nước và sự kiện trên thế giới.Ví dụ: Cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, tình hình chính trị thế giới, nhấtlà các nước châu Á đã tác động vào Việt Nam như thế nào? Vì sao các sĩ phuViệt Nam lại noi gương Nhật Bản?Gợi ý trả lời: Học sinh cần nêu được các nội dung cơ bản:* Tác động của tình hình thế giới:- Từ những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, những thông tin về tìnhhình chính trị thế giới (châu Á, Trung Quốc, Nhật Bản) đã xâm nhập vào ViệtNam. Sĩ phu trí thức tiến bộ và thị dân là giới tiếp nhận sớm nhất những luồngtư tưởng mới mẻ, tiến bộ này…- Phong trào cải cách chính trị – văn hóa ở Trung Quốc năm 1898 củaLương Khải Siêu, Khang Hữu Vi…- Tư tưởng cách mạng tư sản Pháp với những tác phẩm của Rút-xô, Môngtéc-xki-ơ,… được dịch sang tiếng Hán và du nhập vào nước ta, giúp họ thấy sựsuy tàn của chế độ phong kiến châu Á và sự cần thiết phải cải cách, duy tân…- Cách mạng Tân Hợi 1911 nổ ra ở Trung Quốc đã giúp họ thấy sự đoạntuyệt với tư tưởng quân chủ trước kia để chuyển sang tư tưởng Cộng hòa…Trường THPT Chuyên Thái Bình45HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI- Sau 30 năm duy tân của Minh Trị, nước Nhật trở thành nước tư bản hùngmạnh, đánh thắng đế quốc Nga trong cuộc chiến tranh năm 1904-1905.* Noi gương Nhật Bản:- Trước khi duy tân đất nước, Nhật cũng là nước phong kiến, có nhiều néttương đồng về kinh tế – xã hội như Việt Nam, cũng bị hiểm họa xâm lược từphương Tây…- Nhờ duy tân đất nước mà Nhật bản trở thành nước tư bản hùng mạnh,đánh thắng đế quốc Nga (1905)…- Nhật lại là nước “đồng chủng, đồng văn” với Việt Nam nên có thể dựavào Nhật để đánh Pháp…Ba là, câu hỏi xác định tính kế thừa giữa các sự kiện, giai đoạn, thời kỳlịch sử. Với dạng câu hỏi này, học sinh phải hiểu được rõ sự phát triển liên tục,thống nhất hữu cơ giữa các sự kiện, giai đoạn lịch sử. Mỗi một giai đoạn, sựkiện lịch sử diễn ra đều có sự kế thừa những nội dung tiến bộ của các giai đoạn,sự kiện lịch sử trước đó.Ví dụ: Tại sao nói trào lưu dân tộc chủ nghĩa đầu thế kỷ XX ở nước ta làsự kế tục phong trào Cần Vương yêu nước chống Pháp cuối thế kỷ XIX, đồngthời đã mang nhiều nét mới khác trước?Gợi ý trả lời:* Khái quát về phong trào Cần Vương và trào lưu dân tộc chủ nghĩa đầuthế kỷ XX:- Về phong trào Cần Vương:+ Đây là phong trào chống Pháp diễn ra liên tục ở cuối thế kỷ XIX.+ Phong trào lúc đầu là sự kết hợp giữa quần chúng nhân dân với lực lượngquân đội chính quy của triều đình.+ Về sau là phong trào yêu nước khởi nghĩa vũ trang Cần Vương còn chịuảnh hưởng của ý thức hệ phong kiến.+ Thực chất đây là phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân nhằm đánhđổ Pháp và tay sai, khôi phục lại nền độc lập dưới chế độ phong kiến.- Về trào lưu dân tộc chủ nghĩa:+ Xuất hiện một chủ nghĩa quốc gia dân tộc với những cuộc vận động dântộc, dân chủ của một tầng lớp xã hội mới. Tiêu biểu là Phan Bội Châu, PhanChâu Trinh với phong trào Đông du hay các cuộc vận động cải cách do PhanChâu Trinh khởi xướng.Trường THPT Chuyên Thái Bình46HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI=> Đây là những phong trào dân tộc theo con đường dân chủ tư sản, nó kếtục phong trào Cần Vương nhưng đồng thời cũng mang nhiều nét mới khác vớigiai đoạn trước.* Điểm mới và khác so với phong trào Cần Vương:- Mục tiêu: Nếu PT Cần Vương chống Pháp giành độc lập và khôi phục lạichế độ phong kiến thì phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX chống Pháp, hướngtới một nền cộng hòa, xây dựng nước Việt Nam độc lập.- Tầng lớp khởi xướng trào lưu này là những sĩ phu yêu nước tiến bộ.- Chủ nghĩa yêu nước của các sĩ phu văn thân thuộc phong trào Cần Vươngtrước kia nay đã chuyển thành chủ nghĩa dân tộc gắn liền với những tư tưởngdân chủ và mong muốn nước nhà theo kịp các quốc gia văn minh thế giới.- Về hình thức và phương pháp đấu tranh: Không chỉ hạn chế trong nhữnghình thức đấu tranh vũ trang như trước đây mà còn kết hợp cả với nhiều biệnpháp mới chính trị, ngoại giao, tiến hành một phong trào cải cách sâu rộng trongđông đảo quần chúng.- Lực lượng tham gia: Phong trào có điểm mới là có sự tham gia của cácgiai cấp, tầng lớp mới xuất hiện bên cạnh các giai cấp, tầng lớp cũ của phongtrào Cần Vương…Bốn là, câu hỏi xác định nguyên nhân thành công hay thất bại của một sựkiện lịch sử, tìm hiểu ý nghĩa lịch sử và rút ra bài học kinh nghiệm lịch sử đốivới ngày nay. Để trả lời được dạng câu hỏi này học sinh cần phải huy độnglượng kiến thức cơ bản về những nội dung cơ bản, cụ thể, diễn biến chính củacác sự kiện lịch sử để xác định kết quả. Từ đó mới có thể rút ra được nguyênnhân của kết quả này, tìm hiểu xem ý nghĩa lịch sử của sự kiện và những bàihọc kinh nghiệm có thể vận dụng được.Ví dụ: Trình bày hoạt động chính của phong trào Đông du. Nguyên nhânthất bại của phong trào và bài học thực tế rút ra từ phong trào đó là gì?Gợi ý trả lời:*Nét chính hoạt động của phong trào Đông Du:+Từ năm 1905 đến 1908, số HS Việt Nam sang Nhật của phong trào ĐôngDu đã lên tới 200 người, được đưa vào hai nơi để học: Trường Chấn Võ vàĐồng Văn Thư viện.+Thời gian này, nhiều văn thơ yêu nước và cách mạng trong phong tràoĐông Du được truyền về nước, đã động viên tinh thần yêu nước của nhân dân(Hải ngoại huyết thư, Việt Nam quốc sử khảo…).Trường THPT Chuyên Thái Bình47HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI+Từ tháng 9/1908, thực dân Pháp yêu cầu Nhật trục xuất những người ViệtNam yêu nước khỏi đất Nhật. Tháng 3/1909, Phan Bội Châu cũng phải rời đấtNhật. Phong trào Đông Du tan rã. Hội Duy Tân ngừng hoạt động.* Nguyên nhân thất bại của phong trào Đông du và bài học thực tế rút ratừ phong trào:+Phong trào Đông Du thất bại là tất yếu: Chủ trương bạo động là đúng,nhưng tư tưởng cầu viện là sai, không thể dựa vào đế quốc đánh đế quốc được;Do các thế lực đế quốc Nhật – Pháp cấu kết với nhau để trục xuất thanh niênyêu nước Việt Nam ở Nhật.+ Bài học rút ra từ thực tế phong trào Đông du là cần xây dựng thực lựctrong nước, trên cơ sở thực lực mà tranh thủ sự hỗ trợ quốc tế chân chính.Năm là, câu hỏi yêu cầu lý giải một vấn đề đã được xác định, hoặc bìnhluận, chứng minh câu nói nổi tiếng của một nhân vật lịch sử bằng những quanđiểm, bằng các sự kiện lịch sử. Với dạng câu hỏi này, trước hết học sinh phảinắm được xuất xứ, hoàn cảnh lịch sử cụ thể của câu nói nổi tiếng, của nhữngnhận định mà đề bài đặt ra. Từ đó, dựa những sự kiện cơ bản trong giai đoạnlịch sử cụ thể để chứng minh câu nói, nhận định đó.Ví dụ: Những biểu hiện nào chứng tỏ phong trào yêu nước chống Phápở Việt Nam cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX “dường như trong đêm tối khôngcó đường ra”?Gợi ý trả lời:* Phong trào Cần Vương cuối thế kỷ XIX: hưởng ứng chiếu Cần Vương,các cuộc khởi nghĩa của nhân dân đã nổ ra khắp nơi, tiêu biểu như khởi nghĩaBa Đình, Bãi Sậy, Hương Khê,…nhưng kết quả đều thất bại vì hạn chế bởinhững điều kiện giai cấp và thời đại:+ Đây là phong trào yêu nước chống Pháp trên lập trường phong kiến, lậptrường này không còn phù hợp với xu thế thời đại.+ Chưa chú ý xây dựng sức mạnh vật chất, bồi dưỡng sức dân để khángchiến lâu dài.+ Chưa phối hợp chặt chẽ giữa các cuộc khởi nghĩa để thống nhất lựclượng, tạo nên sức mạnh tổng hợp của cuộc kháng chiến.-> Sự thất bại của phong trào Cần Vương đã chứng tỏ sự khủng hoảng vềđường lối và lực lượng lãnh đạo…* Phong trào yêu nước chống Pháp đầu thế kỷ XX, tiêu biểu là hoạt độngcủa Phan Bội Châu với xu hướng vũ trang bạo động, Phan Châu Trinh với xuTrường THPT Chuyên Thái Bình48HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIhưởng cải cách duy tân và các phong trào yêu nước của tư sản, tiểu tư sản. Tuydiễn ra sôi nổi với nhiều hình thức nhưng các phong trào này cuối cùng đều thấtbại, do:+ Bế tắc về phương hướng cứu nước, không tìm ra con đường cứu nướcphù hợp với lịch sử nước ta trong hoàn cảnh đương thời.+ Chưa tìm ra lực lượng xã hội tiên tiến đủ sức lãnh đạo công cuộc cứu nước.+ Không thấy được sức mạnh to lớn, quyết định của công – nông và cáctầng lớp nhân dân lao động khác cũng như chưa biết cách tập hợp lực lượng củatoàn dân tộc.+ Không tìm thấy tương lai tươi sáng cho sự phát triển của dân tọc sau khiđánh đuổi ngoại xâm trong bối cảnh chế độ phong kiến đã lỗi thời, tư sản đếquốc phản động, chà đạp lên quyền lợi của dân tộc, của nhân dân, tư sản dân tộcyếu ớt, phụ thuộc đế quốc.=> Vào cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước ở Việt Namđang đứng trước sự bế tắc về đường lối và giai cấp lãnh đạo. Cách mạng ViệtNam “dường như trong đêm tối không có đường ra”.Như vậy, tất cả các câu hỏi dạng tư duy lôgic, đòi hỏi học sinh phải thực sựsuy nghĩ, giải thích, phân tích, đánh giá, chứng minh, xâu chuỗi được các sựkiện, tìm ra mối quan hệ, đặc điểm chung, tính chất,…của các vấn đề lịch sử dựatrên những kiến thức cơ bản đã được các giáo viên cung cấp. Đồng thời, họcsinh phải có khả năng nhìn nhận, đánh giá một cách đúng đắn, khoa học các vấnđề lịch sử trên quan điểm chủ nghĩa duy vật biện chứng, nắm vững phươngpháp luận sử học với phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic.Thứ tư, phương pháp sử dụng các bài tập thực hành lịch sử như bài tập lậpbảng thống kê, lập niên biểu, bảng so sánh,…Đặc trưng của môn Lịch sử là nhiều sự kiện lịch sử, nếu không tổng hợp,không nhóm các sự kiện lại theo từng nội dung, vấn đề thì rất khó nhớ, khóthuộc, khó hiểu và khó vận dụng. Chính vì vậy, khi học sinh trực tiếp làm cácbài tập thực hành lịch sử sẽ nhớ lâu hơn, kiến thức tổng hợp, hệ thống hơn.Ví dụ 1: Khi giảng dạy nội dung “Cuộc kháng chiến của nhân dân chốnglại sự xâm lược của thực dân Pháp từ năm 1858 đến năm 1884”, giáo viên sửdụng bài tập như sau: Lập bảng so sánh thái độ của triều đình Nhà Nguyễn vàthái độ của nhân dân trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lượctheo nội dung: Chủ trương, việc chuẩn bị, biện pháp đấu tranh, kết quả.Trường THPT Chuyên Thái Bình49HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI=> Học sinh sẽ phải tổng hợp kiến thức, hoàn thành được một bảng so sánhnhư sau:MặtThái độ của triều đìnhThái độ của nhân dântrậnnhà NguyễnChủ- Lúc đầu chủ trương chống – Kiên quyết chống Pháp ngay từtrương Pháp: Cử Nguyễn Tri Phương đầu, cùng quân triều đình chốngvào tổ chức chống liên quân Pháp Pháp.– Tây Ban Nha ở mặt trận Đà – Khi triều đình nhượng bộ đầuNẵng, Gia Định.hàng Pháp nhân dân vẫn tự động- Về sau chủ trương hòa hoãn, đứng lên chống Pháp.thương lượng rồi đầu hàng hoàntoàn.Việc- Lúc đầu triều đình có phòng bị – Nhân dân tự động chuẩn bị nhânchuẩncó cử quan triều đình tổ chức lực, tài lực cho cuộc kháng chiến,bịchống Pháp tại Đà Nẵng, xây sẵn sàng đốt nhà tạo thành nhữngdựng Đại đồn Chí Hòa ở Gia bức tường lửa ngăn bước tiến củaĐịnh.địch,…- Về sau chỉ lo thương thuyết.Biện- Lúc đầu đấu tranh vũ trang.- Đấu tranh vũ trang là chủ yếu.pháp- Về sau đấu tranh chính trị: – Ngoài ra còn các hình thức đấuđấuthương thuyết chuộc đất.tranh khác như phong trào tị địa,tranhđấu tranh bằng văn học.Kết quả – Lúc đầu cũng gây cho Pháp – Làm thất bại kế hoạch đánhnhiều khó khăn.nhanh thắng nhanh của Pháp,- Sau đó, triều đình đã chọn con chúng phải mất 26 năm mớiđường thương thuyết đi từ chinh phục được Việt Nam.nhượng bộ này (Hiệp ước Nhâm – Tuy thất bại nhưng góp phầnTuất – 1862) đến nhượng bộ khác làm ngời sáng những trang sử hào(Hiệp ước Giáp Tuất – 1874) rồi hùng của dân tộc, tô điểm thêmđầu hàng hoàn toàn (Hiệp ước nét đẹp truyền thống yêu nước,Hắc-măng – 1883 và Hiệp ước tinh thần đấu tranh bất khuất kiênPa-tơ-nôt – 1884).cường của dân tộc.- Triều đình trở thành tay sai củaPháp.Trường THPT Chuyên Thái Bình50HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIVí dụ 2: Sau khi giảng dạy nội dung “Quá trình xâm lược của thực dân Pháptừ năm 1858 đến năm 1884”, để kiểm tra kiến thức của học sinh, giáo viên đưa rabài tập thực hành: Hãy điền vào chỗ trống những nội dung còn thiếu để hoànthành bảng niên biểu những sự kiện lịch sử Việt Nam giai đoạn 1858 – 1884:Thời gian20/11/187321/12/187315/3/187425/4/188219/5/188317/7/188325/8/18836/6/1884Nội dung cơ bảnKết quả=> Học sinh nhớ lại kiến thức cũ, hoàn thành được bảng niên biểu như sau:Thời gianNội dung cơ bản20/11/1873 -Quân Pháp nổ súng đánh thànhHà Nội, Nguyễn Tri Phươnglãnh đạo binh sĩ chống cựnhưng không giữ được thành.21/12/1873 – Chiến thắng Cầu Giấy lần thứnhất, quân ta phục kích và tiêudiệt một toán quân Pháp.15/3/1874- Triều đình kí với Pháp Hiệpước Giáp Tuất: Pháp rút khỏiHà Nội, triều đình chính thứcthừa nhận 6 tỉnh Nam Kì thuộcPháp.25/4/1882- Ri-vi-e gửi tối hậu thư choTrường THPT Chuyên Thái Bình51Kết quả- Pháp chiếm thành Hà Nội.- Viên chỉ huy Gác-ni-ê bịgiết tại trận, Pháp hoangmang, lo sợ.- Chiến thắng Cầu Giấy làmnức lòng quân ta.- Nhà Nguyễn đánh mất mộtphần quan trọng chủ quyềnđộc lập của đất nước. NamKì là thuộc địa của Pháp,Việt Nam là thị trường riêngcủa Pháp.- Hoàng Diệu hy sinh, PhápHỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI19/5/188317/7/188325/8/18836/6/1884Hoàng Diệu đòi nộp thành.chiếm được thành Hà Nội.- Pháp nổ súng đánh thành- Quân triều đình tan vỡ.- Quân Pháp bị phục kích tại – Pháp đại bại, Ri-vi-e bịCầu Giấy.giết tại trận.- Vua Tự Đức qua đời.- Pháp cho quân đánh cửabiển Thuận An, buộc triềuđình đầu hàng.- Hiệp ước Hác-măng được kí – Việt Nam đã mất quyền tựkết.chủ trên phạm vi cả nước,triều đình chính thức thừanhận sự bảo hộ của Pháp.- Hiệp ước Pa-tơ-nốt được kí – Hiệp ước đặt cơ sở chokết.quyền đô hộ của thực dânPháp ở Việt Nam.- Việt Nam chính thức trởthành nước thuộc địa, nửaphong kiến.Thứ năm, để đánh giá khả năng tự học, ôn luyện của học sinh cần thườngxuyên tiến hành phương pháp kiểm tra – đánh giá thông qua việc kiểm tra kiếnthức, kỹ năng viết bài – luyện đề.Như câu nói “văn ôn, võ luyện”, muốn đạt được mục đích của một côngviệc nào đó phải thường xuyên luyện tập, trau dồi. Học tập bộ môn Lịch sửcũng như vậy, nếu không thường xuyên kiểm tra, luyện tập thì kiến thức Lịch sửsẽ bị chồng chéo, nhầm lẫn, dẫn đến chuyện “râu ông nọ cắm cằm bà kia”. Vìvậy, đồng thời với việc lựa chọn nội dung và phương pháp giảng dạy, giáo viêncũng phải thường xuyên kiểm tra học việc tập của học sinh.Hình thức kiểm tra, đánh giá rất phong phú, đa dạng, có thể kiểm tra từngkỹ năng, từng mức độ nhận thức của học sinh.Với hình thức kiểm tra miệng, giáo viên có thể yêu cầu các em trả lời mộtsố câu hỏi trình bày các sự kiện lịch sử như: “Trình bày cuộc khởi nghĩa tiêubiểu nhất trong phong trào Cần Vương. Cuộc khởi nghĩa này có đặc điểm nàokhác với các cuộc khởi nghĩa Cần Vương khác?” ; “Trình bày quá trình tìmđường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc từ năm 1911 đến năm 1918 và đánh giáTrường THPT Chuyên Thái Bình52HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIcông lao của Người trong giai đoạn này.”…Việc kiểm tra miệng không nhữngkiểm tra được mức độ nắm vững kiến thức mà còn kiểm tra được khả năng phảnxạ nhanh, tập trung và xử lý thông tin để giải quyết câu hỏi, đồng thời còn rènluyện khả năng diễn đạt, thuyết trình các vấn đề lịch sử,…Với hình thức kiểm tra viết, giáo viên có thể tiến hành kiểm tra viết ngaytại lớp học hoặc đưa các câu hỏi, các đề thi yêu cầu học sinh viết bài và kiểm trakỹ năng làm bài của học sinh, đặc biệt học sinh được làm quen với cấu trúc củađề thi học sinh giỏi quốc gia với 7 câu, gồm phần Lịch sử Việt Nam và Lịch sửthế giới. Khi học sinh viết bài, giáo viên cần chấm, chữa bài cẩn thận, chi tiết, rõràng để học sinh nhận thức được điểm mạnh – điểm yếu của mình, biết nhữngnội dung kiến thức sai để khắc phục, sửa chữa trong những lần kiểm tra sau.Đồng thời, giáo viên phải đặt ra những yêu cầu cụ thể đối với học sinh khi làmbài – coi đó là những nguyên tắc bắt buộc: phải đọc kỹ đề, gạch chân vào nhữngtừ khóa, mấu chốt trong đề bài; xác định đúng yêu cầu của bài về khoảng thờigian và nội dung cần trình bày; tiến hành lập đề cương sơ lược; xác định khoảngthời gian tương ứng cho mỗi câu; tiến hành viết bài; hành văn phải trong sáng,rõ ràng, mạch lạc, không sai lỗi chính tả,..Với việc ôn luyện các vấn đề cơ bản, phù hợp, chạm được mức độ của đềQuốc gia và phương pháp học tập tích cực, chủ động, sáng tạo, độc lập của họcsinh dựa trên sự hướng dẫn, lựa chọn của giáo viên như trên, học sinh có thể đạtđược kết quả cao trong kỳ thi học sinh giỏi Quốc gia môn Lịch sử.C. KẾT LUẬNChuyên đề “Lựa chọn vấn đề dạy và phương pháp ôn tập cho học sinh giỏiquốc gia khi giảng dạy phần Lịch sử Việt Nam từ năm 1858 đến năm 1918” làmột chuyên đề hay và mới, có ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn lớn.Với việc tập trung, tổng hợp kiến thức sau đó lựa chọn các vấn đề giảngdạy theo từng giai đoạn lịch sử cụ thể và phương pháp ôn tập phù hợp cho đốitượng học sinh giỏi quốc gia là một vấn đề có tính cấp thiết đối với học sinh vàgiáo viên trong các nhà trường Trung học phổ thông.Khi lựa chọn một số nội dung cơ bản và phương pháp học như đã trình bàysẽ giúp học sinh được cọ xát nhiều hơn với các dạng câu hỏi, các bài tập yêucầu kiến thức theo bề rộng và theo bề sâu, từ đó giúp các em nắm chắc kiếnthức lịch sử, xác định đúng và có khả năng giải quyết tốt các vấn đề lịch sử đặtra. Những nội dung được lựa chọn để giải quyết là những kiến thức chuyên sâu,Trường THPT Chuyên Thái Bình53HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VInhưng được xây dựng trên nền tảng kiến thức cơ bản. Vì vậy, việc áp dụng sẽdễ dàng hơn, đặc biệt đối với các trường không có lớp chọn Chuyên Sử nhưtrường THPT Chuyên Nguyễn Tất Thành, thời gian học tập môn Sử không đượcnhiều như các trường có lớp Chuyên Sử riêng biệt.Việc xây dựng, hoàn thiện chuyên đề dựa trên một vài kinh nghiệm chủquan của bản thân và học tập từ kinh nghiệm giảng dạy của đồng nghiệp, vì vậychuyên đề không thể tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được sự góp ý,bổ sung, trao đổi kinh nghiệm từ các thày cô giáo ở các địa phương khác đểchúng ta có một chuyên đề hoàn thiện, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy,bồi dưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử nói riêng, giảng dạy bộ môn Lịch sử trongcác nhà trường nói chung./.Trường THPT Chuyên Thái Bình54HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VITÀI LIỆU THAM KHẢO1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, “Tài liệu tập huấn phát triển chuyên môngiáo viên trường THPT Chuyên – Môn Lịch sử”, 2012.2. Nguyễn Thị Côi, “Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạyhọc Lịch Sử ở trường phổ thông”, Nhà xuất bản Đại học Sư pham, 2008.3. Trịnh Đình Tùng (Chủ biên), Trần Huy Đoàn, Nguyễn Thị Hương, “Bồidưỡng học sinh giỏi môn Lịch sử Trung học phổ thông”, Nhà xuất bản Giáodục Việt Nam, 2012.4. “Tuyển tập đề thi Olympic 30 tháng 4, lần thứ XVII – 2011”, Nhà xuấtbản Đại học Sư phạm, 2011.5. “Tuyển tập đề thi Olympic 30 tháng 4, lần thứ XVIII – 2012”, Nhàxuất bản Đại học Sư phạm, 2012.Trường THPT Chuyên Thái Bình55HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIChuyên đề xếp loại A:CHUYÊN ĐỀ MÔN LỊCH SỬ:LỰA CHỌN VẤN ĐỀ DẠY VÀ PHƯƠNG PHÁP ÔN TẬPCHO HỌC SINH GIỎI QUỐC GIA KHI GIẢNG DẠYGIAI ĐOẠN LỊCH SỬ VIỆT NAM 1858 – 1918Trường THPT Chuyên Hoàng Văn Thụ – Hòa BìnhA. ĐẶT VẤN ĐỀMôn lịch sử ở trường phổ thông là môn học được sự quan tâm của toànxã hội, vì nhân dân Việt Nam làm ra lịch sử bằng xương máu của mình, nên vôcùng yêu quý lịch sử dân tộc. Mỗi con người Việt Nam chỉ có thể phát triển mọinăng lực sẵn có trên nền tảng những tri thức về lịch sử và văn hoá dân tộc. Giáodục lịch sử là quy luật của giáo dục và đào tạo con người ở Việt Nam, cũng nhưở mọi quốc gia trên thế giới.Môn lịch sử là môn học có nhiều cơ hội nhất và khả năng lớn nhất trongnhiệm vụ “giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc”, giáo dục và rèn luyệnđạo đức con người Việt Nam. Do đó, vấn đề bồi dưỡng kiến thức môn lịch sử lànhiệm vụ quan trọng của các trường Trung học phổ thông chuyên hiện naynhằm giúp học sinh củng cố kiến thức thi đại học, cao đẳng và các kì thi chọnhọc sinh giỏi.Cũng như các môn học khác, mục tiêu bồi dưỡng học sinh giỏi là mục tiêukép, tức là vừa phải thực hiện nhiệm vụ giáo dục toàn diện của học sinh trung họcphổ thông, vừa phải phát triển năng khiếu về một môn học để sau khi vào đại học,các em sẽ trở thành những tài năng thực sự trong lĩnh vực khoa học lịch sử.Đặc điểm của học sinh chuyên là những học sinh xuất sắc ở các trườngtrung học cơ sở của địa phương, nhiều em đã dự thi và đạt giải cao trong các kìthi Học sinh giỏi các cấp và trúng tuyển theo quy chế tuyển sinh vào các trườngTrung học phổ thông chuyên. Do đó, phương pháp dạy, phương pháp học ởtrường Trung học phổ thông chuyên phải tiên tiến nhất, phù hợp với đối tượnghọc sinh của trường.Dạy học nói chung và dạy học lịch sử nói riêng là quá trình truyền thụ củagiáo viên và tiếp thu kiến thức của học sinh. Cho nên, vai trò của người giáoviên lịch sử ở trường chuyên là phải yêu cầu, hướng dẫn và tổ chức điều khiểnhọc sinh phát triển tư duy lịch sử nhất là tư duy độc lập, sáng tạo, phải làm choTrường THPT Chuyên Thái Bình56HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIquá trình học tập của học sinh trở thành quá trình chủ động học tập, tiến dần lênquá trình tự nghiên cứu độc lập. Nhiệm vụ tư duy đặt ra cho học sinh chuyênphần lớn là những vấn đề lịch sử tổng hợp, sâu rộng. Vì vậy, học sinh chuyêncần có một khối lượng lớn tri thức đã được thông hiểu và nắm vững, biết vậndụng kiến thức đã học để hiểu biết kiến thức mới và giải quyết được các dạngbài tập lịch sử.Muốn đạt được điều trên, không chỉ đòi hỏi sự nhiệt huyết, yêu nghề màcòn phải là sự chuyên sâu về kiến thức và có trình độ nghiệp vụ sư phạm củađội ngũ thầy, cô giáo lịch sử dạy chuyên. Từ thực tiễn giảng dạy và nhiệm vụcủa chương trình Hội thảo khoa học lần thứ VI của Hội các trường THPTChuyên khu vực duyên hải – đồng bằng Bắc Bộ năm, nhóm giáo viên lịch sửcủa nhà trường đã tập hợp tài liệu và trình bày chuyên đề: Lựa chọn vấn đề dạyhọc và phương pháp ôn tập cho Học sinh giỏi Quốc gia môn lịch sử giai đoạnlịch sử Việt Nam (1858 – 1918) nhằm chia sẻ với các thầy, cô giáo dạy lịch sửnói chung và các thầy, cô giáo đang dạy đội tuyển cũng như học sinh giỏi đangôn luyện đội tuyển Quốc gia môn lịch sử nói riêng về những kiến thức cơ bản vàphương pháp ôn luyện về giai đoạn lịch sử quan trọng này.Giai đoạn Lịch sử Việt Nam (1858 – 1918) là nội dung quan trọng trongphần Lịch sử Việt Nam cận đại lớp 11. Đặc biệt, đối với kỳ thi học sinh giỏiQuốc gia, giai đoạn lịch sử này không chỉ là kiến thức cơ bản làm nền tảng nghiêncứu lịch sử lớp 12 mà còn là một phần không thể thiếu trong cấu trúc đề thi.B. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀPhần I: Các vấn đề cơ bản và chuyên sâu trong giai đoạn lịch sử ViệtNam 1858 – 1918 cần cung cấp cho học sinh.Các vấn đề cơ bản:Chương I. Việt Nam từ năm 1858 đến cuối thế kỉ XIX- Bối cảnh thế giới và Việt Nam giữa thế kỉ XIX, Pháp tìm cớ can thiệp vàoViệt Nam.- Pháp tấn công Đà Nẵng và chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kì, ba tỉnhmiền Tây Nam Kì; cuộc kháng chiến của nhân dân ta ở Đà Nẵng và các tỉnhNam Kì.- Pháp mở rộng đánh chiếm toàn bộ Việt Nam, nhân dân ta kháng chiến.Hiệp ước Hac-măng 1883 và Patơnốt 1884.- Phong trào Cần Vương: nguyên nhân, các giai đoạn phát triển, nhữngcuộc khởi nghĩa tiêu biểu.Trường THPT Chuyên Thái Bình57HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI- Trào lưu cải cách, duy tân đất nước cuối thế kỉ XIX: các nhà cải cách,những đề nghị cải cách, kết cục những cải cách.- Phong trào nông dân Yên Thế và của đồng bào miền núi.Chương II: Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến hết Chiến tranh thế giớithứ nhất- Những chuyển biến về kinh tế – xã hội, tư tưởng ở Việt Nam đầu thế kỉXX; nguyên nhân của sự chuyển biến.- Phong trào yêu nước và cách mạng ở Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đếnChiến tranh thế giới thứ nhất (1914): giải thích được nguyên nhân xuất hiện cácphong trào, những phong trào tiêu biển (hoạt động cứu nước của Phan BộiChâu, Phan Châu Trinh), tính chất dân chủ tư sản của phong trào, sự khác nhauvề hình thức đấu tranh, nguyên nhân thất bại.- Những nét chính về các cuộc đấu tranh vũ trang tiêu biểu trong thời gianChiến tranh thế giới thứ nhất.- Sự khởi đầu của một khuynh hướng cứu nước mới trong phong trào giảiphóng dân tộc đầu thế kỉ XX: Phong trào công nhân Việt Nam từ đầu đến hết Chiếntranh thế giới thứ nhất; Buổi đầu hoạt động của Nguyễn Ái Quốc (1911 – 1918).Các vấn đề chuyên sâu:1. Trách nhiệm của triều đình Huế trong việc làm mất nước,2. Sự khủng hoảng của phong trào yêu nước chống Pháp vào cuối thế kỷXIX “dường như trong đêm tối không có đường ra”.3. Phong trào yêu nước chống Pháp theo khuynh hướng dân chủ tư sản ởViệt Nam.4. Tư tưởng canh tân ở Việt Nam cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX.5. Đặc điểm của phong trào yêu nước chống Pháp cuối thế kỉ XIX và đầuthế kỉ XX.Phần II: Phương pháp và kĩ năng ôn tậpI. Một số vấn đề chung1. Mức độ của đề thi học sinh giỏi môn lịch sửMục đích của các kỳ thi chọn học sinh giỏi địa phương và học sinh giỏiquốc gia môn lịch sử là tuyển chọn những học sinh xuất sắc nhất để tiếp tục đàotạo và phải phát triển năng khiếu về môn học cho các em sau khi vào đại học,các em sẽ trở thành những tài năng thực sự trong một lĩnh vực khoa học lịch sử,nên các đề thi chọn học sinh giỏi có tính phân loại rất cao.Các đề thi học sinh giỏi ở cơ sở thường dành khoảng 30% đến 40% (cóTrường THPT Chuyên Thái Bình58HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VInhiều địa phương dưới 30%) số điểm cho khả năng nhận biết, phần còn lại dànhcho đánh giá khả năng thông hiểu và vận dụng kiến thức. Như vậy, nếu chỉdừng ở mức độ học thuộc bài, học sinh không thể đáp ứng được yêu cầu của sựphân loại và lựa chọn. Đề thi chọn học sinh giỏi quốc gia môn lịch sử còn khóhơn rất nhiều, nếu chỉ học thuộc bài thì chắc chắn không thể đáp ứng.Về kĩ năng, đề thi học sinh giỏi đòi hỏi nhiều kỹ năng cao hơn như sosánh, phân loại, giải thích, đánh giá, phân tích tổng hợp.2. Cấu trúc đề thi chọn học sinh giỏi quốc giaVề đề thi, phân tích các đề thi trong nhiều năm cho thấy: Việc thi chọn họcsinh giỏi môn lịch sử hiện nay là viết bài tự luận. Câu hỏi trong đề thi thườngdựa trên cơ sở câu hỏi hoặc bài tập đã nêu trong sách giáo khoa, hoặc sách giáoviên, nhưng được làm mới bằng cách sửa chữa và bổ sung thêm, theo hướng mởrộng hoặc thu hẹp phạm vi nội dung cần hỏi. Với thang điểm 20, các đề thi họcsinh giỏi hiện nay thường có 7 câu. Nội dung đề thi hoàn toàn nằm trongchương trình Trung học phổ thông, chương trình 12 thường chiếm trên 70%,bao gồm Lịch sử thế giới và Lịch sử Việt Nam. Sự phân bố tỷ lệ điểm giữa phầnlịch sử Việt Nam và lịch sử thế giới là 70% và 30%.Theo đề xuất của các nhà giáo dục Lịch sử, đối với câu hỏi của đề thi họcsinh giỏi có thể sử dụng đề thi mở – một biện pháp đổi mới phương thức kiểmtra, đánh giá. Với dạng đề thi có những câu hỏi “mở”, tạo điều kiện cho sự sángtạo của học sinh. Học sinh có điều kiện phát biểu nhận thức của mình về mộtnhận định, đánh giá, một sự kiện hoặc một quá trình lịch sử, khuyến khích khảnăng phát hiện và giải quyết vấn đề.Trong mỗi câu hỏi thường có hai vế: vế 1 thường là kiến thức cơ bản, vế 2thường là câu hỏi thông hiểu hoặc vận dụng. Ví dụ, câu 1 trong đề thi học sinhgiỏi quốc gia năm 2011: Nêu các khuynh hướng chính trị và những biểu hiệncủa nó trong phong trào yêu nước chống Pháp từ cuối thế kỉ XIX đến đầu năm1930. Từ kết cục của mỗi khuynh hướng, hãy rút ra kết luận về con đường giảiphóng dân tộc Việt Nam.Vế 1 của câu này là Nêu các khuynh hướng chính trị và những biểu hiệncủa nó trong phong trào yêu nước chống Pháp từ cuối thế kỉ XIX đến đầu năm1930. Phần kiến thức cơ bản này phải tổng hợp các sự kiện từ nhiều bài học lịch sửđược trình bày trong sách giáo khoa lớp 11 (chương trình chuẩn và chương trìnhnâng cao) và một số bài trong sách giáo khoa lớp 12 (chương trình chuẩn vàchương trình nâng cao).Trường THPT Chuyên Thái Bình59HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIVế 2 của câu này: Từ kết cục của mỗi khuynh hướng, hãy rút ra kết luận vềcon đường giải phóng dân tộc Việt Nam. Đây là yêu cầu vận dụng nâng cao, đòihỏi học sinh sau khi nêu được những biểu hiện của các khuynh hướng chính trịtrong phong trào yêu nước chống Pháp từ cuối thế kỉ XIX đến đầu năm 1930,học sinh phải khẳng định được trong thời gian này, ở nước ta có hai khuynhhướng chính trị xuất hiện và cùng tác động đến phong trào cách mạng, song kếtcục là sự thất bại của khuynh hướng dân chủ tư sản và khuynh hướng vô sảnngày càng thắng thế, đánh dấu bằng sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam (1 –1930). Từ kết cục của các khuynh hướng nói trên, nên con đường cứu nước tấtyếu để giành thắng lợi cho dân tộc ta là con đường cách mạng vô sản.Một số điểm đáng lưu ý:1. Đặc điểm của đề thi là không tập trung vào một bài, một chương, mộtphần hay một khóa trình lịch sử mà rải ra trong toàn bộ chương trình. Vì thế, thísinh không thể học tủ, học lệch.2. Yêu cầu về kỹ năng của mỗi câu hỏi trong đề thi cũng khác nhau, biểuhiện ở những từ dùng để hỏi khác nhau: nêu, trình bày, tóm tắt, khái quát, sosánh, nhận xét, phân tích, đánh giá, phát biểu ý kiến, lập bảng, vẽ sơ đồ, biểuđồ… Phải chú ý đáp ứng mỗi yêu cầu cụ thể đó.3. Thí sinh có cách làm khác, nhưng đúng thì bài làm vẫn được cho đủđiểm. Cách làm ở đây chủ yếu là ở kết cấu và cách thể hiện, trình tự sắp xếp cácý trong một câu, có thể chia tách một ý lớn, hoặc gộp nhiều ý nhỏ…4. Khi làm bài, trong mọi câu hỏi, thí sinh hoàn toàn có thể theo chươngtrình nâng cao, hoặc chương trình chuyên (gồm kiến thức của các chuyên đềdành cho lớp chuyên), có thể sử dụng cả những kiến thức ngoài chương trìnhphổ thông, không có trong đáp án, được khai thác từ các tài liệu tham khảo,nhưng đúng. Trong trường hợp này bài làm có thể được thưởng thêm điểm,nhưng không vượt quá tổng số điểm của toàn bài. Đây là một hình thức khuyếnkhích học sinh đọc thêm tài liệu tham khảo, khai thác những kênh thông tinkhác nhau, làm cho bài viết phong phú và sinh động hơn.Trên đây là cấu trúc đề thi học sinh giỏi trong khoảng thời gian từ năm2006 đến năm 2012. Cấu trúc này có thể được điều chỉnh qua các kỳ thi về sau.Các địa phương có thể căn cứ vào cấu trúc đề thi quốc gia để điều chỉnh cấutrúc cho phù hợp với đặc điểm của học sinh địa phương mình.3. Phương pháp và kỹ năng ôn tậpa) Nội dung chương trình ôn tậpTrường THPT Chuyên Thái Bình60HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VINội dung ôn tập trước hết là kiến thức cơ bản có trong sách giáo khoa trunghọc phổ thông. Đây là nền tảng để xây dựng chương trình ôn tập. Tuy nhiên,căn cứ vào mục tiêu đối với học sinh giỏi, cần xác định kiến thức và kỹ năng màhọc sinh đã biết để bồi dưỡng những kiến thức và kỹ năng cần có thêm. Ngườithầy phải bồi dưỡng những những kiến thức và kỹ năng theo chiều sâu hoặckiến thức mới, tránh lặp lại máy móc những nội dung kiến thức và kỹ năng màhọc sinh đã có. Do đó, mỗi giáo viên ôn luyện đội tuyển cần phải tự xây dựngchương trình giảng dạy cụ thể, thực hiện chương trình bằng những phương phápthích hợp, biết tự đánh giá và điều chỉnh chương trình để đạt kết quả ngày càngcao hơn.Việc điều chỉnh chương trình giảng dạy đơn thuần là sự thêm, bớt nộidung. Trong quá trình ôn luyện cho học sinh, không gò ép học sinh theo nhữngkhuôn mẫu có sẵn, mà người thầy phải gợi mở, hướng dẫn, khuyến khích tư duysáng tạo, giúp học sinh vận dụng những kiến thức đã tích luỹ được để ngày càngtự hoàn thiện, có khả năng tự đánh giá, tự điều chỉnh để không ngừng vươn lênhọc tốt, thích ứng với mọi hoàn cảnh, chủ động ứng phó với mọi tình huống.b) Phương pháp và kĩ năng ôn tập cơ bảnNội dung của đề thi học sinh giỏi lịch sử rất phong phú, đa dạng, chủ yếu làcâu hỏi lý thuyết, một số đề có câu hỏi thực hành. Do đó, việc xác định phươngpháp và kĩ năng ôn tập phải phù hợp với mục tiêu đặt ra là bồi dưỡng học sinhgiỏi, nên cũng cần phải tuân thủ những cơ sở lý luận về phương pháp dạy họcđể không rơi vào kinh nghiệm chủ nghĩa; đồng thời cần sáng tạo những biệnpháp, thao tác sư phạm để khắc phục tình trạng lý thuyết suông.- Phải xác định động cơ, hứng thú học tập lịch sử cho học sinhĐây là khâu đầu tiên có tác dụng đột phá trong việc giúp học sinh có sự lựachọn môn học ngay từ đầu năm học. Chính vì vậy, nên trong bài mở đầu củacủa chương trình năm học, người thầy nêu ra một số vấn đề trong nội dung họctập, những quyền lợi được hưởng của học sinh tạo ra hứng thú học tập, khaokhát muốn được biết, kích thích tính tích cực của học sinh, làm cho học sinhtham gia tích cực vào môn học.- Sớm hình thành ở học sinh năng lực tự học và làm bài thi môn lịch sử.Năng lực tự học là năng lực tự mình chiếm lĩnh kiến thức lịch sử một cách hiệuquả dưới sự điều khiển hướng dẫn của thầy. Muốn như vậy học sinh phải đượctrang bị những cơ sở mang tính định hướng. Bài thi lịch sử thường đặt dướidạng câu hỏi, phần lớn đề thi là câu hỏi lý thuyết. Khi biên soạn hệ thống câuTrường THPT Chuyên Thái Bình61HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIhỏi, giáo viên cần chú ý đến nội dung và cách trình bày câu hỏi. Thông thườngcâu hỏi lý thuyết được kết thúc bằng những từ để hỏi (… như thế nào?”, “… rasao? … là gì?); hoặc bắt đầu bằng những từ yêu cầu, sai khiến (Nêu…, Trìnhbày…, Tóm tắt…, Khái quát…, So sánh…, Tại sao…? Vì sao…? Giải thích…,Phân tích…, Nhận xét…), đôi khi có thêm chữ “Hãy” trước những từ đó. Câu hỏithực hành thường bắt đầu bằng những từ (Hãy) kẻ bảng…, điền vào bảng…, lậpbiểu đồ…, vẽ sơ đồ/đồ thị…Những từ dùng để hỏi quy định mức độ kiến thức, kỹ năng, tức là quy địnhđộ khó của câu hỏi. Có thể phân chia thành ba mức, tương ứng ba bậc mục tiêunhận thức, ba cấp độ khó khác nhau:Nhận biết, thể hiện khả năng nhớ, thuộc kiến thức, thường được hỏi bằngcác từ: Nêu…, Trình bày…, Hãy kể…Thông hiểu, thể hiện khả năng phân biệt, so sánh, giải thích, chứng minh,thường được hỏi bằng các từ: Hãy chứng minh rằng…, Vì sao…? Tại sao…? (cókhi thay bằng: Hãy trình bày/giải thích nguyên nhân/ lý do…), Hãy so sánh…(có khi thay bằng: Hãy nêu những điểm giống nhau, khác nhau…).Vận dụng, thể hiện khả năng tư duy cao hơn, khả năng đánh giá, phán xét,phân tích tổng hợp có thể vận dụng kiến thức để giải quyết một vấn đề. Loại câuhỏi này thường dùng các từ Phân tích… Nhận xét…, Đánh giá…Một số điểm đáng lưu ý:Phân tích đề, phát hiện và giải quyết vấn đề, xác định đúng yêu cầu củatừng câu hỏi là việc làm tối quan trọng, quyết định phương hướng làm bài đúng,tránh tình trạng lạc đề.c) Kỹ năng làm bài* Lập dàn ýSau khi phân tích đề bài, cần lập dàn ý. Hãy coi mỗi câu hỏi như một bàiviết ngắn, xác định những ý chính và trình tự của các ý, không nên chỉ hìnhdung đại khái và viết ngay trong giấy thi. Khi lập dàn ý cần thực hiện các bước:- Bước 1: Kiểm tra lại yêu cầu của câu hỏi về kiến thức và kĩ năng.- Bước 2: Khoanh vùng kiến thức (các sự kiện, quá trình lịch sử gắn vớithời gian và không gian cụ thể). Điều này rất quan trọng vì có khoanh đúngvùng kiến thức mới tránh được tình trạng bị thừa hoặc thiếu trong bài làm. Chúý mối liên hệ đồng đại (trong cùng một thời gian), hoặc lịch đại (theo trình tựthời gian trước, sau) giữa các sự kiện.Trường THPT Chuyên Thái Bình62HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI- Bước 3: Viết dàn ý. Trước hết viết dàn ý sơ lược, ghi các ý chính, đồngthời tư duy chi tiết hoá mỗi ý đó. Căn cứ vào mục tiêu kỹ năng để lập dàn ý chosát, không bỏ sót những ý lớn.* Làm bài- Lập xong dàn ý sẽ tự biết cần phải mở bài như thế nào, vì khi đó phươnghướng và nội dung trả lời đã được xác định rõ. Tốt nhất là mở bài một cách trựctiếp, ngắn gọn, đi thẳng vào vấn đề cần trình bày.- Nội dung trả lời là sự trình bày và phát triển từng ý đã chuẩn bị trongdàn bài theo mỗi câu hỏi, được thể hiện bằng những câu, từ đầy đủ, chính xác,đúng ngữ pháp, đúng chính tả. Chú ý cách thể hiện (lập luận) sát yêu cầu của đềbài, chủ động dùng từ ngữ thích hợp với yêu cầu của câu hỏi (trình bày, giảithích, so sánh, chứng minh, phân tích, nhận xét…). Với cùng một nội dung,nhưng yêu cầu của câu hỏi khác nhau thì cách thể hiện và nội dung kiến thứchoàn toàn khác nhau. Sau khi đã viết xong nội dung trả lời câu hỏi, khắc sẽ biếtkết luận như thế nào. Đừng nghĩ trước kết luận, và cũng chỉ nên kết luận thậtngắn gọn.d) Một số điểm cần quan tâm khi làm bài- Không được chủ quan, cần đọc kĩ câu hỏi, phân tích và hiểu chính xácyêu cầu của câu hỏi (xác định đúng yêu cầu về kiến thức, kỹ năng của từng câuhỏi). Một câu hỏi chặt chẽ sẽ không có từ nào là “thừa”. Vì thế, phải đọc hết vàhiểu chính xác từng chữ trong câu hỏi. Đọc kĩ câu hỏi để xác định thời gian,không gian, nội dung lịch sử và yêu cầu của câu hỏi (trình bày, so sánh, giảithích, phân tích, đánh giá…)- Phân bố thời gian cho hợp lí. Hãy căn cứ vào điểm số của từng câu màtính thời gian. Trong thời gian 180 phút với 7 câu hỏi, thang điểm là 20, trungbình mỗi điểm trong câu hỏi tương ứng với 18 phút, nhưng trừ thời gian phântích đề và lập dàn ý, thời gian viết chỉ còn khoảng 15 phút/1 điểm.- Hết sức tập trung tư tưởng vào việc làm bài, không nên mất thời gianvào những việc không liên quan (ví dụ như: việc đi lại của các cán bộ coi thi,thanh tra, kiểm tra ở trong và ngoài phòng thi, việc làm biên bản đối với ngườiphạm quy…). Đừng quan tâm tới những thí sinh xung quanh mình đang làm bàinhư thế nào.- Có thể làm câu dễ trước, câu khó sau, nhưng hết sức tránh tình trạnglàm một số câu quá dài, quá kỹ, nhưng bỏ trống những câu còn lại.Trường THPT Chuyên Thái Bình63HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI- Trong trường hợp lãng quên một số chi tiết nhỏ nào đó, ví dụ như ngàytháng, địa điểm, tên nhân vật, số liệu cụ thể… thì có thể bỏ qua, hoặc để trốngmột số ký tự để khi nhớ ra sẽ điền vào sau. Tuyệt đối không suy nghĩ quá lâu,gây mất thời gian không cần thiết.- Nếu không thể “mở bài” và “kết luận” một cách nhanh chóng cho mỗicâu hỏi, thì có thể bỏ qua. Tuyệt đối không đầu tư nhiều thời gian suy nghĩ, cốtình làm cho bằng được.Bài thi là kết tụ nỗ lực phấn đấu của cả một quá trình học tập, rèn luyệnlâu dài, với khát vọng thành công, thành đạt. Để làm bài tốt, không chỉ cần kiếnthức, “thuộc lòng như sách giáo khoa”, mà còn cần có phương pháp và kỹ năngtốt. Ôn tập kiến thức kết hợp với rèn luyện phương pháp, kỹ năng làm bài làcông việc tối cần thiết để giúp thí sinh toại nguyện.Một số điểm đáng lưu ý: Một bài bài thi tốt là bài luôn phải đảm bảo haimặt nội dung và hình thức. Về nội dung, phải đảm bảo đúng và đủ: Đúng là sựchính xác về kiến thức, không nhầm lẫn các sự kiện, thời gian, không gian. Vềkỹ năng, đúng là làm theo yêu cầu của đề bài (trình bày, nhận xét, so sánh…);Đủ (không thừa, không sót kiến thức cơ bản). Đây là vấn đề có liên quan đếnviệc lựa chọn kiến thức, tránh qua loa, đại khái, nhưng cũng tránh đi vào chitiết, vụn vặt. Chỉ khi xác định chính xác yêu cầu của đề bài, thì mới có thể lựachọn đúng và đủ nội dung và kỹ năng cần sử dụng để làm bài. Về hình thức(cách thể hiện), thể hiện trước hết ở các ý được trình bày sao cho có trình tự hợplý, có trước, có sau, sử dụng câu, từ dễ hiểu, đúng ngữ pháp, chữ phải đủ nét,không viết hoa, viết tắt bừa bãi.4. Thiết lập các câu hỏi về giai đoạn lịch sử Việt Nam (1858 – 1918)Sau khi giảng dạy một giai đoạn lịch sử, một vấn đề chuyên sâu, giáo viên cầnbiên soạn các câu hỏi ôn tập giúp học sinh hệ thống hóa kiến thức cơ bản, rèn luyện kĩnăng phân tích đề và kĩ năng làm bài. Đồng thời kết hợp với tổ chức kiểm tra đánh giáhọc sinh dưới hình thức kiểm tra miệng và kiểm tra viết. Đối với ôn luyện học sinh giỏi,kiểm tra viết 180 phút theo cấu trúc dạng đề thi học sinh giỏi quốc gia là việc quantrọng và thường xuyên, qua đó sẽ giúp học sinh hình thành được kĩ năng làm bài thi.Sau đây là một số dạng câu hỏi tự luận để ôn tập cho học sinh giỏi khi giảng dạygiai đoạn lịch sử Việt Nam 1858 – 1918:I. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1858 – 1884)1. Nét nổi bật của tình hình thế giới giữa thế kỉ XIX và yêu cầu đặt ra củalịch sử Việt Nam lúc đó ra sao? Con đường nhà Nguyễn lựa chọn là gì? có đápTrường THPT Chuyên Thái Bình64HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIứng được yêu cầu lịch sử đặt ra hay không?2. Nguyên nhân thực dân Pháp xâm lược Việt Nam. Lập bảng niên biểu vềcác bước xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp.3. So sánh thái độ của nhân dân ta và của triều đình Huế trong cuộc đấutranh chống Pháp xâm lược (1858 – 1884).4. Có ý kiến cho rằng, việc Việt Nam bị Pháp xâm lược là tất yếu nhưngviệc bị mất nước lại không phải tất yếu. Bằng những sự kiện lịch sử có chọn lọcanh (chị) hãy chứng minh nhà Nguyễn đã biến cái không tất yếu thành tất yếu?Gợi ý- Khẳng định ý kiến trên là đúng: Việc mất nước là không tất yếu:+ Trong thực tế, có những quốc gia giành thắng lợi trong cuộc đương đầuvới sự xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây, giữ vững nền độc lập dântộc (Nhật Bản, Xiêm đã tiến hành cải cách về kinh tế, chính trị, xã hội để pháttriển đất nước và thực hiện chính sách ngoại giao mềm dẻo, Êtiôpia kháng chiếnchống xâm lược giành thắng lợi…).+ Thực tế trên chiến trường, nhiều lần quân dân ta có cơ hội đánh bại ý chíxâm lược của Pháp, đuổi chúng ra khỏi bờ cõi (đầu năm 1860, 1873)…..- Trách nhiệm mất nước thuộc về nhà Nguyễn:+ Trước họa xâm lăng triều đình nhà Nguyễn vẫn giữ chính sách bảo thủ,thậm chí phản động, không thực hiện cải cách duy tân để tăng cường tiềm lựccủa đất nước.+ Triều đình không có đường lối, phương pháp kháng chiến đúng đắn,thiên về “Thủ để hòa” tiến tới “chủ hòa” vô điều kiện.+ Đối với Pháp: triều đình có tư tưởng sợ Pháp, ảo tưởng thông qua việcthương thuyết để giữ nền độc lập.+ Đối với nhân dân: giữ thái độ thù địch, không dựa vào dân, không phátđộng cuộc chiến tranh nhân dân nên bỏ lỡ nhiều cơ hội đánh đuổi Pháp ra khỏibờ cõi.=> Họa mất nước có thể tránh được, tức là không tất yếu, nhưng với chínhsách của triều Nguyễn, mất nước trở thành tất yếu. Trách nhiệm này hoàn toànthuộc về nhà Nguyễn…..5. Trình bày và nhận xét phong trào chống Pháp xâm lược của nhân dânViệt Nam trong những năm 1858 – 1884?Gợi ý:- Trình bày phong trào chống Pháp xâm lược của nhân dân…Trường THPT Chuyên Thái Bình65HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI- Nhận xét: Trận tuyến của nhân dân chống xâm lược mang đặc điểm toàndân, toàn diện, dũng cảm, mưu trí, sáng tạo. Lúc đầu, nhân dân đã sát cánh cùngtriều đình chống Pháp nhưng khi triều đình từng bước thỏa hiệp với Pháp thìcuộc kháng chiến của nhân dân không còn lệ thuộc vào triều đình và quầnchúng nhân dân chuyển sang lên án triều đình phong kiến đầu hàng, kết hợp đấutranh chống thực dân xâm lược và chống phong kiến. Chính nhờ những cuộcđấu tranh của nhân dân, triều đình mới giành được thắng lợi ban đầu và khiếnthực dân Pháp mất 26 năm mới tạm thời áp đặt quyền bảo hộ đất nước ta – dàihơn bất cứ cuộc chiến xâm lược nào của chúng trước đó…6. Nguyên nhân thất bại, bài học kinh nghiêm được rút ra từ việc ViệtNam bị rơi vào tay thực dân Pháp.Gợi ý- Nguyên nhân thất bại:+ Khách quan: Do so sánh tương quan lực lượng có sự chênh lệch…..+Chủ quan: Nguyên nhân mất nước của chủ thể nhà Nguyễn là bảo thủ, trìtrệ, duy trì quan hệ sản xuất cũ, lạc hậu, chặn đứng mọi quan hệ sản xuất mới.Lúc không chiến tranh nhà Nguyễn không thức thời áp dung những biện phápcải tổ đất nước khiến thế nước ngày càng suy vi, không đủ sức đối phó với kẻxâm lược. Khi có biến, với tư cách là người lãnh đạo tổ chức cuộc kháng chiếnđã thiếu đường lối đúng đắn, không đưa được đường lối chiến lược phù hợp, lấytư tưởng chủ hòa là chính nên đã thất bại, chính sách đối nội và đối ngoại cónhiều sai lầm….- Bài học kinh nghiệm:+ Lực lượng nắm chính quyền phải đưa ra được chính sách về kinh tế chính trị – xã hội hợp lý, đúng đắn để chăm lo sức dân, tăng cường, củng cốquốc phòng, phát triển kinh tế, mở rộng và cố kết khối đại đoàn kết dân tộc.Nâng cao thế và lực của đất nước.+ Khi có nguy cơ xâm lược phải có đường lối kháng chiến đúng đắn, đó làsự kết hợp giữa nghệ thuật quân sự chống giặc ngoại xâm hàng nghìn năm củadân tộc phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể, để đối phó với từng kẻ thù cụ thể.+ Lực lượng nắm chính quyền phải luôn luôn có chính sách đúng đắn đểxây dựng, chăm lo lực lượng vũ trang, công cụ sức mạnh của một quốc gia đểcủng cố quân sự, quốc phòng.+ Phải có đường lối đối ngoại mở, không tự cô lập mình, mềm dẻo với kẻthù nhưng cũng phải kiên quyết giữ độc lập, thân thiện với các nước láng giềng.Trường THPT Chuyên Thái Bình66HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIII.Phong trào chống Pháp của nhân dân Việt Nam trong những năm cuốithế kỉ XIX1. Chiếu Cần Vương được ra đời như thế nào? Thái độ của quần chúngnhân dân, văn thân, sĩ phu đối với chiếu Cần Vương?Gợi ý:- Hoàn cảnh ra đời chiếu Cần Vương…..- Thái độ của quần chúng nhân dân, văn thân, sĩ phu đối với chiếu Cần Vương:+ Thái độ của các văn thân sĩ phu yêu nước:- Văn thân sĩ phu: họ là những tri thức, những người có học, những quanlại hay đã nghỉ hưu trong xã hội phong kiến Việt Nam. Họ bị chi phối bởi tưtưởng Nho giáo, tư tưởng “trung quân, ái quốc”. Đối với họ, yêu nước là phảitrung thành với nhà vua. Các tư tưởng Nho giáo đó đã chi phối toàn bộ nhữnghoạt động cống hiến của họ- Trước khi có chiếu: Từ khi Pháp xâm lược Việt Nam, họ luôn trăn trở,đứng trước sự lựa chọn giữa vua và nước khi triều đình nhà Nguyễn (đứng đầulà vua Tự Đức) nhu nhược đầu hàng giặc, không đứng về phía nhân dân, về phíadân tộc chống lại Pháp. Nếu theo lệnh vua mà bãi binh thì có tội với nước vàngược lại, nếu thể hiện tinh thần yêu nước, cầm vũ khí chống thực dân Pháp thìbất trung.Những cái chết của Phan Thanh Giản, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệuthể hiện nỗi trăn trở trong tư tưởng của họ. Chết mà không biết mình hoạt độngđúng hay sai.- Khi có chiếu Cần Vương: Năm 1885, khi có chiếu Cần Vương kêu gọicác văn thân chống Pháp cứu nước giúp vua đã đáp ứng được tư tưởng trungquân ái quốc của họ. Đến đây, nước và vua thống nhất là một. Chiếu CầnVương đã đáp ứng được nguyện vọng tha thiết của họ là trung với nhà vua, thểhiện lòng yêu nước.Chính vì vậy, ngay lập tức khi có chiếu ban ra, các văn thân sĩ phu chiêumộ quân sĩ, tiến hành khởi nghĩa. Nhiều người đã cáo quan, ở ẩn khi có chiếuCần Vương đã đứng ra tập hợp, chiêu mộ quân sĩ tiến hành khởi nghĩa như PhanĐình Phùng.+ Thái độ của quần chúng nhân dân:- Quần chúng nhân dân: Nhân dân là những người hiểu hơn ai hết giá trịcủa độc lập, tự do. Đối với họ chỉ có một tinh thần yêu quê hương đất nước =>Trường THPT Chuyên Thái Bình67HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIphong trào đấu tranh tự phát nổi dậy chống thực dân Pháp. Khi thực dân Phápxâm lược nước ta, thậm chí họ còn chống cả triều đình lẫn thực dân Pháp.- Trước khi có chiếu Cần Vương: Từ năm 1858 khi Pháp xâm lược ViệtNam đến 1884, thực dân Pháp tiến đến đâu cũng vấp phải sự kháng cự của đôngđảo quần chúng- Khi có chiếu Cần Vương: họ được các văn thân sĩ phu giáo dục, tuyêntruyền, tập hợp, lôi kéo họ đấu tranh. Do đó, họ hưởng ứng nhiệt tình hơn, hănghái hơn, chiến đấu sáng tạo hơn2. Phân tích ý nghĩa lịch sử của phong trào Cần Vương cuối thế kỉ XIX.Vì sao phong trào Cần Vương thất bại?3. Lập bảng hệ thống kiến thức về các cuộc khởi nghĩa lớn trong phongtrào Cần Vương theo các tiêu chí: tên khởi nghĩa, thời gian, người lãnh đạo, địabàn hoạt động, điểm nổi bật.4. Tóm tắt hai giai đoạn phát triển của cuộc khởi nghĩa Hương Khê(1885 – 1896)? Tại sao nói cuộc khởi nghĩa Hương Khê là đỉnh cao của phongtrào Cần Vương?Gợi ý:- Tóm tắt hai giai đoạn phát triển của cuộc khởi nghĩa Hương Khê (1885 –1896)- Khởi nghĩa Hương Khê là đỉnh cao của phong trào Cần Vương vì:+ Quy mô cuộc khởi nghĩa to lớn, tổ chức chặt chẽ, địa bàn hoạt độngrộng lớn, lực lượng tham gia đông đảo…+ Thời gian dài nhất 1885 – 1896….+ Phương thức hoạt động và kết quả: Linh hoạt, chủ động mở các cuộctấn công vào sào huyệt của kẻ thù, gây nhiều tổn thất cho thực dân Pháp…+ Mặc dù thất bại song vẫn là mốc đánh dấu sự kết thúc phong trào chốngPháp dưới ngọn cờ Cần Vương.5. Đặc điểm của phong trào Cần Vương.Gợi ý:- Lãnh đạo: chủ yểu là các sĩ phu, văn thân, chịu ảnh hưởng của tư tưởngtrung quân ái quốc.- Về mục tiêu: chống Pháp, giành độc lập, khôi phục lại trật tự phong kiến cũ.- Lực lượng tham gia: chủ yếu là văn thân, sĩ phu và nông dân.- Qui mô, phạm vi: rộng lớn từ cực nam Trung Bộ tới biên giới Việt Trungvới hàng 100 cuộc khởi nghiã lớn nhỏTrường THPT Chuyên Thái Bình68HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI- Tính chất: phong trào yêu nước chống Pháp theo ý thức hệ phong kiến.Tuy diễn ra dưới khẩu hiệu “Cần vương”, nhưng thực chất là phong trào chốngPháp với mục tiêu giành độc lập, đưa dân tộc thoát khỏi ách ngoại xâm. Yếu tốyêu nước là chính, Cần vương là phụ.- Ý nghĩa:…III. Phong trào yêu nước và cách mạng ở Việt Nam trong những năm đầuthế kỉ XX1. Trình bày các khuynh hướng chủ yếu trong phong trào yêu nước đầu thếkỉ XX.2.Cuộc vận động giải phóng dân tộc đầu thế kỉ XX có gì mới, khác vớiphong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỉ XIX?Gợi ý:- Khái quát về bối cảnh lịch sử của hai phong trào cứu nước cuối thế kỉXIX và đầu thế kỉ XX.- Điểm mới của phong trào đấu tranh đầu thế kỉ XX: theo khuynh hướngdân chủ tư sản; ngoài nông dân còn có nhiều tầng lớp xã hội tham gia…do sĩphu yêu nước tư sản hóa lãnh đạo chứ không phải do quan lại phái chủ chiếncủa triều đình Huế.- Điểm khác:Tiêu chíPhong trào yêu nướcPhong trào yêu nướccuối thế kỉ XIXđầu thế kỉ XXLãnh đạoVăn thân, sĩ phu yêu nướcCác sĩ phu yêu nước đangtrên con đường tư sản hóaMục tiêuChống Pháp, giành độc lập, Chống Pháp, giành độc lậpkhôi phục lại chế độ phong dân tộc và xây dựng xã hộikiếntiến bộ theo hướng TBCNLực lượng Văn thân, sĩ phu yêu nước, Văn thân, sĩ phu, nhà buôn,tham gianông dânhọc sinh, dân nghèo thành thị,nông dân, công nhânHình thức Bạo động vũ trangVừa bạo động, vừa cải cáchđấu tranhÝ nghĩaGây cho địch nhiều tổn thất, Là sự tiếp nối truyền thốngthể hiện tinh thần yêu nước của yêu nước, truyền bá tư tưởngnhân dân ta, làm chậm quá mới tiến bộ ở Việt Nam đầutrình bình định quân sự và thiết thế kỷ XXlập bộ máy thống trị của thựcdân PhápTrường THPT Chuyên Thái Bình69HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI3. So sánh những điểm giống và khác nhau giữa xu hướng bạo động và xuhướng cải cách đầu thế kỉ XX. Sự thất bại đó nói lên điều gì?Gợi ý:- Điểm giống:+ Xuất phát từ tinh thần yêu nước, vận động giải phóng dân tộc theokhuynh hướng tư sản+ Chưa gắn hai nhiêm vụ dân tộc chống thực dân Pháp và nhiệm vụ dânchủ chống phong kiến với nhau.+ Lực lượng tham gia: nhiều tầng… nhưng chưa xác định được nòng cốt làliên minh công-nông. Trong đó các văn thân sĩ phu tiến bộ giữ vai trò lãnh đạo.+ Kết quả: đều thất bại+ Ý nghĩa: đã dấy lên phong trào yêu nước theo khuynh hướng mới, cónhững đóng góp nổi bật về văn hoá, thức tỉnh lòng yêu nước của quần chúng nhândân, đánh dấu bước tiến mới của phong trào yêu nước và cách mạng Việt Nam.- Điểm khác:Tiêu chíXu hướng bạo độngXu hướng cải cáchKẻ thù trước- Là đế quốc Pháp- Là chế độ phong kiếnmắtNhiệm vụ, mục – Chống Pháp (nhấn mạnh vấn – Chống phong kiến (Nhấntiêu trước mắt đề giải phóng dân tộc, cứu mạnh cải cách dân chủ, cứunước để cứu dân)dân để cứu nước)Phương pháp- Bạo động vũ trang- Cải cáchđấu tranh- Bí mật, bất hợp pháp …- Công khai, hợp pháp…Đồng minh- Dựa Nhật và phong kiến- Dựa vào đế quốc Pháp.- Sự thất bại của các xu hướng này chứng tỏ:+ Sự bất lực của hệ tư tưởng tư sản trước yêu cầu giành độc lập dân tộc,chứng tỏ con đường giải phóng dân tộc dưới ngọn cờ tư sản không thành công…+ Sự nghiệp giải phóng dân tộc lâm vào khủng hoảng, như “trong đêmtối không có đường ra”. Đặt ra yêu cầu bức thiết phải tìm một con đườngcứu nước mới….4. Trình bày những hoạt động cứu nước của Phan Bội Châu (từ đầu thế kỉXX đến trước chiến tranh thế giới thứ nhất). Đánh giá mặt tích cực và hạn chếtrong chủ trương cứu nước của Phan Bội Châu.Trường THPT Chuyên Thái Bình70HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIGợi ý:- Trình bày những hoạt động cứu nước của Phan Bội Châu…- Đánh giá:+ Tích cực: xác định kẻ thù chính là thực dân Pháp, đề ra con đường cáchmạng mới và sử dụng đấu tranh vũ trang để giành độc lập…+ Hạn chế: Chưa hiểu rõ bản chất của đế quốc Nhật Bản, dựa vào Nhậtđánh Pháp. Chưa thấy rõ vai trò của quần chúng nhân dân lao động trong đấutranh cách mạng….5. Trình bày vắn tắt những hoạt động cứu nước của Phan Bội Châu vàPhan Châu Trinh những năm đầu thế kỉ XX. Theo em, hai chí sĩ họ Phan đã cónhững đóng góp gì cho phong trào dân tộc ở Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến hếtchiến tranh thế giới thứ nhất?Gợi ý:- Trình bày vắn tắt những hoạt động cứu nước của Phan Bội Châu và PhanChâu Trinh những năm đầu thế kỉ XX….- Những đóng góp của hai chí sĩ họ Phan cho phong trào dân tộc ở ViệtNam từ đầu thế kỉ XX đến hết chiến tranh thế giới thứ nhất:- Hai chí sĩ họ Phan là đại diện cho tầng lớp trí thức nho học trẻ có tưtưởng tiến bộ đầu thế kỉ XX, đã tiếp thu tư tưởng dân chủ tư sản và thử nghiệmmột con đường cứu nước mới mang tính cách mạng ở Việt Nam- Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh đã tổ chức một phong trào yêu nướcdưới nhiều hình thức khác nhau, kết hợp giữa kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.Nói cách khác là kết hợp giữa độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội và tạo ra nhữngchuyển biến sâu sắc trong phong trào dân tộc ở Việt Nam đầu thế kỉ XX.Riêng Phan Bội Châu có những đóng góp đặc biệt quan trọng, là người đềxuất và chủ trương tập hợp lực lượng cả dân tộc thành một khối để chống Pháp,cũng là người đầu tiên lập ra một tổ chức chính trị sơ khai ở nước ta (Duy Tânhội, Việt Nam quang phục hội), đề xuất việc lập một mặt trận dân tộc thốngnhất sơ khai gồm 10 tầng lớp, đồng bào và chuẩn bị bằng một lực lượng quânđội chính qui (Việt Nam quang phục quân).- Hai cụ Phan đã góp phần chuyển phong trào yêu nước theo lập trườngphong kiến sang yêu nước theo lập trường dân chủ tư sản và khơi dậy lòng yêunước của quần chúng nhân dân, tạo dựng những cơ sở cho phong trào dân tộctiếp tục phát triển từ những năm 20 trở về sau.Trường THPT Chuyên Thái Bình71HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI6. Khái quát những hoạt động chủ yếu và những đóng góp tiêu biểu củaĐông Kinh Nghĩa Thục trong phong trào yêu nước Việt Nam đầu thế kỉ XX?7. Trình bày sự khác nhau về điều kiện lịch sử và khuynh hướng chủ yếutrong phong trào yêu nước Việt Nam cuối thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX.IV. Trào lưu cải cách, duy tân ở Việt Nam cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX1. Vì sao vào nửa sau thế kỷ XIX, các sĩ phu yêu nước tiến bộ đã đưa ranhững đề nghị cải cách duy tân? Nội dung cơ bản, ý nghĩa của các đề nghị cảicách này là gì? Tại sao các đề nghị cải cách đó lại không được thực hiện?Gợi ý:- Nửa sau thế kỷ XIX, các sĩ phu yêu nước tiến bộ đã đưa ra những đề nghịcải cách duy tân….- Nội dung cơ bản….- ý nghĩa của các đề nghị cải cách….- Những đề nghị cải cách không được thực hiện bởi những nguyên nhân sau:- Những đề nghị cải cách ra đời trong điều kiện đất nước khủng hoảng vềkinh tế; chính trị, xã hội không ổn định, chiến tranh đã nổ ra, nhân tài vật lựckiệt quệ (yếu tố thiên thời thiếu), cản trở công cuộc duy tân.- Sự tồn tại của ý thức hệ phong kiến quá lâu, quá sâu, khó có thể thay đổitrong một sớm, một chiều.- Thái độ bảo thủ, cố chấp của triều đình (từ vua đến quan)- Những đề nghị cải cách không thể đi sâu vào quần chúng nhân dân, chưađược quần chúng tham gia đông đảo.- Bản thân các đề nghị cải cách còn có những hạn chế, không xuất phát từtình hình thực tế của đất nước, nặng về học tập mô hình do quan sát được từnước ngoài…2. So sánh cuộc vận động duy tân cuối thế kỉ XIX và phong trào duy tânđầu thế kỉ XX ở Việt Nam?Gợi ý:Tiêu chíTrào lưu cải cách, duy tânTrào lưu cải cách, duy tâncuối thế kỉ XIXđầu thế kỉ XXHoàn – Thế giới: trào lưu dân chủ tư sản – Cải cách duy tân được thựccảnh phát triển sâu rộng, yêu cầu cải hiện ở một số nước, đạt nhữnglịch sử cách, duy tân được đặt ra ở một số kết quả nhất định (Nhật Bản,nước trong khu vực.Xiêm), trở thành sự cứu cánhcho nền độc lập dân tộc.Trường THPT Chuyên Thái Bình72HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI- Trong nước: chế độ phong kiếnkhủng hoảng, suy vong, đặt ra yêucầu cần phải chấn chỉnh lại chínhtrị – kinh tế – quân sự….để đủ sứcđối phó với sự xâm lược của tư bảnnước ngoài.Người Các sĩ phu, văn thân yêu nước có tưđề xuất tưởng tiến bộ: Nguyễn Trường Tộ,Nguyễn Lộ Trạch, Bùi Viện, ĐinhVăn Điền, Phạm Phú Thứ…Cải cách đất nước trong khuôn khổMụcchế độ phong kiến, tạo thế và lựctiêuđối phó với cuộc xâm lược của tưbản phương Tây.Muốn đất nước đi theo con đườngNộidung của Nhật Bản, thay đổi thái độ đốivới kĩ nghệ phương Tây, mở cửađất nước để thông thương với bênngoài, cải tổ kinh tế, quân sự, giáodục… theo lối mới- Xã hội đang có những thay đổido tác động của cuộc khai thácthuộc địa lần thứ I của thực dânPháp và tư tưởng dân chủ tư sảntừ phương Tây xâm nhập vàoViệt Nam qua “Tân thư”, “Tânvăn”…Các sĩ phu Nho học trẻ đangtrong quá trình tư sản hóa: PhanChâu Trinh, Lương Văn Can,Huỳnh Thúc Kháng…Kết hợp mục tiêu độc lập dântộc với tiến bộ xã hội, đoạt tuyệtphong kiến, tự lực khai hóa đểtiến tới độc lập dân tộc.Đoạn tuyệt với chế độ phongkiến, đưa đất nước tiến lên theocon đường TBCN; mở mangkinh tế công – thương nghiệp…;mở trường dạy học theo lốimới…Gửi điều trần, đề xuất sáng kiến,mong nhà nước quan tâm thựchiện…Kết quả – Hầu hết các đề nghị cải cách đềuÝ nghĩa không được thực hiện, cơ hội duytân đã bị bỏ qua.- Những đề nghị cải cách duy tânphù hợp với thời đại, góp phần làmrạn nứt thành trì của ý thức hệphong kiến, chuẩn bị cho sự ra đờicủa trào lưu duy tân rộng khắp ởđầu thế kỉ XX.Chủ trương “tự lực khai hóa”…;yêu cầu nhà cầm quyền thay đổicách thức cai trị…- Góp phần làm thay đổi ý thứcquần chúng từ yêu nước trên lậptrường phong kiến sang yêunước trên lập trường dân chủ tưsản, mở ra một hướng đi mớitrong cuộc vận động giải phóngdân tộc.- Tạo nền tảng chính trị, kinh tế- xã hội để phong trào dân tộcViệt Nam có điều kiện tiếp tụcphát triển ở giai đoạn sau.ThựchiệnTrường THPT Chuyên Thái Bình73HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIV. Sự khởi đầu của một khuynh hướng cứu nước mới trong phong trào giảiphóng dân tộc Việt Nam.1. Phân tích nguyên nhân ra đi tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành.Gợi ý:- Đất nước bị xâm lược, giải phóng dân tộc là yêu cầu cấp thiết+ Dưới ách thống trị của thực dân Pháp, các tầng lớp, giai cấp trong xã hộiViệt Nam không chỉ bị bóc lột về kinh tế, mà còn phải chịu nỗi nhục mất nước.Độc lập tự do là khát vọng của cả dân tộc Việt Nam.+ Mâu thuẫn trong xã hội Việt Nam ngày càng sâu sắc, trong đó chủ yếu làmâu thuẫn dân tộc Việt Nam. Nhiệm vụ cứu nước được đặt ra vô cùng cấp thiết.- Sự khủng hoảng về đường lối đặt ra yêu cầu phải tìm con đường cứunước mới+ Cuối thế kỉ XIX, các cuộc khởi nghĩa vũ trang chống Pháp đều bị đànáp, con đường giải phóng dân tộc dưới ngọn cờ phong kiến đã bị thất bại.+ Đầu thế kỉ XX, các sĩ phu yêu nước tiếp thu trào lưu tư tưởng mới, tiếnhành cuộc vận động cứu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản…, nhưng cũngkhông thành công. Sự nghiệp giải phóng dân tộc lâm vào tình trạng khủnghoảng sâu sắc về đường lối….- Nguyễn Tất Thành sớm có chí “đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào”+ Tiếp thu truyền thống yêu nước của gia đình và quê hương,Nguyễn Tất Thành sớm có chí đánh đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào.Người rất khâm phục tinh thần yêu nước của các bậc tiền bối, nhưng không tánthành con đường của họ, nên quyết định tìm con đường cứu nước mới.+ Được tiếp xúc với văn minh Pháp, Nguyễn Tất Thành quyết định sangphương Tây để tìm hiểu xem nước Pháp và các nước khác làm thế nào, rồi trởvề giúp đồng bào, giải phóng dân tộc.2. Nêu những hoạt động chính của Người từ năm 1911 đến 1918 và ýnghĩa của những hoạt động đó.3.Con đường đi tìm chân lý của Nguyễn Aí Quốc có gì độc đáo khác vớicon đường truyền thống của lớp người trước.Gợi ý:+ Hướng đi: các bậc tiền bối đã chọn con đường đi sang Phương Đông(Nhật Bản, Trung Quốc) nhưng Nguyễn Tất Thành chọn con đường đi sangphương Tây …Trường THPT Chuyên Thái Bình74HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI+ Xác định kẻ thù : Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh chưa phân biệt rõbạn thù của cách mạng Việt Nam… Ngược lại, Nguyễn Tất Thành đã vượt quatư tưởng yêu nước của các sĩ phu đương thời, phân biệt rõ bạn của cách mạnglà nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới…..+ Xác định nhiệm vụ, mục tiêu cách mạng: Phan Bội Châu, Phan ChuTrinh chưa biết gắn nhiệm vụ với mục tiêu cách mạng, Nguyễn Aí Quốc xác địnhcách mạng tư sản dân quyền làm nhiệm vụ chống đế quốc, phong kiến và tư sảnphản cách mạng để giành lại độc lập cho dân tộc và ruộng đất cho dân cày…+ Tư tưởng tiếp thu: 2 cụ Phan tiếp thu tư tưởng dân chủ tư sản đã lỗithời và phản động trên thế giới. Ngược lại, Nguyễn Aí Quốc bắt gặp chân lý cứunước là tư tưởng Mác –LêNin và xác định khuynh hướng cứu nước theo conđường cách mạng vô sản.+ Phương pháp cách mạng: Phan Bội Châu chủ trương đấu tranh bằngcon đường bạo động và nặng nề ám sát cá nhân manh động. Còn Phan ChâuTrinh với phương pháp cải cách ôn hòa, bất bạo động. Nguyễn Aí Quốc giácngộ quần chúng đoàn kết đấu tranh giành độc lập, kết hợp đấu tranh chính trịvới đấu tranh vũ trang…+ Lực lượng cách mạng: Hai cụ Phan chưa đoàn kết được lực lượng củatoàn dân tộc làm cách mạng. Ngược lại Nguyễn Aí Quốc chủ trương đoàn kếtlực lượng của toàn dân tộc chống đế quốc và phong kiến+ Đoàn kết quốc tế: các bậc tiền bối có đi tìm bạn đồng minh nhưng chưaai tìm đúng bạn Phan Bội Châu mượn đế quốc đánh đế quốc, Phan Châu Trinh ỷPháp cầu tiến bộ còn Nguyễn Aí Quốc đã khẳng định cách mạng Việt Nam làmột bộ phận khăng khít của cách mạng thế giới đoàn kết với giai cấp vô sản,các dân tộc bị áp bức để làm cách mạng.C. KẾT LUẬNTừ thực tế giảng dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi quốc gia khi giảng dạygiai đoạn lịch sử Việt Nam từ 1858 – 1918, chúng tôi đã lựa chọn các vấn đềdạy và phương pháp ôn tập như trên. Tuy nhiên đây chỉ là một số kinh nghiệmmang tính chủ quan của chúng tôi. Vì vậy rất mong nhận được sự góp ý, bổsung của các bạn đồng nghiệp để chuyên đề được hoàn thiện hơn.Trường THPT Chuyên Thái Bình75HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIChuyên đề xếp loại A:ÔN TẬP LỊCH SỬ VIỆT NAM 1858 – 1884 VỚI BẢNG HỆ THỐNGKIẾN THỨC VÀ HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI MỘT SỐ CÂU HỎI CƠ BẢNTác giả: Nguyễn Thị NgaĐơn vị: Trường THPT chuyên Nguyễn Trãi – Hải DươngA. PHẦN MỞ ĐẦU1. Lý do chọn đề tàiKhoa học lịch sử có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc giáo dục trithức, truyền thống đạo đức và hình thành nhân cách cho con người. Thời cổ đại,lịch sử được coi là “cô giáo của cuộc sống”; hiện nay, ở nhiều nước phươngTây, lịch sử là một môn khoa học bắt buộc…Ở Việt Nam, môn lịch sử chưa được đặt đúng vị trí xứng đáng với tầmquan trọng của nó, ngược lại bị coi là môn phụ, thậm chí bị “thành kiến”; họcsinh “sợ sử”, “ghét sử”… Ngoài nguyên nhân do đặc trưng bộ môn (khối lượngkiến thức lớn, nhiều sự kiện, khó nhớ, khó thuộc), do tâm lý chung của xã hội…còn có nguyên nhân quan trọng khác là do cách dạy và học sử. Nhiều năm nay,phương pháp dạy và học lịch sử đã trở thành đề tài tốn không ít giấy mực, dưluận xã hội đặc biệt quan tâm, song sự chuyển biến có lẽ chưa nhiều. Là mộtgiáo viên dạy sử, lại là giáo viên trường chuyên – giống như nhiều đồng nghiệpdạy bộ môn này tại các trường chuyên khác, tôi luôn trăn trở, kiếm tìm phươngpháp để giúp học sinh tiếp cận, lĩnh hội kiến thức đơn giản nhất, hiệu quả nhất,đạt kết quả tốt nhất trong các kì thi. Từ nhiều năm nay, tôi rất tâm đắc vớiphương pháp hệ thống hóa kiến thức, kết hợp với hướng dẫn trả lời các câu hỏicơ bản để ôn tập cho học sinh vì nó giúp người học có thể nắm được khối lượngkiến thức lớn, hiểu sâu, nhớ lâu, rèn kĩ năng tổng hợp, khái quát… và khả năngvận dụng thực hành các dạng đề thi học sinh giỏi rất cao.Trong cấu trúc chương trình thi học sinh giỏi Quốc gia, có một mảng kiếnthức quan trọng song không dễ tiếp cận – đó là giai đoạn lịch sử Việt Nam 1858– 1918 (ở một số địa phương, đây cũng là nội dung chính trong cấu trúc đề thichọn học sinh giỏi tỉnh khối 12). Giai đoạn này trong sách giáo khoa lịch sửđược cấu trúc thành các vấn đề: cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược củanhân dân Việt Nam (1858 – 1884), phong trào yêu nước chống Pháp cuối thế kỉXIX, phong trào yêu nước chống Pháp đầu thế kỉ XX, phong trào yêu nước ViệtTrường THPT Chuyên Thái Bình76HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VINam trong chiến tranh thế giới thứ nhất. Trong đó, khó tiếp cận nhất có lẽ làcuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược của nhân dân Việt Nam (1858 – 1884),vì đó là lịch sử chiến tranh với khối lượng kiến thức phong phú, phức tạp, nhiềusự kiện; sách giáo khoa chia thành 2 bài, cấu trúc theo tiến trình thời gian songcấu trúc đề thi thường bổ dọc, mang tính khái quát, khiến học sinh gặp không ítkhó khăn khi ôn tập… Vì thế đòi hỏi giáo viên phải đầu tư, tìm tòi cách thức tốtnhất nhưng phải đơn giản nhất để học sinh dễ học, dễ nhớ và vận dụng làm bàitập hiệu quả nhất. Sử dụng bảng hệ thống để hệ thống hóa kiến thức, trên cơ sởđó củng cố kiến thức cho học sinh với các câu hỏi trọng tâm là một phươngpháp tối ưu.Trong nhiều năm qua, tôi đã áp dụng phương pháp hệ thống hóa kiếnthức để giúp học sinh ôn tập giai đoạn lịch sử Việt Nam “khó nhằn” này. Thựctế cho thấy, học sinh nắm kiến thức chắc, vận dụng giải quyết các câu hỏi bàitập có liên quan rất linh hoạt, đạt điểm cao, qua đó rèn kĩ năng sử dụng bảng hệthống hóa kiến thức để ôn tập các nội dung lịch sử có khối lượng lớn tương tự…Do đó, trong Hội thảo các trường chuyên vùng duyên hải Bắc Bộ năm2013, tôi lựa chọn vấn đề Góp phần hướng dẫn học sinh lĩnh hội kiến thức lịchsử Việt Nam 1858 – 1884 với phương pháp hệ thống hóa kiến thức để tham giaHội thảo.1. Mục đích của đề tài- Góp phần giúp học sinh củng cố chắc kiến thức lịch sử Việt Nam giaiđoạn 1858 – 1884, giải quyết tốt các vấn đề, câu hỏi liên quan đồng thời tạo cơsở nền tảng để tiếp cận với kiến thức lịch sử Việt Nam giai đoạn sau.- Giúp các em rèn kĩ năng học và làm bài thi môn lịch sử (kĩ năng lậpbảng niên biểu, kĩ năng phân tích, kĩ năng tổng hợp…).- Chia sẻ một kinh nghiệm nhỏ, hi vọng sẽ hữu ích cho các thầy cô trongquá trình giảng dạy và hướng dẫn học sinh ôn tập kiến thức lịch sử Việt Namgiai đoạn 1858 – 1884.Trường THPT Chuyên Thái Bình77HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIA. NỘI DUNG1. Khái quát về lập bảng hệ thống kiến thức lịch sử và câu hỏi ôn tậpa. Lập bảng hệ thống kiến thứcBảng hệ thống kiến thức lịch sử còn được gọi là bảng niên biểu. Thựcchất đó là bảng hệ thống kiến thức theo thứ tự thời gian, hoặc nêu các mối liênhệ giữa các sự kiện cơ bản của một nước hay nhiều nước trong một thời kì. Hệthống kiến thức bằng bảng niên biểu giúp học sinh nắm chắc kiến thức cơ bản,tạo điều kiện cho tư duy lôgíc, liên hệ tìm ra bản chất của sự kiện, nội dung lịchsử. Trên cơ sở đó vận dụng làm các bài tập đòi hỏi kĩ năng thực hành hoặc yêucầu tổng hợp kiến thức.* Các loại niên biểu hệ thống hoá kiến thứcNiên biểu được tạm chia thành 3 loại chính- Niên biểu tổng hợp: bảng liệt kê những sự kiện lớn xảy ra trong thờigian dài. Loại niên biểu này giúp học sinh không chỉ ghi nhớ những sự kiệnchính mà còn nắm được các mốc thời gian đánh dấu mối quan hệ của các sựkiện quan trọng. Ví dụ: niên biểu những sự kiện chính trong tiến trình thực dânPháp xâm lược Việt Nam 1858 – 1884…- Niên biểu chuyên đề: đi sâu trình bày nội dung một vấn đề quan trọngnổi bật nào đó của một thời kì lịch sử nhất định nhờ đó mà học sinh hiểu đượcbản chất sự kiện một cách toàn diện, đầy đủ. Ví dụ: niên biểu các bước xâmlược Việt Nam của thực dân Pháp (1858 – 1884)- Niên biểu so sánh dùng để đối chiếu, so sánh các sự kiện xảy ra cùngmột lúc trong lịch sử, hoặc ở thời gian khác nhau nhưng có những điểm tươngđồng, dị biệt nhằm làm nổi bật bản chất, đặc trưng của các sự kiện ấy, hoặc đểrút ra một kết luận khái quát. Bảng so sánh là một dạng của niên biểu so sánhnhưng có thể dùng số liệu và cả tài liệu sự kiện chi tiết để làm rõ bản chất, đặctrưng của các sự kiện cùng loại hoặc khác loại.* Cách thức lập bảng niên biểu hệ thống hoá kiến thứcCó thể tiến hành việc lập bảng theo các bước sau.- Trước hết, giáo viên hướng dẫn học sinh tìm những vấn đề, những nộidung có thể hệ thống hoá bằng cách lập bảng. Đó là các sự kiện theo trình tựthời gian, các lĩnh vực … Tuy nhiên chỉ nên chọn những vấn đề tiêu biểu giúpviệc nắm kiến thức tốt nhất, đơn giản nhất, không nên đưa ra quá nhiều các loạibảng làm việc hệ thống kiến thức trở nên rối.Trường THPT Chuyên Thái Bình78HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI- Thứ hai, giúp học sinh thiết kế hình thức lập bảng với các tiêu chí phù hợp.+ Với bảng niên biểu sự kiện: có thể lập theo các tiêu chí thời gian, sựkiện, kết quả- ý nghĩa…+ Với bảng niên biểu tổng hợp: tùy vấn đề mà xác định tiêu chí phù hợp.Trỏng ví dụ trên, đề yêu cầu lập bảng niên biểu các bước xâm lược Việt Namcủa thực dân Pháp 1858 – 1884, có thể thiết kế bảng như sau:STT Giai đoạnTiến trình xâm lược+ Niên biểu so sánh: Nếu là bảng so sánh 2 phong trào có thể lập với cáctiêu chí hoàn cảnh, nhiệm vụ-mục tiêu, lãnh đạo, động lực, kết quả, xu hướngphát triển…; so sánh các chiến dịch có thể dựa vào hoàn cảnh, diễn biến, kếtquả, ý nghĩa- Thứ ba, lựa chọn kiến thức đưa vào bảng, đảm bảo các yêu cầu cơ bản,chính xác, ngắn gọn. Có rất nhiều sự kiện, vì vậy phải biết chọn lọc những gì cơbản nhất, sử dụng từ ngữ chính xác, cô đọng nhất, mang tính khái quát caonhưng vẫn phải đảm bảo đầy đủ. Không nên ôm đồm kiến thức khiến bảng hệthống trở nên nặng nề, khó theo dõi nội dung và lôgíc vấn đề.b. Câu hỏi ôn tậpTùy theo mục đích, yêu cầu của bài học mà giáo viên đưa hệ thống câuhỏi ôn tập, tuy nhiên phải đảm bảo các yêu cầu sau:- Lựa chọn số lượng câu hỏi phù hợp. Không nên đưa ra quá nhiều câuhỏi khiến học sinh khó nắm bắt, hoang mang, ngại học.- Câu hỏi phải cơ bản, trọng tâm, phù hợp với khả năng nhận thức củahọc sinh và mang tính ứng dụng cao. Từ các câu hỏi cơ bản này, học sinh có thể vậndụng trả lời các câu hỏi có nội dung tương tự, nhưng thay đổi cách đặt vấn đề …- Cuối cùng, sau khi học sinh nắm chắc kiến thức, trên cơ sở câu hỏi cơbản giáo viên có thể sưu tầm hoặc thiết kế đa dạng hóa các dạng đề cho học sinhva chạm, rèn kĩ năng làm bài.2. Hướng dẫn học sinh lập bảng hệ thống hóa kiến thức và củng cố kiếnthức qua trả lời một số câu hỏi cơ bản về lịch sử Việt Nam 1858 – 1884.2.1. Hướng dẫn học sinh lập bảng hệ thống kiến thức lịch sử Việt Nam1858 – 1884* Trước hết, giáo viên xác định cho học sinh nội dung trọng tâm cần lậpbảng hệ thống trong giai đoạn lịch sử Việt Nam 1858 – 1884:- Quá trình xâm lược Việt Nam của Pháp.Trường THPT Chuyên Thái Bình79HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI- Cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta.- Thái độ của triều đình trong cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược- Nguyên nhân khiến Việt Nam mất nước vào tay Pháp. Từ đó đánh giá tráchnhiệm của nhà Nguyễn trong việc để mất nước vào tay thực dân Pháp.* Tiếp đó, giáo viên hướng dẫn các em thiết kế hình thức bảng niên biểuVới các nội dung trên, chỉ cần một bảng hệ thống kiến thức là đủ, vớidạng niên biểu tổng hợp. Cụ thể, giáo viên hướng dẫn các em lập bảng theomẫu sau:Mặt trận Tiến trình xâmThái độ củaCuộc kháng chiếnKết quảlược của Pháptriều đìnhcủa nhân dân* Cuối cùng, giáo viên hướng dẫn học sinh lựa chọn kiến thức để đưa vào bảngGiáo viên có thể lựa chọn các hình thức hoạt động nhóm, hoặc cá nhân,tiến hành trên lớp hoặc làm bài tập về nhà. Giáo viên thu kết quả làm việc, kiểmtra, nhận xét và bổ sung, hoàn thiện. Bảng hệ thống chuẩn sẽ được giáo viên(hoặc học sinh) tự đánh máy, lưu làm tài liệu học tập.Bảng hệ thống kiến thức lịch sử Việt Nam 1858 – 1884Mặt Tiến trình xâm lược Thái độ củaCuộc khángKết quảtrậncủa Pháptriều đìnhchiến của nhândânĐà- 31-8-1858: liên – Cử Nguyễn – Nhân dân Đà – Địch bị cầmNẵng quân Pháp – Tây Tri Phương lập Nẵng sát cánh chân suốt 51858 Ban Nha dàn trận phòngtuyến cùng quân triều tháng trên bántrước cửa biển Đà Liên Trì chặn đình chống Pháp; đảo Sơn Trà.Nẵng.giặcthực hiện vườn – Âm mưu- 1-9-1858: Pháp- – Quân đội không nhà trống đánhnhanhTBN tấn công Đà triều đình tổ gây cho Pháp thắngnhanhNẵng, đổ bộ lên bán chức lực lượng nhiều khó khăn của Pháp bướcđảo Sơn Trà, chính đánh trả.…đầu thất bạithức xâm lược Việt- Khí thế khángNam.chiến sục sôitrong cả nước…Trường THPT Chuyên Thái Bình80HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIGiaĐịnh185918602-1859:Phápchuyển hướng tấncông Gia Định- 17-2-1859: nổ súngđánh thành GiaĐịnh.- Quân triềuđình tổ chứclực lượng đánhtrảnhưngnhanh chóngtan rã- Năm 1860: Pháp salầy ở chiến trườngTrung Quốc vàItalia, lực lượng ởGia Định rất mỏng- Cử NguyễnTri Phương lậpphòngtuyếnChí Hòa chặngiặc,giammình trong thếphòng ngự.- Nội bộ xuấthiện tư tưởngchủ hoà.Miền – 2-1861: Pháp tấn – Quân triềuĐông công Đại đồn Chí đình kháng cựNam Hòaquyết liệt. ĐạiKìđồn thất thủ,1861quân triều đình1862rút chạy.- Từ 4-1861 -> 31862: thừa thắngchiếm Định Tường,Biên Hòa, VĩnhLong- Các đội dânbinh kháng chiếnchủ động, dũngcảm (chặn đánh,bám sát, quấy rốivà tiêu diệt địch),khiến địch phảirút xuống các tàuchiến.- Chủ động tấn – Pháp khôngcông địch (đồn mở rộng đánhChợ Rẫy, 7-1860) chiếmđượcGia Định, ởvào thế tiếnthoáilưỡngnan.- Các toán nghĩaquân hoạt độngmạnh, lập nhiềuchiếncông(TrươngĐịnh,TrầnThiệnChính, Lê Huy,NguyễnTrungTrực)…- Triều đình kí – Phong tràoHiệpước kháng chiến củaNhâm Tuất (5- nhân dân dângcao khiến Pháp6-1862)lúng túng.Trường THPT Chuyên Thái Bình81- Kế hoạchđánhnhanhthắng nhanhthất bại, Phápphảichuyểnsang kế hoạchchinhphụctừng gói nhỏ.- Pháp chiếmđược 3 tỉnhmiềnĐôngNam KìHỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIMiềnĐôngNamKìsauhiệpước1862Pháp dừng các cuộc – Ra lệnh giảithôn tính để bình tán nghĩa binhđịnh 3 tỉnh miền chống PhápĐông- Lấy cớ triều đình viphạm hiệp ước 1862,Pháp yêu cầu triềuđình giao nốt 3 tỉnhmiền Tây.- 20/6/1867 Phápdàn trận trước thànhVĩnh Long, ép PhanThanh Giản nộpthành.- Từ ngày 20->24/6/1867:Phápchiếm 3 tỉnh miềnTây …1867- Củng cố, biến Nam1873 Kì thành bàn đạpvững chắc để tấncông Trung Kì vàBắc Kì.MiềnTâyNamKì1867- Lúng túngbạc nhược.- Kinh lược sứPhanThanhGiản và quanquân 3 tỉnh hạvũ khí nộpthành- Không nghĩđến chiến đấugiành lại cácvùng đất đã mất- Tiếp tục thihành chính sáchđối nội, đốingoạithiểncận.Trường THPT Chuyên Thái Bình82- Nhân dân bấtchấp lệnh bãibinh của triềuđình, kiên quyếtđánh Pháp dướinhiều hình thức(vũ trang, tị địa,văn thơ,…)- Tiêu biểu làhoạt động củanghĩaquânTrương Định- Tiếp tục khángchiến với phongtrào “tị địa”, đấutranh vũ tranggây cho Phápnhiều thiệt hại(Phan Tôn, PhanLiêm,NguyễnTrungTrực,NguyễnHữuHuân…)- Pháp gặp khókhăn khi bìnhđịnhmiềnĐông;tuynhiên vẫn tổchức bộ máycai trị làm bànđạp để chuẩnbị mở rộngđánh miền TâyCuộckhángchiến của nhândân thất bại.Pháp chiếm 3tỉnh miền Tây.HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI- Sau khi chiếm NamKì, Pháp ráo riếtchuẩn bị đánh BắcKì…Chớp cơ hộitriều Nguyễn nhờgiải quyết vụ Đuypuy, Pháp đem quânra Bắc- 5-11-1873 Gác-ni-êtới HN, giở trò khiêukhích…- 19-11-1873 Gácni-ê gửi tối hậu thưđòi Nguyễn TriPhương nộp thành.20-11-1873:Phápchiếm thành Hà Nội.- Từ 23-11-> 12-121873 Pháp chiếmcác tỉnh đồng bằngBắc Kì…Bắc- Lấy cớ triềuKìNguyễn vi phạm1882- điều ước 1874, Pháp83đưa quân ra Bắc.- 3 – 4 – 1882, Riviechỉ huy quân đổ bộlên Hà Nội.- 25– 4 – 1882: Phápgửi tối hậu thư yêucầu nộp thành. Chưahết thời hạn, Phápchiếm thành.- Lợi dụng triều đìnhhoang mang, mấtcảnh giác, Phápchiếm Hòn Gai,Quảng Yên, NamĐịnh (3-1883)BắcKì187374- Quân độitriều đình doNguyễnTriPhương, viênchưởng cơ chỉhuy chiến đấudũngcảm,nhưng nhanhchóng tan rã.- Triều đìnhlúng túng kíHiệp ước GiápTuất 1874, cắt6 tỉnh Nam Kìcho Pháp- Quân dân HàNội và các tỉnhBắc Kì kháng cựquyết liệt…Trậnđánh tiêu biểu:trận Cầu Giấy(21-12-1873)- Quân độitriều đình doHoàngDiệuchỉ huy anhdũng chiến đấunhưng thất bại.- Triều đìnhnuôi ảo tưởngthương thuyếtthu hồi Hà Nội,hạ lệnh rútquân và giảitán đội quânđịa phương- Nhân dân BắcKì cản giặc bằngnhiều hình thứcsáng tạo (ràolàng, đắp luỹ; bấthợp tác..)- Thành Hà Nộithất thủ, nhiều sĩphu văn thân tiếptục kháng chiến,nhiều đội nghĩadũng chống Phápđược thành lập…19-5-1883:chiến thắng CầuGiấy lần hai.Trường THPT Chuyên Thái Bình83- Pháp xác lậpchủ quyền vớilục tỉnh NamKì- Pháp rút khỏiBắc Kì, nhưngvẫn đặt đượccơ sở cho việc- Phong trào đấu xâm lược sautranh chống Pháp này.và phong kiếnđầu hàng dângcao (tiêu biểu làkhởi nghĩa TrầnTấn, Đặng NhưMai… ở NghệAn, Hà Tĩnh)- Pháp chiếmthành Hà Nộivà các tỉnhthànhđồngbằng Bắc kìlần thứ hai.- Thái độ củatriềuđìnhkhiến Pháp hạquyết tâm đánhHuế, kết thúcchiến tranh.HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIHuế – Lợi dụng vua Tự1883- Đức mất, triều đình1884 bối rối, Pháp quyếtđịnh đánh Huế- 18/8/1883: Pháptấn công Thuận An > 20/8/1883 làmchủ Thuận An.- Từ 12-1883: Pháptiêu diệt các ổ đềkháng còn lại ở BắcKì- Quân độitriều đình doLêSĩ,LêChuẩn … chỉhuy anh dũngchống trả songthất bại- Triều đìnhxin đình chiến,kí Hiệp ướcHácmăng(25/8/1883) vàPatơnốt (6-61884) ; giải tánphongtràokhángchiếncủa nhân dânNhân dân Bắc Kìvẫn quyết liệtchốngPháp,nhiều trung tâmkháng chiến tiếptục hình thành,gây cho Phápnhiều thiệt hại(hoạt động củanghĩaquânNguyễnThiệnThuật, Tạ Hiện,HoàngĐìnhKinh…)- Nhà Nguyễnđầu hàng hoàntoàn.Pháphoàn thành xáclập nền bảo hộtrên toàn bộđất nước ta.2.2. Hướng dẫn trả lời một số câu hỏi cơ bảnTrên cơ sở bảng hệ thống kiến thức, giáo viên đưa một số câu hỏi trọngtâm và hướng dẫn các em vận dụng bảng thống kê, “nhặt” kiến thức cần thiếtđể hoàn thành.1* Lựa chọn hệ thống câu hỏiTrên cơ sở chọn lọc, tôi đã cân nhắc đưa ra một số câu hỏi cơ bản và hướngdẫn cho các em trả lời như sau:1. Khái quát tiến trình xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp / Lập bảngniên biểu các bước xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp (1858 –1884)? Vì sao quá trình đó kéo dài gần 30 năm?2. Lập bảng về thái độ của triều đình và nhân dân trong cuộc kháng chiếnchống Pháp xâm lược. Từ đó rút ra nhận xét?3. Phân tích những nguyên nhân đưa đến việc mất nước cuối thế kỉ XIX? Từđó đánh giá trách nhiệm của nhà Nguyễn trong việc để mất nước vào taythực dân Pháp?Giáo viên có thể cho học sinh về nhà làm trước, hoặc trao đổi thảo luậntheo nhóm để tìm đáp án chung.Trường THPT Chuyên Thái Bình84HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI* Hướng dẫn trả lời:Trước khi hướng dẫn trả lời, giáo viên gọi đại diện học sinh trình bàyphần chuẩn bị, học sinh khác / nhóm khác nhận xét, bổ dung. Tiếp đó, giáo viênsử dụng phương pháp đàm thoại, trao đổi, gợi mở giúp học sinh tự phát hiện vấnđề, hoàn thiện bài tập.1. Khái quát tiến trình xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp / Lập bảngniên biểu các bước xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp (1858 –1884)? Vì sao quá trình đó kéo dài gần 30 năm?- Nếu đề yêu cầu Khái quát tiến trình xâm lược Việt Nam của thực dânPháp, giáo viên gợi ý các em lấy kiến thức trong cột 2 “Cuộc xâm lược của thựcdân Pháp” để trả lời.- Với dạng đề yêu cầu Lập bảng niên biểu các bước xâm lược Việt Nam củathực dân Pháp (1858 – 1884), các em có thể dựa vào cột 1 và 2 (mặt trận vàcuộc xâm lược của Pháp) để hoàn thành. Vì mỗi mặt trận được thiết kế trongbảng cũng chính là một bước trong tiến trình xâm lược Việt Nam của Pháp. Cụthể như sau:STT Giai đoạnTiến trình xâm lược11858-1862 Pháp chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Kì là Gia Định, ĐịnhTường và Biên Hòa. Kết thúc bằng Hiệp ước Nhâm Tuất5-6-1862 (nhà Nguyễn nhượng hẳn 3 tỉnh miền Đông choPháp)21863-1867 Pháp chuẩn bị và đánh chiếm 3 tỉnh miền Tây Nam Kì làVĩnh Long, An Giang, Hà Tiên31868-1874 Pháp chuẩn bị và tiến đánh Bắc Kì lần thứ nhất. Kết thúcbằng Hiệp ước Giáp Tuất 15-3-1874 (nhà Nguyễn chínhthức thừa nhận 6 tỉnh Nam Kì là đất thuộc Pháp)41875-1882 Chuẩn bị và tiến đánh Bắc Kì lần thứ hai.51883-1884 – Pháp tấn công Thuận An, buộc triều đình Huế kí Hiệpước Hác-măng (25-8-1883) cơ bản hoàn thành việc xâmlược Việt Nam.- 6-6-1884, Hiệp ước Patơnốt được kí kết -> Pháp hoànthành việc xác lập nền bảo hộ trên toàn bộ đất nước ta.- Để lý giải nguyên nhân khiến quá trình xâm lược của Pháp kéo dài gần 30năm, giáo viên gợi ý học sinh phát hiện vấn đề (nguyên nhân chủ quan – về phíaPháp, nguyên nhân khách quan…).Trường THPT Chuyên Thái Bình85HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI-> Gợi ý trả lời:+ Nguyên nhân chủ quan:• Thái độ trù trừ, thăm dò của Pháp• Trong quá trình xâm lược Pháp gặp nhiều khó khăn, phải bận tâmđến những vấn đề khác như chiến tranh ở Trung Quốc, chiến tranhvới Áo trên đất Italia, chiến tranh với Phổ, công xã Pari…+ Nguyên nhân khách quan: vấp phải tinh thần kháng chiến kiên cường củanhân dân Việt Nam. Đây là nguyên nhân chính, quan trọng nhất-> vì thế Pháp không thể tập trung và kết thúc chiến tranh nhanh chóng2. Lập bảng về thái độ của triều đình và nhân dân trong cuộc kháng chiếnchống Pháp xâm lược. Từ đó rút ra nhận xét?- Lập bảng: dựa vào bảng hệ thống, giáo viên giúp học sinh lựa chọn các tiêuchí: Tiến trình xâm lược của Pháp, thái độ triều đình và nhân dân.Tiến trình xâm lược của Thái độ của triều đìnhThái độ của nhân dânPhápTrong đó, tiến trình xâm lược của Pháp chỉ nêu khái quát (bước xâmlược); về thái độ triều đình và nhân dân, giáo viên hướng dẫn học sinh chọn lọckiến thức trong bảng- Nhận xét: Giáo viên gợi ý để học sinh tự rút ra nhận xétThái độ của triều đình:- Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, triều đình có tổ chức kháng chiếnnhưng dè dặt, cầm chừng; bị động, máy móc, thiếu sáng tạo, thiếu quyết tâm- Do tư tưởng ngại địch, sợ địch, muốn bảo vệ lợi ích của dòng họ, giai cấp –từ chống cự yếu ớt triều Nguyễn đã đi đến thỏa hiệp, kí các hiệp ước cắt đất cầuhòa (1862, 1874, 1883,1884). Đến năm 1884 triều đình phong kiến đã đầu hàngkết thúc vai trò lịch sử-> Hậu quả: khiến nước ta mất độc lập từng bước đến hoàn toàn, biến mấtnước từ không tất yếu thành tất yếu. Vì vậy nhà Nguyễn phải chịu trách nhiệmchính trong việc để mất nước vào tay Pháp.Thái độ của nhân dân- Khi Pháp xâm lược, nhân dân tạm gác mâu thuẫn giai cấp cùng triều đìnhphong kiến đứng lên đánh giặc (nhân dân đặt quyền lợi dân tộc lên trên quyềnlợi giai cấp)Trường THPT Chuyên Thái Bình86HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI- Trái với sự dè dặt, bị động, thiếu quyết tâm của triều đình, nhân dân khángchiến với tinh thần sáng tạo, chủ động, kiên quyết và đoàn kết rất cao, xuất hiệnnhiều tấm gương yêu nước bất khuất (Nguyễn Trung Trực, Trương Định,…).Nhân dân tự động đứng lên kháng chiến không chờ triều đình kêu gọi, khôngbuông rơi vũ khí kể cả khi triều đình đã đi vào con đường thỏa hiệp đầu hàng,quay lưng lại phong trào kháng chiến. Ở những nơi Pháp đã chiếm, chúng chỉchiếm được đất chứ không chiếm được lòng dân.- Mặc dù càng về sau điều kiện ngày càng khó khăn (do thực dân Pháp vàtriều đình tìm mọi cách ngăn cản) nhưng cuộc đấu tranh vẫn tiếp tục một cáchbền bỉ, dẻo dai và ngày càng mạnh mẽ hơn trước.3. Phân tích những nguyên nhân đưa đến việc mất nước cuối thế kỉ XIX? Từđó đánh giá trách nhiệm của nhà Nguyễn trong việc để mất nước vào taythực dân Pháp?Để trả lời câu hỏi này, giáo viên gợi ý học sinh dựa vào kiến thức đã học bàitrước (Tình hình Việt Nam trước khi thực dân Pháp xâm lược) để thấy đượctiềm lực đất nước trước khi Pháp xâm lược là một nguyên nhân khiến mất khảnăng phòng thủ; mặt khác, thái độ của triều đình khi đối mặt với cuộc khángchiến và hạn chế của phong trào kháng chiến của nhân dân cũng là nguyên nhânchủ quan dẫn đến thất bại. Bên cạnh đó, các em cần đặt Việt Nam trong bốicảnh thế giới và khu vực để đánh giá khách quan về nguyên nhân mất nước.-> Gợi ý trả lời:* Nguyên nhân mất nước:- Tiềm lực đất nước suy yếu nghiêm trọng bởi những chính sách bảo thủ củatriều đình- Triều đình Nguyễn đã có chủ trương tiến hành kháng chiến nhưng cònnhiều hạn chế (phòng thủ bị động), khước từ những cải cách duy tân, đi từ thủhòa sang chủ hòa, từng bước đầu hàng thực dân Pháp phản bội nhân dân- Phong trào kháng chiến của nhân dân diễn ra rất sôi nổi với nhiều hình thứcphong phú nhưng thiếu một đường lối thống nhất, thiếu sự liên kết, chiến thuậtlạc hậu, sự phá hoại của triều đình…nên thất bại- Khách quan:+ Từ đầu thế kỉ XIX chủ nghĩa thực dân đẩy mạnh xâm lược thuộc địa,trong khi đó châu Á – nơi đất rộng người đông tài nguyên phong phú, chế độphong kiến đang khủng hoảng trầm trọng đã và đang bị thôn tính…Trường THPT Chuyên Thái Bình87HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI+ Thực dân Pháp sau một thời gian nhòm ngó đã quyết tâm xâm lược nướcta. Tương quan lực lượng chênh lệch rất lớn…-> Nguyên nhân chính là do sự bảo thủ, bị động, thiếu kiên quyết, hèn nhátcủa triều Nguyễn.* Đánh giá trách nhiệm của nhà Nguyễn:- Đặt trong bối cảnh châu Á và thế giới, nhiều nước nhờ cải cách thức thờivẫn thoát khỏi bị xâm lược, giữ được độc lập (Nhật, Xiêm).- Vì thế, mất nước không phải là tất yếu. Song nhà Nguyễn với chính sáchbảo thủ trong cai trị đất nước, đường lối kháng chiến sai lầm… đã biến mấtnước từ không tất yếu thành tất yếu. Do đó nhà Nguyễn phải chịu trách nhiệmchính trong việc để mất nước vào tay Pháp cuối thế kỉ XIX2.3. Củng cố kiến thức và rèn kĩ năng với các câu hỏi tham khảo.Trên cơ sở hệ thống câu hỏi cơ bản, giáo viên đưa ra một số câu hỏi thamkhảo để học sinh vận dụng kiến thức đã học giải quyết vấn đề, qua đó rèn kĩnăng viết bài, củng cố chắc kiến thức đã học. Tôi xin đưa ra một số câu hỏitham khảo:1.Lập niên biểu các sự kiện chính trong tiến trình xâm lược Việt Namcủa thực dân Pháp 1858 – 1884? Phân tích các nguyên nhân khiếnquá trình xâm lược của Pháp kéo dài gần 30 năm?2.Lập bảng về quá trình xâm lược nước ta của thực dân Pháp và cuộckháng chiến chống xâm lược của nhân dân ta từ 1858-1884? Nhận xétvề thái độ của nhân dân trong cuộc kháng chiến đó?3.Đánh giá về cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta 1858 –1884, SGK lớp 11 nâng cao viết “Cuộc chiến tranh nhân dân đã diễnra liên tục, đều khắp, với tinh thần dũng cảm vô song…đã khiến thựcdân Pháp phải chịu nhiều tổn thất và phải mất 26 năm để tiến hànhcuộc chiến tranh xâm lược một nước Việt Nam nhỏ bé”. Bằng kiếnthức lịch sử đã học, em hãy làm rõ nhận định trên.4.Bằng những hiểu biết của em về lịch sử Việt Nam giai đoạn 18581884, hãy bình luận câu nói của nhà yêu nước Nguyễn Trung Trực”Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thì mới hết người Nam đánhTây”5.Phân tích thái độ của nhà Nguyễn trong cuộc kháng chiến chống Phápxâm lược từ 1858 đến 1884. Từ đó đánh giá trách nhiệm của nhàNguyễn trong việc để nước ta rơi vào tay thực dân Pháp?Trường THPT Chuyên Thái Bình88HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI6.Việc mất nước ta ở cuối thế kỉ XIX có phải là tất yếu không?…(Các câu hỏi này giáo viên có thể cho học sinh tự làm, sau đó thu kết quả,chấm chữa cẩn thận. Sau đó, giáo viên định hướng cho học sinh cách giải quyếttừng vấn đề)B. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ1. Kết luận- Sử dụng phương pháp hệ thống hóa kiến thức cùng với hướng dẫn trả lờicác câu hỏi ôn tập cơ bản, trọng tâm… để ôn tập cho học sinh là phương pháp rấthiệu quả, đặc biệt đối với những nội dung ôn tập có khối lượng kiến thức lớn.- Qua việc thực hiện sử dụng bảng hệ thống kiến thức, kết hợp với hướngdẫn trả lời các câu hỏi cơ bản, trọng tâm phần lịch sử Việt Nam 1858 – 1884, tôinhận thấy học sinh tiếp cận và nắm kiến thức nhanh, chắc, ít bị nhầm lẫn, hiểusâu bản chất của vấn đề, khả năng vận dụng tốt. Hiệu quả của phương pháp trênđã được kiểm chứng thực tế với kết quả làm bài tốt của học sinh nhiều năm qua.2. Kiến nghị- Đề nghị thảo luận, thống nhất lại về cấu trúc đề thi – riêng đối với môn Sửkhối 11:Cấu trúc nội dung thi học sinh giỏi các trường chuyên duyên hải Bắc Bộtương đối hợp lý. Tuy nhiên, cấu trúc khối 11 nên sát với chương trình khối 12,với chương trình thi chọn học sinh giỏi ở các tỉnh. Kinh nghiệm nhiều năm chothấy, đến thời điểm tháng 4, nghĩa là cuối năm học lớp 11, hầu hết các trường đãdạy được quá nửa chương trình lớp 12 để chuẩn bị cho kì thi chọn học sinh giỏitỉnh và quốc gia lớp 12 năm sau (thậm chí có nhóm học sinh đã được trang bịhết kiến thức lớp 12 để tham dự thi học sinh giỏi vượt cấp). Nếu cấu trúcchương trình thi học sinh giỏi duyên hải Bắc Bộ là lịch sử Việt Nam thời kì cuốithế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, lịch sử thế giới cận đại – thì như thế, về hình thức cóvẻ hợp lý vì đúng với chương trình lớp 11, nhưng chưa thực sự phù hợp vớithực tế các trường. Tôi đề nghị, nhóm Sử có thể trao đổi, thống nhất lại về cấutrúc đề thi học sinh giỏi khối 11 cụm các trường duyên hải Bắc Bộ (nên chăngsát hơn với chương trình thi học sinh giỏi 12 ?)- Để Hội các trường chuyên duyên hải Bắc Bộ hoạt động hiệu quả, lâu bền,thực sự là diễn đàn giao lưu của các thầy cô, là một sân chơi hấp dẫn, thu hútTrường THPT Chuyên Thái Bình89HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIcác em học sinh, có uy tín với các trường quan sát viên và các trường ngoàikhối, tôi thực sự mong muốn bất kì trường nào khi đăng cai tổ chức cuộc thi nàyphải đặt sự công bằng, khách quan lên hàng đầu – đặc biệt là với bộ môn Lịchsử… Tôi tin rằng đây cũng là suy nghĩ chung của đa số đồng nghiệp.Trên đây là trải nghiệm nhỏ của tôi về “Ôn tập lịch sử Việt Nam 1858 –1884 với bảng hệ thống kiến thức và hướng dẫn trả lời một số câu hỏi cơbản”, rất mong được các đồng nghiệp đóng góp ý kiến và chia sẻ kinh nghiệm.Xin gửi lời trân trọng cảm ơn tới trường THPT chuyên Thái Bình đã đăng cai tổchức cuộc Hội thảo chuyên môn cụm các trường chuyên duyên hải Bắc Bộ, tạođiều kiện cho những đồng nghiệp như chúng tôi được giao lưu, học hỏi và chiasẻ kinh nghiệm.Hải Dương tháng 8 năm 2013Trường THPT Chuyên Thái Bình90HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VITÀI LIỆU THAM KHẢO1. Nguyễn Thị Côi-Trần Bá Đệ, Hướng dẫn ôn tập và làm bài thi môn Lịchsử, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 20022. Phan Ngọc Liên – Trần Văn Trị, Phương pháp dạy học lịch sử, NXB Giáodục, 1999.3. Phan Ngọc Liên (chủ biên), Các loại bài thi học sinh giỏi môn Lịch sử,NXB Hà Nội, 20074. Tuyển tập đề thi Olympic 30-4, lần thứ XV – 2009, NXB Đại học Sưphạm, 2009.5. Tuyển tập đề thi Olympic 30-4, lần thứ XVI – 2010, NXB Đại học Sưphạm, 2010.6. Tuyển tập đề thi Olympic 30-4, lần thứ XVII – 2011, NXB Đại học Sưphạm, 2011.Trường THPT Chuyên Thái Bình91HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIChuyên đề xếp loại BCHUYÊN ĐỀ:LỰA CHỌN VẤN ĐỀ DẠY VÀ PHƯƠNG PHÁP ÔN TẬP CHOHỌC SINH GIỎI QUỐC GIA KHI GIẢNG DẠY GIAI ĐOẠN LỊCHSỬ VIỆT NAM TỪ 1858 ĐẾN 1918A. PHẦN MỞ ĐẦUĐối với trường THPT chuyên, việc bồi dưỡng học sinh giỏi quốc gialà nhiệm vụ thường xuyên mang tính tất yếu. Vì thế đối với các giáo viêntrường chuyên, đặc biệt là giáo viên lịch sử, công việc này là công việcquan trọng trong từng năm học và mang tính cấp thiết. Giáo viên khôngchỉ làm nhiệm vụ ôn tập, củng cố kiến thức đã học mà còn phải đào tạo đểtìm ra nhân tố, nhân tài là những học sinh có niềm say mê, hứng thú và đặcbiệt là có năng khiếu về môn lịch sử. Việc đào tạo , bồi dưỡng này đượcnghiệm thu qua kết quả học sinh tham gia kì thi học sinh giỏi quốc giamôn lịch sử được tổ chức hàng năm. Do đó, để học sinh tham dự kì thi đạtkết quả tốt thì vấn đề đặt ra là giáo viên cần phải có phương pháp ôn tậpphù hợp và mang tính hiệu quả cao.Mặt khác trong quá trình ôn tập và bồi dưỡng học sinh giỏi quốc gia,nội dung kiến thức lịch sử Việt Nam trong giai đoạn từ 1858 đến 1918 làmột vấn đề lịch sử khá dài và khá khó để học sinh có thể tiếp thu và hiểusâu được nội dung kiến thức phần này. Đồng thời nội dung kiến thức củagiai đoạn lịch sử Việt Nam 1858- 1918 rất quan trọng trong chương trìnhlịch sử Việt Nam vì đây là giai đoạn lịch sử có những kiến thức cỏ sở chocác giai đoạn lịch sử tiếp theo, được coi là mốc mở đầu trong thơi kì lịchsử Việt Nam cận hiện đại. Nếu học sinh không được trang bị kiến thức sâurộng về giai đoạn lịch sử này thì khó có thể đạt kết quả cao được. Vì vậyviệc giúp học sinh nắm chắc phần kiến thức trong giai đoạn giai đoạn lịchsử Việt Nam 1858- 1918 là một yêu cầu cần thiết đối với giáo viên bồidưỡng học sinh giỏi quốc gia. Xuất phát từ những yêu cầu thiết thực nhưtrên, tôi xin mạnh dạn đưa ra một vài ý kiến của mình để trao đổi bàn bạcvề lựa chọn các vấn đề dạy và ôn tập cho học sinh giỏi quốc gia giai đoạnlịch sử Việt Nam từ 1858 đến 1918.Trường THPT Chuyên Thái Bình92HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIB. PHẦN NỘI DUNGI. NỘI DUNG KIẾN THỨC CẦN CUNG CẤP CHO HỌC SINH VỀGIAI ĐOẠN LỊCH SỬ VIỆT NAM 1858 – 19181. Việt Nam trước nguy cơ xâm lược của thực dân Phápa. Tình hình Việt Nam trước khi bị Pháp xâm lược: về kinh tế, chínhtrị, xã hộib. Quá trình thực hiện âm mưu của thực dân Pháp chuẩn bị xâmlược Việt Nam2. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vũ trang xâm lượcViệt Nam(1858 -1984)a. Chống Pháp đánh chiếm Đà Nẵng 1858 – 1859 và các tỉnh NamKì 1859 – 1862b. Chống Pháp đánh chiếm các tỉnh miền Đông Nam kì 1859 – 1862và các tỉnh miền Tây nam kì 1867c. Chống Pháp đánh chiếm Bắc Kì lần 1(1873 – 1883) và lần 2(1883 – 1884)d. Chống Pháp đánh chiếm Huế.và nhà Nguyễn đầu hàng hoàn toàn3. Cuộc vận động ở kinh thành Huế và phong trào chống Phápbình định(1885 – 1896)a. Nguyên nhân bùng nổ phong trào Cần Vươngb. Các cuộc khởi nghĩa trong phong trào Cần Vương:Bãi Sậy (1883 – 1892)Ba Đình (1886 – 1897)Hùng Lĩnh (1886 – 1887)Hương Khê (1885 – 1896)c. Phong trào nông dân tự động đứng lên chống pháp:Khởi nghĩa Yên Thế (1884 – 1913)4. Việt Nam trong buổi đầu dưới ách thống trị của thực dânPháp (1897 -1918)a. Nội dung chương trình khai thác thuộc địa lần 1 của thực dân PhápTrường THPT Chuyên Thái Bình93HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIb. Sự chuyển biến về kinh tế, xã hội Việt Nam sau chương trình khaithác thuộc địa5. Sự ra đời của trào lưu dân tộc chủ nghĩa và cuộc vận độnggiải phóng dân tộc đầu thế kỉ XXa. Hoạt động cứu nước của Phan Bội Châub. Hoạt động cứu nước của Phan Chu Trinhc. Phong trào Đông Kinh nghĩa thụcd. Phong trào nông dân Yên thế và vụ đầu độc lính pháp tại Hà Nội6. Việt Nam trong thời kì chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 -1918)a. Tình hình Việt nam trong chiến tranh thế giới thứ nhấtb. Phong trào yêu nước trong những năm chiến tranh:Việt Nam quang phục hộiKhởi nghĩa binh lính Thái NguyênPhong trào công nhânHoạt động của Nguyễn Ái QuốcII. HƯỚNG DẪN PHƯƠNG PHÁP ÔN TẬP CHO HỌC SINHVỀ GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ 1858 -19181. Yêu cầu trong quá trình ôn tậpa. Nắm chắc kiến thức trong toàn bộ chương trình SGK cơ bản vànâng cao của 3 năm học lớp 10, 11 và 12.- Trong nội dung của đề thi HSG quốc gia nằm trong toàn bộ chươngtrình của 3 năm học lớp 10, 11 và 12- Đối với các em học sinh giỏi điều tất yếu phải nắm toàn bộ kiếnthức phổ thông để cung cấp cho mình hệ thống kiến thức toàn diện, tạođiều kiện để có thể so sánh liên hệ các sự kiện hay phần kiến thức kiênquan đến nhau.b. Nắm được những vấn đề quan trọng liên quan đến SGK nâng caođược cung cấp từ sách tham khảo.- Chương trình ôn tập để thi là phần kiến thức nằm trong SGKnhưng để làm bài thi tốt, cần phải có khối lượng hiến thức mở rộng bênngoài được tham khảo từ các tài liệu tham khảo khác. Khi có kiến thức từcác sách tham khảo sẽ giúp cac em có đủ khả năng để mở rộng kiến thứcliên hệTrường THPT Chuyên Thái Bình94HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI- Tuy nhiên, giáo viên cần hướng dẫn học sinh biết chọn lọc nhữngcuốn sách tham khảo thiết yếu phục vụ cho thi HSG quốc gia chứ khôngnên tham khảo một cách dàn trải, sưu tầm một cách ồ ạt sách tham khảovừa tốn thời gian lại không biết tập hợp những kiến thức trọng tâm mangtính hiệu quả.c. Cách ôn tập để hiệu quả.- Trong quá trình ôn tập, giáo viên phải giúp học sinh sắp xếp theotừng vấn đề được hệ thống theo thời gian từ trước đến sau.- Cùng với công việc đó, giáo viên cần hướng dẫn học sinh cáchthức phân tích, giải thích và liên hệ với các sự kiện và rút ra các bài họckinh nghiệm.- Cần lập các bảng biểu gắn với các sự kiện theo các mảng kiến thứcvà thời gian khác nhau theo cách phân chia nội dung kiến thức được phânđịnh theo chiều ngang hoặc chiều dọc.- Cần ghi nhớ các sự kiện lịch sử, các con số hay ngày tháng …raquyển sổ tay ghi chép để sẵn sàng tranh thủ học bất cứ lúc nào.- Tìm cách học và ghi nhớ sự kiện cho riêng minh bằng cách gắn cácsự kiện lịch sử với những sự kiện ở ngoài cuộc sống như ngày sinh nhật, ….- Thường xuyên luyện tập cho các em làm quen và viết bài của cácđề thi học sinh giỏi quốc gia để các em làm quen.Trước khi cho các em viết bài, giáo viên cần hướng dẫn học sinh cáckĩ năng làm bài lịch sử khi thi học sinh giỏi cần phải lưu ý như thế nàonhư: đọc kĩ đề, phân tích đề, lập dàn ý…Sau khi chấm, giáo viên cần chữa chi tiết các bài viết của các em đểrút kinh nghiệm nhằm tránh các sai xót ở những bài viết sau. Quá trìnhluyện viết bài là công việc quan trọng để giáo viên thấy được những lỗhổng kiến thức của học sinh, từ đó tìm cách khắc phục và bù đắp phầnkiến thức còn yếu của từng học sinh. Đồng thời còn giúp học sinh làm bàivới tâm lý bình tĩnh, tự tin do có một quá trình luyện viết khi bước vào kìthi học sinh giỏi diễn ra sau đó.Trường THPT Chuyên Thái Bình95HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI2. Luyện các câu hỏi thường gặpCâu hỏi trong phần 1: Việt Nam trước nguy cơ xâm lược của thựcdân PhápPhân tích bối cảnh nước ta trước khi bị thực dân pháp xâm lược?Tại sao nói nước ta bị rơi vào tay Pháp là do một phần trách nhiệm củanhà Nguyễn?Hướng dẫn trả lời:Học sinh cần nêu được:- Tình hình nước ta trước khi bị thực dân pháp xâm lược:+ Về kinh tế: Nông nghiệp lạc hậu…Thủ công nghiệp, thương nghiệp đình đốn…Tài chính cạn kiệt…+ Về chính trị:Tầng lớp nhũng nhiễu, bóc lột nhân dân…+ Về xã hội: Mâu thẫn xã hội lên cao, các cuộc khởi nghĩa chốngtriều đình nổ ra liên tiếp…+ Về đối ngoại:bế quan tỏa cảng, ngăn sông cấm chợ và biệt đãingười phương Tây…- Trách nhiệm của nhà Nguyễn:+ Trước vận nước nguy nan: Đất nước suy yếu về mọi mặt, thực dânPháp lại ráo riết chuẩn bị xâm lược nước ta nhưng nhà Nguyễn không thựchiện cải cách duy tân đất nước mà ngược lại còn thực hiện chính sách đốingoại hết sức sai lầm…Điều này càng tạo cơ hội cho Pháp nhanh chóng xâm lược nước ta.+ Khi thực dân Pháp vào xâm lược, nhà Nguyễn đã không chủ độngđứng lên đoàn kết nhân dân chống lại Pháp mà lần lượt kí các hiệp ướcđầu hàng Pháp…→ Nhà Nguyễn chịu một phần trách nhiệm trong việc mất nướcQua quá trình thực dân Pháp chuẩn bị xâm lược Việt Nam hãy sosánh âm mưu xâm lược của Pháp với âm mưu xâm lược của phong kiếnphương Bắc đối với nhân dân ta?Hướng dẫn trả lời:Học sinh cần nêu được:- Sơ lược quá trình thực dân Pháp chuẩn bị xâm lược nước ta:Trường THPT Chuyên Thái Bình96HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI+ Từ thế kỉ XVII đến nửa đàu thế kỉ XIX, các thương nhân Pháp đếnlàm ăn buôn bán ở Việt Nam. Các giáo sĩ Pháp cũng tích cực gây dựng cơsở ở nước ta…→ trở thành những người đi tiên phong, vạch đường chocuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp…+ Đến giữa thế kỉ XIX, khi mâu thuẫn Anh – Pháp tạm thời lắngxuống để tạo liên minh xâu xé Trung Quốc (1856), chính phủ Pháp quyếtđịnh đem quân đánh chiếm Việt Nam…- So sánh âm mưu xâm lược của Pháp với âm mưu xâm lược củaphong kiến phương Bắc đối với nhân dân ta:+Giống nhau:Đều có âm mưu thôn tính để thống trị và bóc lột nhân dân Việt NamĐều có sự chuẩn bị kĩ lưỡng trước khi tiến hành đem quân sang đánhchiếm nước ta+ Khác nhau:Âm mưu xâm lược của phong kiến phương Bắc:Tiến thẳng vào kinh đô nước ta để đánh chiếm, buộc triều đình phảiđầu hàng mà không có sự thương thuyết…Trước khi đánh chiếm không cần tạo ra cớ mà chỉ cần dùng vũ lực ồạt để tấn công…Âm mưu xâm lược của thực dân Pháp:Tiến đánh vào vùng không phải kinh đô, dùng chính sách ngoại giaoép buộc để bắt triều đình phong kiến phải từng bước đầu hàng…Trước khi đánh chiếm luôn tạo ra cái cớ rồi sau đó mới tấn công…Tại sao nói nhà Nguyễn đã làm cho việc mất nước ta ở cuối thế kỷXIX từ không tất yếu trở thành tất yếu?Hướng dẫn trả lời:Học sinh cần nêu được:- Nêu bối cảnh thế giới: các nước tư bản phương Tây đang chuyển từgiai đoạn tự do cạnh tranh chuyển sang giai đoạn độc quyền. Nhu cầunguyên liệu, thị trường ngày càng trở nên cấp thiết. Vì vậy các nướcTBCN đua nhau sang phương Đông để xâm chiếm biến thành thuộc địacủa họ…Trường THPT Chuyên Thái Bình97HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI- Nêu bối cảnh lịch sử nước ta trước khi thực dân Pháp xâm lược: vềkinh tế, chính trị, xã hội…- Nêu những sai lầm trong mọi chính sách của triều đình nhà Nguyễnvề kinh tế, chính trị, xã hội và đối ngoại…đã góp phần làm cho đất nướctrở nên suy kiệt, lòng dân li tán nên việc mất nước từ không tất yếu trởthành tất yếu…Câu hỏi trong phần 2: Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vũtrang xâm lược Việt Nam (1858 -1884)Tại sao thực dân Pháp lại chọn Đà Nẵng để tấn công? Việcthực hiện kế hoạch “ đánh nhanh thắng nhanh” đã bị nhân dân ta đánhbại như thế nào?Hướng dẫn trả lời:Học sinh cần nêu được:- Thực dân Pháp lại chọn Đà Nẵng để tấn công vì:+ Đây là một vị trí chiến lược quan trọng – là nơi có hải cảng sâu vàrộng, tàu chiến có thể ra vào dễ dàng, lại nằm trên đường thiên lí Bắc Nam, nếu chiếm được sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Pháp thực hiện kếhoạch “đánh nhanh thắng nhanh”+ Đây cũng là nơi tạo điều kiện để có thể thực hiện âm mưu “lấychiến tranh nuôi chiến tranh” vì hậu phương Đà Nẵng là đồng bằng Nam Ngãi trù phú, màu mỡ..- Việc thực hiện kế hoạch “đánh nhanh thắng nhanh” đã bị nhân dânta đánh bại:+ Nêu các sự kiện trong chiến sự ở Đà Nẵng: trong SGKNêu và phân tích nét đặc sắc của cuộc khởi nghĩa vũ trang chốngPháp của nhân dân ta từ sau hiệp ước 1862 đến 1874?Hướng dẫn trả lời:Học sinh cần nêu được:- Nét đặc sắc của cuộc khởi nghĩa vũ trang chống Pháp của nhân dânta từ sau hiệp ước 1862 đến 1874:+ Chiến đấu kịp thời: chiến đấu ngay từ khi thực dân Pháp đặt chânlên bán đảo Sơn Trà ( Đà Nẵng), nhânn dân ta đã có ý thức bảo vệ độc lậpTrường THPT Chuyên Thái Bình98HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIdân tộc rất cao, không trông chờ vào một lời kêu gọi nào của triều đìnhban ra. Họ chiến đấu vì lòng yêu nước và truyền thống dân tộc…+ Xác định đúng kẻ thù dân tộc: Họ xác định quyền lợi dân tộc là trênhết, sẵn sàng gác lại mối thù giai cấp để đặt mối thù dân tộc lên trên vai…+ Tinh thần chiến đấu dũng cảm: nhân dân ta chiến đấu không đòihỏi bất cứ điều kiện gì, không đợi triều đình ban chức tước, banthưởng…họ chiến đấu vì nghĩa lớn: bảo vệ cuộc sống bình yên…+ Chiến đấu mưu trí, sáng tạo với nhiều hình thức phong phú: dukích, tập kích..+ Khi triều đình Huế can tâm phản bội lại dân tộc, cắt đất cầu hòa,nhân dân nhanh chóng kết hợp nhiệm vụ chống nhiệm vụ chống xâm lượcvới chống bộ phận phong kiến đầu hàng…Câu hỏi trong phần 3: Cuộc vận động ở kinh thành Huế và phongtrào chống Pháp bình định (1885 – 1896)Khi đánh giá về nguyên nhân bùng nổ của phong trào Cần Vương,có các ý kiến sau:1. Do tinh thần yêu nước và đấu trang của nhân dân Việt nam2. Do chiếu Cần Vương của vua Hàm NghiHãy phát biểu ý kiến của em về vấn đề nàyHướng dẫn trả lời:Học sinh cần nêu được:- Khái quát:+ Một cuộc cách mạng bùng nổ là do các nguyên nhân sâu xa và trựctiếp→ phong trào Cần Vương nổ ra cũng có nguyên nhân sâu xa và trực tiếp.Nguyên nhân sâu xa: Truyền thống yêu nước.Nguyên nhân trực tiếp: Chiếu Cần Vương ban ra.- Phân tích, đánh giá:* Bùng nổ do tinh thần yêu nước và đấu tranh của nhân dân Việt Nam+ Truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam có từ thời dựngnước. Mỗi khi có kẻ thù xâm lược truyền thống ấy lại được phát huy: Lý,Trần, Lê…Trường THPT Chuyên Thái Bình99HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI+ Thời kỳ này, dân tộc ta bị Pháp xâm lược, nền độc lập bị xâm hại→ lòng căm thù của nhân dân ta càng sâu sắc → yêu nước càng mãnh liệtvà nhân dân ta tiếp tục đấu tranh. Biểu hiện:Lúc có triều đình lãnh đạo nhân dân ta đã đấu tranh: Nguyễn TrungTrực, Hoàng Diệu…Lúc triều đình nhà Nguyễn đầu hàng, bất chấp sự đầu hàng của triềuđình, không có người lãnh đạo → nhân dân ta vẫn nổi dậy chống Pháp;quân cờ đen của Lưu Vĩnh Phúc…→ Như vậy khi có kẻ thù xâm lược nhân dân ta lại đứng lên đấutranh phát huy truyền thống yêu nước → ý kiến số 1 là đúng và thực tếphong trào Cần Vương đã chứng minh ý kiến trên là đúng. Đây chính lànguyên nhân sâu xa của phong trào Cần Vương nhưng khi xét nguyênnhân bùng nổ của một phong trào cách mạng, nguyên nhân sâu xa là chưađủ mà cần có nguyên nhân trực tiếp.* Do chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi:+ Nêu qua sự ra đời của chiếu Cần Vương …+ Giải thích “Cần Vương” là giúp vua cứu nước. Theo tiếng Hán:Cần Vương là vượt qua mọi khó khăn, gian khổ để giúp vua cứu nước+ Chiếu Cần Vương mang tính tự vệ, chính đáng, gây chuyển biếnlớn trong thái độ của tầng lớp sĩ phu, văn thân trong triều đình. Nó tácđộng đến mọi tầng lớp có tấm lòng trung quân ái quốc. Làm chuyển biếntư tưởng trung quân ái quốc của các sĩ phu, văn thân, khi chưa có chiếuCần Vương, họ yêu nước bằng cách về quê ở ẩn, khi có chiếu Cần Vương ,họ đã ra giúp vua cứu nước.+ Chiếu Cần Vương phù hợp với nguyện vọng của nhân dân và làhậu thuẫn cho phong trào nổ ra vì chiếu Cần Vương rất coi trọng quyền lợicủa nhân dân, quyền lợi của dân tộc và nó cố gắng hàn gắn quyền lợi củanhân dân: “phúc của thần dân tức là phúc của tôn xã” kêu gọi nhân dân.+ Mong muốn của Hàm Nghi và Tôn Tất Thuyết khi hạ chiếu CầnVương là chuyển loạn thành trị, chuyển nguy thành an để khôi phục bờ cõi.+ Chiếu Cần Vương ra đời lúc đó khi tuyệt đại đa số vua quan trongtriều nguyễn có tư tưởng thân Pháp chỉ còn một bộ phận của phái chủTrường THPT Chuyên Thái Bình100HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIchiến cho nên chiếu Cần Vương đã thức tỉnh được đồng bào cùng với phechủ chiến trong triều đình.→ Như vậy, Chiếu Cần Vương đã tác động mạnh đến tầng lớp sĩphu văn thân và nhân dân nên truyền thống yêu nước của nhân dân đượcphát huy cao độ khi có một ngọn cờ, một giai cấp, một ông vua yêu nướclãnh đạo cho nên nó là duyên cớ trực tiếp làm bùng nổ phong trào CầnVương. Thực tế phong trào Cần Vương đã minh chứng điều đó với sựhưởng ứng của đông đảo quần chúng nhân dân.Ý kiến số 2 đúng nhưng chưa đủ và là duyên cớ trực tiếp.Qua những cuộc khởi nghĩa vũ trang chống Pháp tiêu biểu trongphong trào Cần Vương, hãy đánh giá và nhận xét về phong trào này?Hướng dẫn trả lời:Học sinh cần nêu được:- Bối cảnh lịch sử:+ Sau 2 hiệp ước Hácmăng và Patơnốt mà triều đình Huế kí vớiPháp, về cơ bản Pháp đã đặt ách thống trị trên toàn bộ Việt Nam → Phongtrào chống Pháp đã diễn ra trong bối cảnh phức tạp đặc biệt là phong tràoCần Vương…- Tóm tắt phong trào:+ Chia làm 2 giai đoạn:Giai đoạn 1: 1885-1888: Dưới sự chỉ huy của một triều đình khángchiến đứng đầu là Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết.Nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra như: MaiXuân Thưởng, Lê Trực…Giai đoạn 2: 1888-1896: Đã có bước phát triển mới với nhữngcuộc khởi nghĩa lớn như: Bãi Sậy, Ba Đình…- Đánh giá:+ Lãnh đạo:Văn thân, sĩ phu có học, đỗ đạt hoặc sĩ phu có học nhưng khônglàm quanNông dân miền núi…→ Mặt tích cựcMặt hạn chếTrường THPT Chuyên Thái Bình101HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI→ Nên họ hưởng ứng chiếu Cần Vương+ Lực lượng:Nông dân…→ Tinh thần chiến đấu dũng cảm+ Mục tiêu: Lập chế độ quân chủ+Hình thức đấu tranh:Khởi nghĩa vũ trang+ Nguyên nhân thất bại:Hạn chế của thời đại (phong kiến nhà Thanh cũng kí các hiệp ướcbán nước)+Ý nghĩa lịch sử:Phát động một cuộc chiến tranh nhân dânĐấu tranh vũ trang phải mang tính toàn quốc và có sự chuẩn bị+ Sự kế thừa của Đảng từ phong trào Cần Vương…Thu hút, tập hợp quần chúng nhân dân đứng lên kháng chiếnchống xâm lược vì nền độc lập dân tộc của đất nước.Đấu tranh phải mang tính toàn quốc và có sự chuẩn bịPhát động cuộc chiến tranh nhân dân, huy động sức mạnh toàn dân…Phân tích thái độ của các tầng lớp sĩ phu văn thân và quần chúngnhân dân tham gia chiếu Cần Vương chống Pháp?Hướng dẫn trả lời:Học sinh cần nêu được:- Đối với các sĩ phu văn thân:+ Họ vốn là những quan lại, trí thức, người có học trong xã hộiphong kiến Việt Nam lúc đó, họ bị chi phối nặng nề bởi tư tưởng Nho giáo“trung quân ái quốc”. Đối với họ yêu nước là trung thành với vua vàngược lại trung thành với vua là yêu nước. Ở họ trung quân và ái quốc gắnliền với nhau. Nhưng khi thực dân Pháp xâm lược đến trước khi chiếu CầnVương ban ra, các văn thân sĩ phu luôn trong tâm trạng do dự, họ khôngbiết chọn con đường nào: giữa trung thành với vua và yêu nước vì nhàNguyễn đứng đầu là vua Tự Đức đã không dám đứng lên phát động nhândân kháng chiến chống Pháp mà ngược lại đã từng bước đầu hàng Pháp.Nếu họ theo lệnh vua mà bãi binh, đầu hàng thì có tội với dân. Nhưng nếuTrường THPT Chuyên Thái Bình102HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIcùng với nhân dân đứng lên chống Pháp thì có tội với vua. Đó là bi kịchcủa các sĩ phu, văn thân trong giai đoạn này đẫn đến nhiều cái chết của cácsĩ phu văn thân; Phan Thanh Giản…+ Năm 1885, khi chiếu Cần Vương ban ra đã đáp ứng mong mỏi tưtưởng trung quân ái quốc của họ. Lúc này họ hiểu rằng cầm vũ khí chốngthực dân Pháp thể hiện tinh thần yêu nước cũng đồng thời thể hiện tinhthần trung thành với vua của mình.→ Vì vậy, ngay lập tức, các văn thân sĩ phu đã chiêu mộ binh sĩ,hưởng ứng chiếu Cần Vương, lãnh đạo phong trào yêu nước…- Đối với quần chúng nhân dân:+ Họ là những người ít chịu ràng buộc bởi tư tưởng “trung quân áiquốc”. Ở họ chỉ có tinh thần yêu quê hương đất nước. Vì vậy, ngay sau khiPháp xâm lược, dù triều đình kêu gọi bãi binh hay chống Pháp thì họ vẫntự phát đứng lên đấu tranh bảo vệ quê hương đất nước, thậm chí có cuộckhởi nghĩa còn chống cả triều lẫn Tây.Nêu điều kiện lịch sử và nhận xét về kết cục của các cuộc khởi nghĩavũ trang chống Pháp cuối thế kỷ XIX?Hướng dẫn trả lời:Học sinh cần nêu được:- Điều kiện lịch sử:+ Năm 1884, triều đình kí với Pháp hiệp ước Patơnốt, chính thứccông nhận quyền thống trị của Pháp ở Việt Nam. Từ đây, Việt Nam trởthành thuộc địa của Pháp, nhân dân sống cảnh khổ cực, mâu thuẫn giữanhân dân ta với đế quốc Pháp và tay sai ngày càng trở nên sâu sắc. Độc lậptự do là khát vọng của cả dân tộc, giải phóng dân tộc trở thành yêu cầu cấpthiết của lịch sử.+ Kinh tế: nền nông nghiệp lạc hậu mang đặc điểm của nền kinh tếtự cung tự cấp+ Xã hội: gồm 2 giai cấp cơ bản là địa chủ phong kiến và nông dân.Thực dân Pháp sử dụng giai cấp địa chủ phong kiến làm bộ máy tay sai nên họđã mất hết vai trò lịch sử, không cò là đại diện cho quyền lợi dân tộc.Trường THPT Chuyên Thái Bình103HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VITrong nội bộ triều đình Huế hình thành 2 phe: chủ chiến và chủ hòa.Bộ phận văn thân sĩ phu yêu nước đã đứng ra chịu trách nhiệm lãnh đạo sựnghiệp giải phóng dân tộc+ Tư tưởng: hệ tư tưởng phong kiến vẫn còn tồn tại, chi phối cáckhuynh hướng cứu nước lúc đó. Bộ phận văn thân sĩ phu đã sử dụng hệ tưtưởng phong kiến làm vũ khí.- Nhận xét về kết cục:+ Nhìn chung, phong trào yêu nước cuối thế kỉ XIX là những phongtrào đấu tranh vũ trang chịu sự chi phối của hệ tư tưởng phong kiến.+ Thất bại của phong trào khẳng định sự bất lực của hệ tư tưởngphong kiến trước nhiệm vụ giải phóng dân tộc mà lịch sử đặt ra. Thất bạiđó cũng chứng tỏ con đường cứu nước dưới ngọn cờ lãnh đạo của các sĩphu, văn thân yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến là không thành công,do đó độc lập dân tộc không gắn với chế độ phong kiến+ Mặc dù thất bại nhưng phong trào đó đã đánh dấu một mốc sontrong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta và để lại nhiều bài học kinhnghiệm quý báu và cổ vũ tinh thần yêu nước cho nhân dân Việt Nam…Câu hỏi trong phần 4: Việt Nam trong buổi đầu dưới ách thốngtrị của thực dân Pháp (1897 -1918)So sánh điểm giống và khác nhau trong tư tưởng cứu nước của PhanBội Châu và Phan Chu Trinh?Hướng dẫn trả lời:Học sinh cần nêu được:- Giống nhau:+ Đều là những sĩ phu phong kiến nhưng có tư tưởng mới.Là những người yêu nước thương dân, đều có mong muốn cứunước, cứu dân+ Đều có chí hướng với mục đích là giải phóng dân tộc+ Đều theo dân tộc chủ nghĩa đấu tranh để giành độc lập sau đó đưađất nước phát triển theo TBCN.+ Đều thu hút đông đảo quần chúng nhân dân tham gia+ Các hoạt động cứu nước đều thất bại nhưng có những đống gópnhất định vào phong trào yêu nước ở Việt Nam.Trường THPT Chuyên Thái Bình104HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI- Khác nhau:+ Về chủ trương cứu nước+ Về phương pháp tiến hànhMặc dù khác nhau nhưng 2 xu hướng không bao giờ mâu thuẫn vớinhau mà hỗ trợ cho nhau…Đánh giá vai trò của những hoạt động cứu nước của Phan Bội ChâuVà Phan Chu Trinh đối với cuộc vận động giải phóng dân tộc ở Việt NamHướng dẫn trả lời:Học sinh cần nêu được:- Vai trò:+ Đưa vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam một conđường mới: con đường dân chủ tư sản:Nhận thấy hạn chế và từ bỏ con đường phong kiếnCon đường dân chủ tư sản: mục tiêu, phương pháp đấu tranh+ Tiếp nối truyền thống yêu nước của dân tộc:Phát huy ý thức truyền thống dân tộcTinh thần quyết tâm vượt qua mọi khó khăn gian khổ- Hạn chế:+ Sự bế tắc về đường lối+ Xác định kẻ thù, tập hợp quần chúng, phương pháp đấu tranhSo sánh phong trào yêu nước ở Việt Nam cuối thế kỉ XIX với đầu thếkỉ XX có điểm gì giống và khác nhau?Hướng dẫn trả lời:Học sinh cần nêu được:* Giống nhau:- Phong trào yêu nước cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX đều tiếp nốitruyền thống yêu nước của dân tộc (Phát huy ý thức truyền thống dân tộc:yêu nước, dũng cảm, kiên cường chống giặc, tinh thần quyết tâm vượt quamọi gian khổ để giành quyền độc lập và giữ gìn nền độ lập dân tộc…)- Phong trào yêu nước cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX đều chưa xácđịnh đúng nhiệm vụ cách mạng là đấu tranh chống Pháp, chống phongkiến phản động tay sai nên đều đi đến kết quả thất bại.Trường THPT Chuyên Thái Bình105HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI* Khác nhau:- Mục tiêu đấu tranh:Cuối thế kỉ XIX: Có thể quay lại chế độ phong kiến lỗi thời vì lãnhđạo là phái chủ chiến trong triều đình: Đinh Công Tráng, Phạm Bành, TônThất Thuyết… nên mang ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến, muốn giảiphóng dân tộc nhằm thiết lập một chế độ phong kiến với một ông vua tiến bộ.Đầu thế kỉ XX: Theo hướng TBCN vì lãnh đạo là sĩ phu văn thânmang ảnh hưởng của tư tưởng tư sản, muốn giải phóng dân tộc thiết lậpmột chế độ dân chủ tư sản: Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh.- Lực lượng tham gia:Cuối thế kỉ XIX: Sĩ phu và đông đảo là nông dân tham giaĐầu thế kỉ XX: Đông đảo các tầng lớp, giai cấp tham gia: Nông dân,tu sản, địa chủ, phú nông…- Phương pháp cách mạng:Cuối thế kỉ XIX: Đơn điệu, hình thức đấu tranh giống nhau, chủ yếulà đấu tranh vũ tang mang tính nhỏ lẻ, cục bộ, địa phương.Đầu thế kỉ XX: Đa dạng, phương pháp phù hợp với hoàn cảnh cónhiều đổi thay. Rất nhiều hình thức đấu tranh được tiến hành với 2 xuhướng chính: bạo động và cải cáchCâu hỏi trong phần 5: Sự ra đời của trào lưu dân tộc chủ nghĩavà cuộc vận động giải phóng dân tộc đầu thế kỉ XXNêu điều kiện lịch sử và nhận xét về kết cục của phong trào yêunước ở Vệt Nam đầu thế kỉ XX?Hướng dẫn trả lời:Học sinh cần nêu được:- Điều kiện lịch sử:+ Sự thất bại của cuộc khởi nghĩa Hương Khê, phong trào CầnVương chứng tỏ con đường cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến khôngthành công. Trong hoàn cảnh đó, những người yêu nước Việt Nam cần tìmmột chân lí cứu nước mới+ Kinh tế:Trường THPT Chuyên Thái Bình106HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VINăm 1897, thực dân Pháp bắt tay vào công cuộc khai thác thuộc địatrên toàn Đông Dương → kinh tế Việt Nam yếu ớt què quặt, lệ thuộc chặtchẽ vào tư bản Pháp. Tuy nhiên thành phần kinh tế TBCN đã xuất hiện.+ Xã hội:Do tác động của chương trình khai thác thuộc địa, cơ cấu xã hội ViệtNam có sự biến động: giai cấp cũ bị phân hóa, giai cấp cũ ra đời…+ Tư tưởng:Ngọn cờ cách mạng theo tư tưởng phong kiến đã tỏ ra lỗi thời trướcsự nghiệp gải phóng dân tộc.Luồng tư tư tưởng mới đã bắt đầu xuất hiện ở nước ta, góp phần hìnhthành và xuất hiện một luồng tư tưởng mang màu sắc dân chủ tư sản…- Nhận xét:+ Các phong trào yêu nước đầu thế kỉ XX tuy có sự khác nhau vềphương pháp và cách thức hoạt động nhưng đều có điểm chung là chủnghĩa yêu nước, đều nhằm vào mục tiêu cứu nước, giải phóng dân tộc vàđược chi phối bởi hệ tư tưởng dân chủ tư sản.+ Thất bại cua phong trào khẳng định sự bất lực của hệ tư tưởng dânchủ tư sản trước nhiệm vụ giải phóng dân tộc mà lịch sử đặt ra.→ Tình trạng khủng hoảng về đường lối và gai cấp lãnh đạo đã đặtra bối cảnh lịch sử để Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước.Câu hỏi trong phần 6: Việt Nam trong thời kì chiến tranh thế giớithứ nhất (1914 -1918)Tại sao có phong trào yêu nước từ đầu thế kỉ XX đến những năm 20của thế kỉ XX? Đánh giá những đóng góp của phong trào? Giải thích vìsao các phong trào đó lần lượt thất bại?Hướng dẫn trả lời:Học sinh cần nêu được:* Tại vì:- Sau khi phong trào Cần Vương thất bại → cuộc đấu tranh chốngPháp của nhân dân Việt Nam chưa kết thúc mà vẫn tiếp tục bởi ý chí đấutranh bất khuấtTrường THPT Chuyên Thái Bình107HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI- Với cuộc khai thác lần 2 ở Đông Dương đã làm cho nền kinh tếĐông Dương thay đổi, xuất hiện nhiều tầng lớp mới, giai cấp mới trong xãhội, đặc biệt có những suy nghĩ mới về con đường cứu nước- Đầu thế kỉ XX: những luồng tư tưởng mới thổi vào Việt Nam như:+ Tư tưởng cách mạng tư sản Pháp ( Vônte, Rutxô…)+ Cải cách ở Nhật→ được giai cấp tư sản, tiểu tư sản Việt Nam tiếp thu, ứng dụng →kịp thời tạo ra các phong trào yêu nước theo tư tưởng mới* Đánh giá những phong trào:Phong trào Đông Du:- Là 1 phong trào vận động quần chúng sâu rộng, có những đóng gópquan trọng đối với phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam hồi đầu thế kỉ X- Truyền bá được tư tưởng đúng đắn ( nêu rõ kẻ thù của Việt Nam làPháp, vạch rõ tội ác: bóc lột công khai và bóc lột ngấm ngầm của Pháp,kiên trì chủ trương đánh giặc phục thù )- Qua thơ văn yêu nước→ thúc tỉnh tinh thần cách mạng đấu tranh,cổ động tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất của dân tộcPhong trào Đông Kinh Nghĩa Thục:- Là tổ chức cách mạng dùng hình thức mở đường để tập hợp lựclượng yêu nước, ý chí đấu tranh vốn đã bị ảnh hưởng sau phong trào CầnVương thất bại- Đông Kinh nghĩa thục tuy tuyên truyền cả văn hóa giáo dục nhưngđều nhằm vào việc xác định kẻ thù chính là thực dân Pháp- Là một tổ chức vận động văn hoá mang tính chất dân tộc và dânchủ nên đã góp phần tích cực vào việc phát triển văn hoá dân tộc, ngônngữ văn hóa Việt Namphong trào Duy Tân:- Là phong trào yêu nước và cách mạng do một số sĩ phu yêu nướctiến bộ khởi xướng nhằm vận động cải cách văn hoá, gắn liền với việcđộng viên lòng yêu nước căm thù giặc, đấu tranh cho dân tộc thoát khỏiách thống trị của PhápNgoài ra còn một số phong trào: Yên Thế, Thái Nguyên, đầu độcbinh lính Pháp…Trường THPT Chuyên Thái Bình108HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI→ Đánh giá chung: Đây là những tổ chức yêu nước cách mạng, làphong trào rộng lớn thu hút nhiều quần chúng tham gia, góp phần nângcao tinh thần yêu nước.* Nguyên nhân thất bại:- Chưa nhận thấy nòng cốt của cách mạng là công nhân và nông dân- Ảo tưởng trong con đường cứu nước- Chưa vạch rõ phương pháp bạo động như thế nào đẻ giành thắnglợi, có phong trào còn từ bỏ con đường bạo động ( Duy Tân )Phân tích nguyên nhân Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nướcHướng dẫn trả lời:Học sinh cần nêu được:- Nguyên nhân Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước:+ Do thất bại của các con đường cứu nước phong kiến, dân chủ tưsản đặt ra yêu cầu là muốn giải phóng dân tộc thì phải có con đường cứunước mới.Cuối thế kỉ XIX, nhiều cuộc khởi nghĩa vũ trang chống Pháp: khởinghĩa Ba Đình, Bãi Sậy…Đầu thế kỉ XX, các sĩ phu yêu nước tiếp thu trào lưu tư tưởng mới,tiến hành cuộc vận động cứu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản(Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh) nhưng cũng không thành công,→ Sự nghiệp giải phóng dân tộc lâm vào tình trạng khủng hoảng sâusắc về đường lối cứu nước…+ Sự xâm lược và thống trị của thực dân Pháp ở nước ta làm chomâu thuẫn dân tộc với Pháp lên cao nên nhiệm vụ giải phóng dân tộc làyêu cầu cấp thiết với mọi người dân Việt nam….+ Tác động của quê hương, gia đình và bản thân người thanh niênyêu nước Nguyễn Tất Thành với một mong muốn tìm một con đường cứunước để giải phóng dân tộc. Người khâm phục tinh thần yêu nước của cácvị tiền bối nhưng klhông tán thành con đường cứu nước của họ nên quyếtđịnh tìm con đường mới.Đồng thời, do được tiếp xúa với nền văn minh của nước Pháp,Nguyễn Tất Thành quyết định sang phưiơng Tây để tìm hiểu xem nướcPháp và các nước khác làm thế nào rồi trở về giúp đồng bào, giải phóngTrường THPT Chuyên Thái Bình109HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIdân tộc. Người muốn tìm một con đường cứu nước đúng đắn để giúp đồngbào ta giải phóng dân tộc.→ Trên cơ sở nhận thức đó, ngày 5- 6-1911, Nguyễn Tất Thành lấytên Ba, rời bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước.C. PHẦN KẾT LUẬNTừ thực tế trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi quốc gia qua mộtsố năm khi giảng dạy và ôn tập cho học sinh về giai đoạn lịch sử Việt Namtừ 1858 đến 1918 tôi thường lựa chọn các vấn đề dạy và phương pháp ôntập như đã trình bày ở phần trên. Qua kiệm nghiệm một số năm, bản thântôi thấy việc bồi dưỡng đã có hiệu quả khá rõ rệt, giúp học sinh được trangbị một phần kiến thức khá rộng vì đây là một giai đoạn lịch sử dài, cónhiều nội dung sự kiện, có nhiều vấn đề lịch sử khó. Từ đó học sinh khôngcòn ngại học về giai đoạn lịch sử này và có khả năng ứng phó, giải quyếtcác dạng câu hỏi, đề thi một cách dễ dàng.Tuy nhiên đây chỉ là một số kinh nghiêm của cá nhân tôi khi giảngdạy và ôn tập về giai đoạn lịch sử Việt Nam 1858 – 1918. Đây là ý kiếnchủ quan của cá nhân tôi nên không thể là kinh nghiệm đầy đủ và hoàntoàn không thể không có sai xót gì vì vậy tôi rất mong nhận được sự góp ýchân thành của các quý thầy cô.Trường THPT Chuyên Thái Bình110HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIChuyên đề xếp giải BNhóm GV Lịch Sử trường THPT Chuyên Vĩnh PhúcCHUYÊN ĐỀ:LỰA CHỌN VẤN ĐỀ DẠY VÀ PHƯƠNG PHÁP ÔN TẬP CHO HỌCSINH GIỎI QUỐC GIA KHI GIẢNG DẠY GIAI ĐOẠN LỊCH SỬ VIỆTNAM TỪ 1858 ĐẾN 1918A. PHẦN MỞ ĐẦUĐối với trường THPT chuyên, việc bồi dưỡng học sinh giỏi quốc gialà nhiệm vụ thường xuyên mang tính tất yếu. Vì thế đối với các giáo viêntrường chuyên, đặc biệt là giáo viên lịch sử, công việc này là công việcquan trọng trong từng năm học và mang tính cấp thiết. Giáo viên khôngchỉ làm nhiệm vụ ôn tập, củng cố kiến thức đã học mà còn phải đào tạo đểtìm ra nhân tố, nhân tài là những học sinh có niềm say mê, hứng thú và đặcbiệt là có năng khiếu về môn lịch sử. Việc đào tạo , bồi dưỡng này đượcnghiệm thu qua kết quả học sinh tham gia kì thi học sinh giỏi quốc giamôn lịch sử được tổ chức hàng năm. Do đó, để học sinh tham dự kì thi đạtkết quả tốt thì vấn đề đặt ra là giáo viên cần phải có phương pháp ôn tậpphù hợp và mang tính hiệu quả cao.Mặt khác trong quá trình ôn tập và bồi dưỡng học sinh giỏi quốc gia,nội dung kiến thức lịch sử Việt Nam trong giai đoạn từ 1858 đến 1918 làmột vấn đề lịch sử khá dài và khá khó để học sinh có thể tiếp thu và hiểusâu được nội dung kiến thức phần này. Đồng thời nội dung kiến thức củagiai đoạn lịch sử Việt Nam 1858- 1918 rất quan trọng trong chương trìnhlịch sử Việt Nam vì đây là giai đoạn lịch sử có những kiến thức cỏ sở chocác giai đoạn lịch sử tiếp theo, được coi là mốc mở đầu trong thơi kì lịchsử Việt Nam cận hiện đại. Nếu học sinh không được trang bị kiến thức sâurộng về giai đoạn lịch sử này thì khó có thể đạt kết quả cao được. Vì vậyviệc giúp học sinh nắm chắc phần kiến thức trong giai đoạn giai đoạn lịchsử Việt Nam 1858- 1918 là một yêu cầu cần thiết đối với giáo viên bồidưỡng học sinh giỏi quốc gia. Xuất phát từ những yêu cầu thiết thực nhưTrường THPT Chuyên Thái Bình111HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VItrên, tôi xin mạnh dạn đưa ra một vài ý kiến của mình để trao đổi bàn bạcvề lựa chọn các vấn đề dạy và ôn tập cho học sinh giỏi quốc gia giai đoạnlịch sử Việt Nam từ 1858 đến 1918.B. PHẦN NỘI DUNGI. NỘI DUNG KIẾN THỨC CẦN CUNG CẤP CHO HỌC SINH VỀGIAI ĐOẠN LỊCH SỬ VIỆT NAM 1858 – 19181. Việt Nam trước nguy cơ xâm lược của thực dân Phápa. Tình hình Việt Nam trước khi bị Pháp xâm lược: về kinh tế, chính trị, xãhộib. Quá trình thực hiện âm mưu của thực dân Pháp chuẩn bị xâm lược ViệtNam2. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vũ trang xâm lược ViệtNam(1858 -1984)a. Chống Pháp đánh chiếm Đà Nẵng 1858 – 1859 và các tỉnh Nam Kì 1859- 1862b. Chống Pháp đánh chiếm các tỉnh miền Đông Nam kì 1859 – 1862 và cáctỉnh miền Tây nam kì 1867c. Chống Pháp đánh chiếm Bắc Kì lần 1(1873 – 1883) và lần 2 (1883 1884)d. Chống Pháp đánh chiếm Huế.và nhà Nguyễn đầu hàng hoàn toàn3. Cuộc vận động ở kinh thành Huế và phong trào chống Pháp bìnhđịnh(1885 – 1896)a. Nguyên nhân bùng nổ phong trào Cần Vươngb. Các cuộc khởi nghĩa trong phong trào Cần Vương:Bãi Sậy (1883 – 1892)Ba Đình (1886 – 1897)Hùng Lĩnh (1886 – 1887)Hương Khê (1885 – 1896)c. Phong trào nông dân tự động đứng lên chống pháp:Khởi nghĩa Yên Thế (1884 – 1913)Trường THPT Chuyên Thái Bình112HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI4. Việt Nam trong buổi đầu dưới ách thống trị của thực dân Pháp(1897 -1918)a. Nội dung chương trình khai thác thuộc địa lần 1 của thực dân Phápb. Sự chuyển biến về kinh tế, xã hội Việt Nam sau chương trình khai thácthuộc địa5. Sự ra đời của trào lưu dân tộc chủ nghĩa và cuộc vận động giảiphóng dân tộc đầu thế kỉ XXa. Hoạt động cứu nước của Phan Bội Châub. Hoạt động cứu nước của Phan Chu Trinhc. Phong trào Đông Kinh nghĩa thụcd. Phong trào nông dân Yên thế và vụ đầu độc lính pháp tại Hà Nội6. Việt Nam trong thời kì chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 -1918)a. Tình hình Việt nam trong chiến tranh thế giới thứ nhấtb. Phong trào yêu nước trong những năm chiến tranh:Việt Nam quang phục hộiKhởi nghĩa binh lính Thái NguyênPhong trào công nhânHoạt động của Nguyễn Ái QuốcII. HƯỚNG DẪN PHƯƠNG PHÁP ÔN TẬP CHO HỌC SINH VỀGIAI ĐOẠN LỊCH SỬ 1858 -19181. Yêu cầu trong quá trình ôn tậpa. Nắm chắc kiến thức trong toàn bộ chương trình SGK cơ bản và nângcao của 3 năm học lớp 10, 11 và 12.- Trong nội dung của đề thi HSG quốc gia nằm trong toàn bộ chươngtrình của 3 năm học lớp 10, 11 và 12- Đối với các em học sinh giỏi điều tất yếu phải nắm toàn bộ kiếnthức phổ thông để cung cấp cho mình hệ thống kiến thức toàn diện, tạođiều kiện để có thể so sánh liên hệ các sự kiện hay phần kiến thức kiênquan đến nhau.b. Nắm được những vấn đề quan trọng liên quan đến SGK nâng cao đượccung cấp từ sách tham khảo.- Chương trình ôn tập để thi là phần kiến thức nằm trong SGKnhưng để làm bài thi tốt, cần phải có khối lượng hiến thức mở rộng bênTrường THPT Chuyên Thái Bình113HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIngoài được tham khảo từ các tài liệu tham khảo khác. Khi có kiến thức từcác sách tham khảo sẽ giúp cac em có đủ khả năng để mở rộng kiến thứcliên hệ- Tuy nhiên, giáo viên cần hướng dẫn học sinh biết chọn lọc nhữngcuốn sách tham khảo thiết yếu phục vụ cho thi HSG quốc gia chứ khôngnên tham khảo một cách dàn trải, sưu tầm một cách ồ ạt sách tham khảovừa tốn thời gian lại không biết tập hợp những kiến thức trọng tâm mangtính hiệu quả.c. Cách ôn tập để hiệu quả.- Trong quá trình ôn tập, giáo viên phải giúp học sinh sắp xếp theotừng vấn đề được hệ thống theo thời gian từ trước đến sau.- Cùng với công việc đó, giáo viên cần hướng dẫn học sinh cáchthức phân tích, giải thích và liên hệ với các sự kiện và rút ra các bài họckinh nghiệm.- Cần lập các bảng biểu gắn với các sự kiện theo các mảng kiến thứcvà thời gian khác nhau theo cách phân chia nội dung kiến thức được phânđịnh theo chiều ngang hoặc chiều dọc.- Cần ghi nhớ các sự kiện lịch sử, các con số hay ngày tháng …raquyển sổ tay ghi chép để sẵn sàng tranh thủ học bất cứ lúc nào.- Tìm cách học và ghi nhớ sự kiện cho riêng minh bằng cách gắn cácsự kiện lịch sử với những sự kiện ở ngoài cuộc sống như ngày sinh nhật,….- Thường xuyên luyện tập cho các em làm quen và viết bài của cácđề thi học sinh giỏi quốc gia để các em làm quen.Trước khi cho các em viết bài, giáo viên cần hướng dẫn học sinh cáckĩ năng làm bài lịch sử khi thi học sinh giỏi cần phải lưu ý như thế nàonhư: đọc kĩ đề, phân tích đề, lập dàn ý…Sau khi chấm, giáo viên cần chữa chi tiết các bài viết của các em đểrút kinh nghiệm nhằm tránh các sai xót ở những bài viết sau. Quá trìnhluyện viết bài là công việc quan trọng để giáo viên thấy được những lỗhổng kiến thức của học sinh, từ đó tìm cách khắc phục và bù đắp phầnkiến thức còn yếu của từng học sinh. Đồng thời còn giúp học sinh làm bàiTrường THPT Chuyên Thái Bình114HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIvới tâm lý bình tĩnh, tự tin do có một quá trình luyện viết khi bước vào kìthi học sinh giỏi diễn ra sau đó.2. Luyện các câu hỏi thường gặpCâu hỏi trong phần 1: Việt Nam trước nguy cơ xâm lược của thực dânPhápPhân tích bối cảnh nước ta trước khi bị thực dân pháp xâm lược?Tại sao nói nước ta bị rơi vào tay Pháp là do một phần trách nhiệm củanhà Nguyễn?Hướng dẫn trả lời:Học sinh cần nêu được:- Tình hình nước ta trước khi bị thực dân pháp xâm lược:+ Về kinh tế: Nông nghiệp lạc hậu…Thủ công nghiệp, thương nghiệp đình đốn…Tài chính cạn kiệt…+ Về chính trị:Tầng lớp nhũng nhiễu, bóc lột nhân dân…+ Về xã hội: Mâu thẫn xã hội lên cao, các cuộc khởi nghĩa chống triềuđình nổ ra liên tiếp…+ Về đối ngoại:bế quan tỏa cảng, ngăn sông cấm chợ và biệt đãi ngườiphương Tây…- Trách nhiệm của nhà Nguyễn:+ Trước vận nước nguy nan: Đất nước suy yếu về mọi mặt, thực dân Pháplại ráo riết chuẩn bị xâm lược nước ta nhưng nhà Nguyễn không thực hiệncải cách duy tân đất nước mà ngược lại còn thực hiện chính sách đối ngoạihết sức sai lầm…Điều này càng tạo cơ hội cho Pháp nhanh chóng xâm lược nước ta.+ Khi thực dân Pháp vào xâm lược, nhà Nguyễn đã không chủ động đứnglên đoàn kết nhân dân chống lại Pháp mà lần lượt kí các hiệp ước đầu hàngPháp…→ nhà Nguyễn chịu một phần trách nhiệm trong việc mất nướcQua quá trình thực dân Pháp chuẩn bị xâm lược Việt Nam hãy sosánh âm mưu xâm lược của Pháp với âm mưu xâm lược của phong kiếnphương Bắc đối với nhân dân ta?Trường THPT Chuyên Thái Bình115HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIHướng dẫn trả lời:Học sinh cần nêu được:- Sơ lược quá trình thực dân Pháp chuẩn bị xâm lược nước ta:+ Từ thế kỉ XVII đến nửa đàu thế kỉ XIX, các thương nhân Pháp đến làmăn buôn bán ở Việt Nam. Các giáo sĩ Pháp cũng tích cực gây dựng cơ sở ởnước ta…→ trở thành những người đi tiên phong, vạch đường cho cuộcchiến tranh xâm lược của thực dân Pháp…+ Đến giữa thế kỉ XIX, khi mâu thuẫn Anh – Pháp tạm thời lắng xuống đểtạo liên minh xâu xé Trung Quốc (1856), chính phủ Pháp quyết định đemquân đánh chiếm Việt Nam…- So sánh âm mưu xâm lược của Pháp với âm mưu xâm lược củaphong kiến phương Bắc đối với nhân dân ta:+Giống nhau:Đều có âm mưu thôn tính để thống trị và bóc lột nhân dân Việt NamĐều có sự chuẩn bị kĩ lưỡng trước khi tiến hành đem quân sang đánhchiếm nước ta+ Khác nhau:Âm mưu xâm lược của phong kiến phương Bắc:Tiến thẳng vào kinh đô nước ta để đánh chiếm, buộc triều đình phảiđầu hàng mà không có sự thương thuyết…Trước khi đánh chiếm không cần tạo ra cớ mà chỉ cần dùng vũ lực ồạt để tấn công…Âm mưu xâm lược của thực dân Pháp:Tiến đánh vào vùng không phải kinh đô, dùng chính sách ngoại giaoép buộc để bắt triều đình phong kiến phải từng bước đầu hàng…Trước khi đánh chiếm luôn tạo ra cái cớ rồi sau đó mới tấn công…Tại sao nói nhà Nguyễn đã làm cho việc mất nước ta ở cuối thế kỷXIX từ không tất yếu trở thành tất yếu?Hướng dẫn trả lời:Học sinh cần nêu được:Trường THPT Chuyên Thái Bình116HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI- Nêu bối cảnh thế giới: các nước tư bản phương Tây đang chuyển từgiai đoạn tự do cạnh tranh chuyển sang giai đoạn độc quyền. Nhu cầunguyên liệu, thị trường ngày càng trở nên cấp thiết. Vì vậy các nướcTBCN đua nhau sang phương Đông để xâm chiếm biến thành thuộc địacủa họ…- Nêu bối cảnh lịch sử nước ta trước khi thực dân Pháp xâm lược: vềkinh tế, chính trị, xã hội…- Nêu những sai lầm trong mọi chính sách của triều đình nhà Nguyễnvề kinh tế, chính trị, xã hội và đối ngoại…đã góp phần làm cho đất nướctrở nên suy kiệt, lòng dân li tán nên việc mất nước từ không tất yếu trởthành tất yếu…Câu hỏi trong phần 2: Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp vũ trangxâm lược Việt Nam (1858 -1884)Tại sao thực dân Pháp lại chọn Đà Nẵng để tấn công? Việc thựchiện kế hoạch “ đánh nhanh thắng nhanh” đã bị nhân dân ta đánh bại nhưthế nào?Hướng dẫn trả lời:Học sinh cần nêu được:- Thực dân Pháp lại chọn Đà Nẵng để tấn công vì:+ Đây là một vị trí chiến lược quan trọng – là nơi có hải cảng sâu và rộng,tàu chiến có thể ra vào dễ dàng, lại nằm trên đường thiên lí Bắc – Nam, nếuchiếm được sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Pháp thực hiện kế hoạch “đánhnhanh thắng nhanh”+ Đây cũng là nơi tạo điều kiện để có thể thực hiện âm mưu “lấy chiếntranh nuôi chiến tranh” vì hậu phương Đà Nẵng là đồng bằng Nam – Ngãitrù phú, màu mỡ..- Việc thực hiện kế hoạch “đánh nhanh thắng nhanh” đã bị nhân dânta đánh bại:+ Nêu các sự kiện trong chiến sự ở Đà Nẵng: trong SGKTrường THPT Chuyên Thái Bình117HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VINêu và phân tích nét đặc sắc của cuộc khởi nghĩa vũ trang chốngPháp của nhân dân ta từ sau hiệp ước 1862 đến 1874?Hướng dẫn trả lời:Học sinh cần nêu được:- Nét đặc sắc của cuộc khởi nghĩa vũ trang chống Pháp của nhân dânta từ sau hiệp ước 1862 đến 1874:+ Chiến đấu kịp thời: chiến đấu ngay từ khi thực dân Pháp đặt chân lênbán đảo Sơn Trà ( Đà Nẵng), nhânn dân ta đã có ý thức bảo vệ độc lập dântộc rất cao, không trông chờ vào một lời kêu gọi nào của triều đình ban ra.Họ chiến đấu vì lòng yêu nước và truyền thống dân tộc…+ Xác định đúng kẻ thù dân tộc: Họ xác định quyền lợi dân tộc là trên hết,sẵn sàng gác lại mối thù giai cấp để đặt mối thù dân tộc lên trên vai…+ Tinh thần chiến đấu dũng cảm: nhân dân ta chiến đấu không đòi hỏi bấtcứ điều kiện gì, không đợi triều đình ban chức tước, ban thưởng…họ chiếnđấu vì nghĩa lớn: bảo vệ cuộc sống bình yên…+ Chiến đấu mưu trí, sáng tạo với nhiều hình thức phong phú: du kích, tậpkích..+ Khi triều đình Huế can tâm phản bội lại dân tộc, cắt đất cầu hòa, nhândân nhanh chóng kết hợp nhiệm vụ chống nhiệm vụ chống xâm lược vớichống bộ phận phong kiến đầu hàng…Câu hỏi trong phần 3: Cuộc vận động ở kinh thành Huế và phong tràochống Pháp bình định (1885 – 1896)Khi đánh giá về nguyên nhân bùng nổ của phong trào Cần Vương,có các ý kiến sau:1. Do tinh thần yêu nước và đấu trang của nhân dân Việt nam2. Do chiếu Cần Vương của vua Hàm NghiHãy phát biểu ý kiến của em về vấn đề nàyHướng dẫn trả lời:Học sinh cần nêu được:- Khái quát:Trường THPT Chuyên Thái Bình118HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI+ Một cuộc cách mạng bùng nổ là do các nguyên nhân sâu xa và trựctiếp→ phong trào Cần Vương nổ ra cũng có nguyên nhân sâu xa và trựctiếp.Nguyên nhân sâu xa: Truyền thống yêu nước.Nguyên nhân trực tiếp: Chiếu Cần Vương ban ra.- Phân tích, đánh giá:* Bùng nổ do tinh thần yêu nước và đấu tranh của nhân dân Việt Nam+ Truyền thống yêu nước của dân tộc Việt Nam có từ thời dựng nước. Mỗikhi có kẻ thù xâm lược truyền thống ấy lại được phát huy: Lý, Trần, Lê…+Thời kỳ này, dân tộc ta bị Pháp xâm lược, nền độc lập bị xâm hại → lòngcăm thù của nhân dân ta càng sâu sắc → yêu nước càng mãnh liệt và nhândân ta tiếp tục đấu tranh. Biểu hiện:Lúc có triều đình lãnh đạo nhân dân ta đã đấu tranh: Nguyễn Trung Trực,Hoàng Diệu…Lúc triều đình nhà Nguyễn đầu hàng, bất chấp sự đầu hàng của triều đình,không có người lãnh đạo → nhân dân ta vẫn nổi dậy chống Pháp; quân cờđen của Lưu Vĩnh Phúc…→ Như vậy khi có kẻ thù xâm lược nhân dân ta lại đứng lên đấu tranhphát huy truyền thống yêu nước → ý kiến số 1 là đúng và thực tế phongtrào Cần Vương đã chứng minh ý kiến trên là đúng. Đây chính là nguyênnhân sâu xa của phong trào Cần Vương nhưng khi xét nguyên nhân bùngnổ của một phong trào cách mạng, nguyên nhân sâu xa là chưa đủ mà cầncó nguyên nhân trực tiếp.* Do chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi:+ Nêu qua sự ra đời của chiếu Cần Vương …+ Giải thích “Cần Vương” là giúp vua cứu nước. Theo tiếng Hán: CầnVương là vượt qua mọi khó khăn, gian khổ để giúp vua cứu nước+ Chiếu Cần Vương mang tính tự vệ, chính đáng, gây chuyển biến lớntrong thái độ của tầng lớp sĩ phu, văn thân trong triều đình. Nó tác độngđến mọi tầng lớp có tấm lòng trung quân ái quốc. Làm chuyển biến tưtưởng trung quân ái quốc của các sĩ phu, văn thân, khi chưa có chiếu CầnVương, họ yêu nước bằng cách về quê ở ẩn, khi có chiếu Cần Vương , họđã ra giúp vua cứu nước.Trường THPT Chuyên Thái Bình119HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI+ Chiếu Cần Vương phù hợp với nguyện vọng của nhân dân và là hậuthuẫn cho phong trào nổ ra vì chiếu Cần Vương rất coi trọng quyền lợi củanhân dân, quyền lợi của dân tộc và nó cố gắng hàn gắn quyền lợi của nhândân: “phúc của thần dân tức là phúc của tôn xã” kêu gọi nhân dân.+ Mong muốn của Hàm Nghi và Tôn Tất Thuyết khi hạ chiếu Cần Vươnglà chuyển loạn thành trị, chuyển nguy thành an để khôi phục bờ cõi.+ Chiếu Cần Vương ra đời lúc đó khi tuyệt đại đa số vua quan trong triềunguyễn có tư tưởng thân Pháp chỉ còn một bộ phận của phái chủ chiến chonên chiếu Cần Vương đã thức tỉnh được đồng bào cùng với phe chủ chiếntrong triều đình.→ Như vậy, Chiếu Cần Vương đã tác động mạnh đến tầng lớp sĩ phu vănthân và nhân dân nên truyền thống yêu nước của nhân dân được phát huycao độ khi có một ngọn cờ, một giai cấp, một ông vua yêu nước lãnh đạocho nên nó là duyên cớ trực tiếp làm bùng nổ phong trào Cần Vương.Thực tế phong trào Cần Vương đã minh chứng điều đó với sự hưởng ứngcủa đông đảo quần chúng nhân dân.Ý kiến số 2 đúng nhưng chưa đủ và là duyên cớ trực tiếp.Qua những cuộc khởi nghĩa vũ trang chống Pháp tiêu biểu trongphong trào Cần Vương, hãy đánh giá và nhận xét về phong trào này?Hướng dẫn trả lời:Học sinh cần nêu được:- Bối cảnh lịch sử:+ Sau 2 hiệp ước Hácmăng và Patơnốt mà triều đình Huế kí với Pháp, vềcơ bản Pháp đã đặt ách thống trị trên toàn bộ Việt Nam → Phong tràochống Pháp đã diễn ra trong bối cảnh phức tạp đặc biệt là phong trào CầnVương…- Tóm tắt phong trào:+ Chia làm 2 giai đoạn:Giai đoạn 1: 1885-1888: Dưới sự chỉ huy của một triều đình khángchiến đứng đầu là Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết.Trường THPT Chuyên Thái Bình120HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VINhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra như: Mai XuânThưởng, Lê Trực…Giai đoạn 2: 1888-1896: Đã có bước phát triển mới với những cuộckhởi nghĩa lớn như: Bãi Sậy, Ba Đình…- Đánh giá:+ Lãnh đạo:Văn thân, sĩ phu có học, đỗ đạt hoặc sĩ phu có học nhưng không làmquanNông dân miền núi…→ Mặt tích cựcMặt hạn chế→ Nên họ hưởng ứng chiếu Cần Vương+ Lực lượng:Nông dân…→ Tinh thần chiến đấu dũng cảm+ Mục tiêu: Lập chế độ quân chủ+Hình thức đấu tranh:Khởi nghĩa vũ trang+ Nguyên nhân thất bại:Hạn chế của thời đại (phong kiến nhà Thanh cũng kí các hiệp ước bánnước)+Ý nghĩa lịch sử:Phát động một cuộc chiến tranh nhân dânĐấu tranh vũ trang phải mang tính toàn quốc và có sự chuẩn bị+ Sự kế thừa của Đảng từ phong trào Cần Vương…Thu hút, tập hợp quần chúng nhân dân đứng lên kháng chiến chốngxâm lược vì nền độc lập dân tộc của đất nước.Đấu tranh phải mang tính toàn quốc và có sự chuẩn bịPhát động cuộc chiến tranh nhân dân, huy động sức mạnh toàndân…Trường THPT Chuyên Thái Bình121HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIPhân tích thái độ của các tầng lớp sĩ phu văn thân và quần chúngnhân dân tham gia chiếu Cần Vương chống Pháp?Hướng dẫn trả lời:Học sinh cần nêu được:- Đối với các sĩ phu văn thân:+ Họ vốn là những quan lại, trí thức, người có học trong xã hội phong kiếnViệt Nam lúc đó, họ bị chi phối nặng nề bởi tư tưởng Nho giáo “trungquân ái quốc”. Đối với họ yêu nước là trung thành với vua và ngược lạitrung thành với vua là yêu nước. Ở họ trung quân và ái quốc gắn liền vớinhau. Nhưng khi thực dân Pháp xâm lược đến trước khi chiếu Cần Vươngban ra, các văn thân sĩ phu luôn trong tâm trạng do dự, họ không biết chọncon đường nào: giữa trung thành với vua và yêu nước vì nhà Nguyễn đứngđầu là vua Tự Đức đã không dám đứng lên phát động nhân dân khángchiến chống Pháp mà ngược lại đã từng bước đầu hàng Pháp. Nếu họ theolệnh vua mà bãi binh, đầu hàng thì có tội với dân. Nhưng nếu cùng vớinhân dân đứng lên chống Pháp thì có tội với vua. Đó là bi kịch của các sĩphu, văn thân trong giai đoạn này đẫn đến nhiều cái chết của các sĩ phuvăn thân; Phan Thanh Giản…+ Năm 1885, khi chiếu Cần Vương ban ra đã đáp ứng mong mỏi tư tưởngtrung quân ái quốc của họ. Lúc này họ hiểu rằng cầm vũ khí chống thựcdân Pháp thể hiện tinh thần yêu nước cũng đồng thời thể hiện tinh thầntrung thành với vua của mình.→ Vì vậy, ngay lập tức, các văn thân sĩ phu đã chiêu mộ binh sĩ, hưởngứng chiếu Cần Vương, lãnh đạo phong trào yêu nước…- Đối với quần chúng nhân dân:+ Họ là những người ít chịu ràng buộc bởi tư tưởng “trung quân ái quốc”.Ở họ chỉ có tinh thần yêu quê hương đất nước. Vì vậy, ngay sau khi Phápxâm lược, dù triều đình kêu gọi bãi binh hay chống Pháp thì họ vẫn tự phátđứng lên đấu tranh bảo vệ quê hương đất nước, thậm chí có cuộc khởinghĩa còn chống cả triều lẫn Tây.Trường THPT Chuyên Thái Bình122HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VINêu điều kiện lịch sử và nhận xét về kết cục của các cuộc khởi nghĩa vũtrang chống Pháp cuối thế kỷ XIX?Hướng dẫn trả lời:Học sinh cần nêu được:- Điều kiện lịch sử:+ Năm 1884, triều đình kí với Pháp hiệp ước Patơnốt, chính thức côngnhận quyền thống trị của Pháp ở Việt Nam. Từ đây, Việt Nam trở thànhthuộc địa của Pháp, nhân dân sống cảnh khổ cực, mâu thuẫn giữa nhân dânta với đế quốc Pháp và tay sai ngày càng trở nên sâu sắc. Độc lập tự do làkhát vọng của cả dân tộc, giải phóng dân tộc trở thành yêu cầu cấp thiếtcủa lịch sử.+ Kinh tế: nền nông nghiệp lạc hậu mang đặc điểm của nền kinh tế tự cungtự cấp+ Xã hội: gồm 2 giai cấp cơ bản là địa chủ phong kiến và nông dân. Thựcdân Pháp sử dụng giai cấp địa chủ phong kiến làm bộ máy tay sai nên họđã mất hết vai trò lịch sử, không cò là đại diện cho quyền lợi dân tộc.Trong nội bộ triều đình Huế hình thành 2 phe: chủ chiến và chủ hòa. Bộphận văn thân sĩ phu yêu nước đã đứng ra chịu trách nhiệm lãnh đạo sựnghiệp giải phóng dân tộc+ Tư tưởng: hệ tư tưởng phong kiến vẫn còn tồn tại, chi phối các khuynhhướng cứu nước lúc đó. Bộ phận văn thân sĩ phu đã sử dụng hệ tư tưởngphong kiến làm vũ khí.- Nhận xét về kết cục:+ Nhìn chung, phong trào yêu nước cuối thế kỉ XIX là những phong tràođấu tranh vũ trang chịu sự chi phối của hệ tư tưởng phong kiến.+ Thất bại của phong trào khẳng định sự bất lực của hệ tư tưởng phongkiến trước nhiệm vụ giải phóng dân tộc mà lịch sử đặt ra. Thất bại đó cũngchứng tỏ con đường cứu nước dưới ngọn cờ lãnh đạo của các sĩ phu, vănthân yêu nước theo hệ tư tưởng phong kiến là không thành công, do đó độclập dân tộc không gắn với chế độ phong kiếnTrường THPT Chuyên Thái Bình123HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI+ Mặc dù thất bại nhưng phong trào đó đã đánh dấu một mốc son tronglịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta và để lại nhiều bài học kinhnghiệm quý báu và cổ vũ tinh thần yêu nước cho nhân dân Việt Nam…Câu hỏi trong phần 4: Việt Nam trong buổi đầu dưới ách thống trị củathực dân Pháp (1897 -1918)So sánh điểm giống và khác nhau trong tư tưởng cứu nước của PhanBội Châu và Phan Chu Trinh?Hướng dẫn trả lời:Học sinh cần nêu được:- Giống nhau:+ Đều là những sĩ phu phong kiến nhưng có tư tưởng mới.Là những người yêu nước thương dân, đều có mong muốn cứu nước,cứu dân+ Đều có chí hướng với mục đích là giải phóng dân tộc+ Đều theo dân tộc chủ nghĩa đấu tranh để giành độc lập sau đó đưa đấtnước phát triển theo TBCN.+ Đều thu hút đông đảo quần chúng nhân dân tham gia+ Các hoạt động cứu nước đều thất bại nhưng có những đống góp nhấtđịnh vào phong trào yêu nước ở Việt Nam.- Khác nhau:+ Về chủ trương cứu nước+ Về phương pháp tiến hànhMặc dù khác nhau nhưng 2 xu hướng không bao giờ mâu thuẫn với nhaumà hỗ trợ cho nhau…Đánh giá vai trò của những hoạt động cứu nước của Phan Bội ChâuVà Phan Chu Trinh đối với cuộc vận động giải phóng dân tộc ở Việt NamHướng dẫn trả lời:Học sinh cần nêu được:- Vai trò:Trường THPT Chuyên Thái Bình124HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI+ Đưa vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam một con đườngmới: con đường dân chủ tư sản:Nhận thấy hạn chế và từ bỏ con đường phong kiếnCon đường dân chủ tư sản: mục tiêu, phương pháp đấutranh+ Tiếp nối truyền thống yêu nước của dân tộc:Phát huy ý thức truyền thống dân tộcTinh thần quyết tâm vượt qua mọi khó khăn gian khổ- Hạn chế:+ Sự bế tắc về đường lối+ Xác định kẻ thù, tập hợp quần chúng, phương pháp đấu tranhSo sánh phong trào yêu nước ở Việt Nam cuối thế kỉ XIX với đầu thếkỉ XX có điểm gì giống và khác nhau?Hướng dẫn trả lời:Học sinh cần nêu được:* Giống nhau:- Phong trào yêu nước cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX đều tiếp nối truyềnthống yêu nước của dân tộc (Phát huy ý thức truyền thống dân tộc: yêunước, dũng cảm, kiên cường chống giặc, tinh thần quyết tâm vượt qua mọigian khổ để giành quyền độc lập và giữ gìn nền độ lập dân tộc…)- Phong trào yêu nước cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX đều chưa xác địnhđúng nhiệm vụ cách mạng là đấu tranh chống Pháp, chống phong kiếnphản động tay sai nên đều đi đến kết quả thất bại.* Khác nhau:- Mục tiêu đấu tranh:Cuối thế kỉ XIX: Có thể quay lại chế độ phong kiến lỗi thời vì lãnh đạo làphái chủ chiến trong triều đình: Đinh Công Tráng, Phạm Bành, Tôn ThấtThuyết… nên mang ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến, muốn giải phóngdân tộc nhằm thiết lập một chế độ phong kiến với một ông vua tiến bộ.Trường THPT Chuyên Thái Bình125HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIĐầu thế kỉ XX: Theo hướng TBCN vì lãnh đạo là sĩ phu văn thân mangảnh hưởng của tư tưởng tư sản, muốn giải phóng dân tộc thiết lập một chếđộ dân chủ tư sản: Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh.- Lực lượng tham gia:Cuối thế kỉ XIX: Sĩ phu và đông đảo là nông dân tham giaĐầu thế kỉ XX: Đông đảo các tầng lớp, giai cấp tham gia: Nông dân, tusản, địa chủ, phú nông…- Phương pháp cách mạng:Cuối thế kỉ XIX: Đơn điệu, hình thức đấu tranh giống nhau, chủ yếu là đấutranh vũ tang mang tính nhỏ lẻ, cục bộ, địa phương.Đầu thế kỉ XX: Đa dạng, phương pháp phù hợp với hoàn cảnh có nhiềuđổi thay. Rất nhiều hình thức đấu tranh được tiến hành với 2 xu hướngchính: bạo động và cải cáchCâu hỏi trong phần 5: Sự ra đời của trào lưu dân tộc chủ nghĩa và cuộcvận động giải phóng dân tộc đầu thế kỉ XXNêu điều kiện lịch sử và nhận xét về kết cục của phong trào yêunước ở Vệt Nam đầu thế kỉ XX?Hướng dẫn trả lời:Học sinh cần nêu được:- Điều kiện lịch sử:+ Sự thất bại của cuộc khởi nghĩa Hương Khê, phong trào Cần Vươngchứng tỏ con đường cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến không thànhcông. Trong hoàn cảnh đó, những người yêu nước Việt Nam cần tìm mộtchân lí cứu nước mới+ Kinh tế:Năm 1897, thực dân Pháp bắt tay vào công cuộc khai thác thuộc địa trêntoàn Đông Dương → kinh tế Việt Nam yếu ớt què quặt, lệ thuộc chặt chẽvào tư bản Pháp. Tuy nhiên thành phần kinh tế TBCN đã xuất hiện.+ Xã hội:Trường THPT Chuyên Thái Bình126HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIDo tác động của chương trình khai thác thuộc địa, cơ cấu xã hội Việt Namcó sự biến động: giai cấp cũ bị phân hóa, giai cấp cũ ra đời…+ Tư tưởng:Ngọn cờ cách mạng theo tư tưởng phong kiến đã tỏ ra lỗi thời trước sựnghiệp gải phóng dân tộc.Luồng tư tư tưởng mới đã bắt đầu xuất hiện ở nước ta, góp phần hìnhthành và xuất hiện một luồng tư tưởng mang màu sắc dân chủ tư sản…- Nhận xét:+ Các phong trào yêu nước đầu thế kỉ XX tuy có sự khác nhau về phươngpháp và cách thức hoạt động nhưng đều có điểm chung là chủ nghĩa yêunước, đều nhằm vào mục tiêu cứu nước, giải phóng dân tộc và được chiphối bởi hệ tư tưởng dân chủ tư sản.+ Thất bại cua phong trào khẳng định sự bất lực của hệ tư tưởng dân chủtư sản trước nhiệm vụ giải phóng dân tộc mà lịch sử đặt ra.→ Tình trạng khủng hoảng về đường lối và gai cấp lãnh đạo đã đặt ra bốicảnh lịch sử để Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước.Câu hỏi trong phần 6: Việt Nam trong thời kì chiến tranh thế giới thứnhất(1914 -1918)Tại sao có phong trào yêu nước từ đầu thế kỉ XX đến những năm 20của thế kỉ XX? Đánh giá những đóng góp của phong trào? Giải thích vìsao các phong trào đó lần lượt thất bại?Hướng dẫn trả lời:Học sinh cần nêu được:* Tại vì:- Sau khi phong trào Cần Vương thất bại → cuộc đấu tranh chống Phápcủa nhân dân Việt Nam chưa kết thúc mà vẫn tiếp tục bởi ý chí đấu tranhbất khuấtTrường THPT Chuyên Thái Bình127HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI- Với cuộc khai thác lần 2 ở Đông Dương đã làm cho nền kinh tế ĐôngDương thay đổi, xuất hiện nhiều tầng lớp mới, giai cấp mới trong xã hội,đặc biệt có những suy nghĩ mới về con đường cứu nước- Đầu thế kỉ XX: những luồng tư tưởng mới thổi vào Việt Nam như:+ Tư tưởng cách mạng tư sản Pháp ( Vônte, Rutxô…)+ Cải cách ở Nhật→ được giai cấp tư sản, tiểu tư sản Việt Nam tiếp thu, ứng dụng → kịpthời tạo ra các phong trào yêu nước theo tư tưởng mới* Đánh giá những phong trào:Phong trào Đông Du:- Là 1 phong trào vận động quần chúng sâu rộng, có những đóng góp quantrọng đối với phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam hồi đầu thế kỉ X- Truyền bá được tư tưởng đúng đắn ( nêu rõ kẻ thù của Việt Nam là Pháp,vạch rõ tội ác: bóc lột công khai và bóc lột ngấm ngầm của Pháp, kiên trìchủ trương đánh giặc phục thù )- Qua thơ văn yêu nước→ thúc tỉnh tinh thần cách mạng đấu tranh, cổđộng tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất của dân tộcPhong trào Đông Kinh Nghĩa Thục:- Là tổ chức cách mạng dùng hình thức mở đường để tập hợp lực lượngyêu nước, ý chí đấu tranh vốn đã bị ảnh hưởng sau phong trào Cần Vươngthất bại- Đông Kinh nghĩa thục tuy tuyên truyền cả văn hóa giáo dục nhưng đềunhằm vào việc xác định kẻ thù chính là thực dân Pháp- Là một tổ chức vận động văn hoá mang tính chất dân tộc và dân chủ nênđã góp phần tích cực vào việc phát triển văn hoá dân tộc, ngôn ngữ vănhóa Việt Namphong trào Duy Tân:- Là phong trào yêu nước và cách mạng do một số sĩ phu yêu nước tiến bộkhởi xướng nhằm vận động cải cách văn hoá, gắn liền với việc động viênlòng yêu nước căm thù giặc, đấu tranh cho dân tộc thoát khỏi ách thống trịcủa PhápNgoài ra còn một số phong trào: Yên Thế, Thái Nguyên, đầu độc binhlính Pháp…Trường THPT Chuyên Thái Bình128HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI→ Đánh giá chung: Đây là những tổ chức yêu nước cách mạng, là phongtrào rộng lớn thu hút nhiều quần chúng tham gia, góp phần nâng cao tinhthần yêu nước.* Nguyên nhân thất bại:- Chưa nhận thấy nòng cốt của cách mạng là công nhân và nông dân- Ảo tưởng trong con đường cứu nước- Chưa vạch rõ phương pháp bạo động như thế nào đẻ giành thắng lợi, cóphong trào còn từ bỏ con đường bạo động ( Duy Tân )Phân tích nguyên nhân Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nướcHướng dẫn trả lời:Học sinh cần nêu được:- Nguyên nhân Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước:+ Do thất bại của các con đường cứu nước phong kiến, dân chủ tư sản đặtra yêu cầu là muốn giải phóng dân tộc thì phải có con đường cứu nướcmới.Cuối thế kỉ XIX, nhiều cuộc khởi nghĩa vũ trang chống Pháp: khởinghĩa Ba Đình, Bãi Sậy…Đầu thế kỉ XX, các sĩ phu yêu nước tiếp thu trào lưu tư tưởng mới,tiến hành cuộc vận động cứu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản(Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh) nhưng cũng không thành công,→ Sự nghiệp giải phóng dân tộc lâm vào tình trạng khủng hoảng sâu sắcvề đường lối cứu nước…+ Sự xâm lược và thống trị của thực dân Pháp ở nước ta làm cho mâuthuẫn dân tộc với Pháp lên cao nên nhiệm vụ giải phóng dân tộc là yêu cầucấp thiết với mọi người dân Việt nam….+ Tác động của quê hương, gia đình và bản thân người thanh niên yêunước Nguyễn Tất Thành với một mong muốn tìm một con đường cứunước để giải phóng dân tộc. Người khâm phục tinh thần yêu nước của cácvị tiền bối nhưng klhông tán thành con đường cứu nước của họ nên quyếtđịnh tìm con đường mới.Trường THPT Chuyên Thái Bình129HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIĐồng thời, do được tiếp xúa với nền văn minh của nước Pháp,Nguyễn Tất Thành quyết định sang phưiơng Tây để tìm hiểu xem nướcPháp và các nước khác làm thế nào rồi trở về giúp đồng bào, giải phóngdân tộc. Người muốn tìm một con đường cứu nước đúng đắn để giúp đồngbào ta giải phóng dân tộc.→ Trên cơ sở nhận thức đó, ngày 5- 6-1911, Nguyễn Tất Thành lấy tênBa, rời bến cảng Nhà Rồng ra đi tìm đường cứu nước.C.PHẦN KẾT LUẬNTừ thực tế trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi quốc gia qua mộtsố năm khi giảng dạy và ôn tập cho học sinh về giai đoạn lịch sử Việt Namtừ 1858 đến 1918 tôi thường lựa chọn các vấn đề dạy và phương pháp ôntập như đã trình bày ở phần trên. Qua kiệm nghiệm một số năm, bản thântôi thấy việc bồi dưỡng đã có hiệu quả khá rõ rệt, giúp học sinh được trangbị một phần kiến thức khá rộng vì đây là một giai đoạn lịch sử dài, cónhiều nội dung sự kiện, có nhiều vấn đề lịch sử khó. Từ đó học sinh khôngcòn ngại học về giai đoạn lịch sử này và có khả năng ứng phó, giải quyếtcác dạng câu hỏi, đề thi một cách dễ dàng.Tuy nhiên đây chỉ là một số kinh nghiêm của cá nhân tôi khi giảngdạy và ôn tập về giai đoạn lịch sử Việt Nam 1858 – 1918. Đây là ý kiếnchủ quan của cá nhân tôi nên không thể là kinh nghiệm đầy đủ và hoàntoàn không thể không có sai xót gì vì vậy tôi rất mong nhận được sự góp ýchân thành của các quý thầy cô.Trường THPT Chuyên Thái Bình130HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIChuyên đề xếp loại BCHUYÊN ĐỀ:LỰA CHỌN VẤN ĐỀ DẠY VÀ PHƯƠNG PHÁP ÔN TẬP CHOHSGQG KHI GIẢNG DẠY LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ 1858-1918Nhóm giáo viên lịch sử trường THPT chuyên Lương Văn Tụy – Ninh BìnhA/ ĐẶT VẤN ĐỀMột trong những nhiệm vụ quan trọng của trường THPT chuyên là pháthiện và bồi dưỡng những học sinh giỏi cho quê hương đất nước. Vì vậy, việcbồi dưỡng học sinh cho các kì thi chọn HSG nhất là HSG Quốc gia luôn là vấnđề được các cấp quản lí, các giáo viên trực tiếp giảng dạy quan tâm và trăn trở.Đối với giáo viên các trường chuyên, nhất là giáo viên lịch sử, công việc này rấtcần thiết. Trong quá trình ôn tập, giáo viên không chỉ giúp học sinh củng cốkiến thức đã học, mà còn phải lựa chọn vấn đề dạy và phương pháp ôn tập phùhợp để nâng cao chất lượng bộ môn, tạo cho học sinh sự hứng thú, say mê mônhọc, tham gia thi học sinh giỏi quốc gia đạt kết quả caoĐối với các giáo viên môn Sử thì đây là một công việc hết sức khó khănbởi lẽ hiện nay số các em học sinh yêu thích và muốn gắn bó với bộ môn Lịchsử không nhiều, chất lượng học sinh các lớp chuyên Sử không cao. Do đó theotôi việc các trường chuyên Khu vực Duyên hải và Đồng bằng Bắc bộ tổ chứchội thảo bàn về việc lựa chọn nội dung và phương pháp ôn tập cho HSG Quốcgia khi giảng dạy phần LSVN giai đoạn 1858-1918 (của bộ môn Lich sử) là mộtviệc làm rất có ý nghĩa trong thời điểm hiện nay.Trong chương trình lịch sử Việt Nam giai đoạn 1858-1919 là một giaiđoạn quan trọng trong chương trình lịch sử Việt Nam ở lớp 11. Giai đoạn nàycó rất nhiều sự kiện, nhiều vấn đề có ảnh hưởng đến các giai đoạn sau của cáchmạng Việt Nam. Nội dung kiến thức của giai đoạn này vừa hay lại vừa khó, nóđược đề cập đến trong phần lớn các đề thi chọn HGG khu vực, Quốc gia vì vậynếu không nắm chắc được giai đoạn Lịch sử này, học sinh sẽ khó có thể đạtđược kết quả cao trong các kỳ thi.Trong chuyên đề hội thảo lần này tôi xin đưa ra một số nội dung vàphương pháp ôn luyện mà bản thân tôi đã thực hiện ở giai đoạn LSVN 18581919 để các đồng nghiệp tham khảo và cho ý kiến đóng góp.Trường THPT Chuyên Thái Bình131HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VINội dung chuyên đề gồm 2 phần:Phần I: Lựa chọn nội dung ôn tập cho giai đoạn lịch sử Việt Nam1858-1919Phần II: Phương pháp ôn tậpB/ GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀPhần I: Lựa chọn nội dung ôn tập cho giai đoạn lịch sử Việt Nam1858-19191. Trước hết, giáo viên cần cung cấp cho học sinh các kiến thức cơbản của sách giáo khoa về giai đoạn LSVN 1858- 1919. Sách giáo khoa lịchsử lớp 11 nâng cao đề cập giai đoạn này trong chương I và II- phần lịch sử ViệtNam từ năm 1858-1919 ở các bài 33,34,35,36,37,38,39,40,41 với những nộidung cơ bản sau:CHƯƠNG I: VIỆT NAM TỪ 1858 ĐẾN CUỐI THẾ KỈ XIXI/ Quá trình xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp (1858-1884)1. Tình hình Việt Nam trước khi Pháp xâm lược2. Nguyên nhân Pháp xâm lược Việt Nam3. Quá trình xâm lược Việt Nam của Pháp (các giai đoạn: Pháp đánh Đà Nẵng,Gia Định, Bắc Kì lần 1 và lần 2, Thuận An)4. Nhận xét về quá trình xâm lược Việt Nam của PhápII/ Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1858-1884) :1. Từ 1858- 1862: Tại Đà Nẵng, Gia Định và các tỉnh Nam Kì2. Từ sau Hiệp ước 1862 đến trước khi Pháp đánh Bắc Kì 1873.3. Cuộc kháng chiến ở Hà Nội và các tỉnh Bắc Kì lần thứ nhất (1873-1874)4. Từ sau Hiệp ước 1874 đến trước khi Pháp đánh Bắc Kì lần 2 (1882)5. Cuộc kháng chiến ở Hà Nội và các tỉnh Bắc Kì lần thứ hai (1882-1883)6. Phong trào kháng chiến của nhân dân sau Hiệp ước Hác-măng 1883(Trong phần này giáo viên chia thành các giai đoạn, ở mỗi giai đoạn tìm hiểu 2nội dung: cuộc kháng chiến do triều đình lãnh đạo và phong trào khángchiến củanhân dân từ đó rút ra thái độ chống Pháp của triều đình và nhân dân)III/Trào lưu cải cách, duy tân ở Việt Nam trong những năm cuối thếkỉ XIXTrường THPT Chuyên Thái Bình132HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI1. Hoàn cảnh lịch sử xuất hiện trào lưu cải cách, duy tân2. Nội dung một số đề nghị cải cách, duy tân3. Kết cục và ý nghĩa của những đề nghị cải cách duy tân cuối TK XIXIV/ Phong trào chống Pháp của nhân dân Việt Nam trong nhữngnăm cuối TK XIX1. Phong trào Cần Vương (1885-1896)- Nguyên nhân bùng nổ- Các giai đoạn- Các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu- Nguyên nhân thất bại, ý nghĩa lịch sử- Đặc điểm của phong trào Cần VươngV/ Khởi nghĩa Yên Thế và phong trào đấu tranh của đồng bào miền núi1. Khởi nghĩa Yên Thế:- Nguyên nhân- Các giai đoạn- Nguyên nhân thất bại, ý nghĩa lịch sử2. Phong trào đấu tranh của đồng bào miền núi và các dân tộc thiểu sốCHƯƠNG II: VIỆT NAM TỪ ĐẦU THẾ KỈ XX ĐẾN HẾT CHIẾNTRANH THẾ GIỚI THỨ NHẤTI/ Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp (1897-1914)1. Hoàn cảnh lịch sử2. Nội dung3. Tác động của cuộc khai thác đến tình hình kinh tế, xã hội ở Việt NamII/ Phong trào yêu nước và cách mạng ở Việt Nam từ đầu TK XXđến hết chiến tranh thế giới thứ nhất1. Hoàn cảnh lịch sử2. Chủ trương và hoạt động cứu nước của Phan Bội Châu3. Chủ trương và hoạt động cứu nước của Phan Châu Trinh4. Đông Kinh nghĩa thục5. Vụ đầu độc lính Pháp tại Hà Nội6. Những năm cuối cùng của cuộc khởi nghĩa Yên ThếIII/ Việt Nam trong những năm Chiến tranh thế giới thứ nhất1. Chính sách cai trị của Pháp2. Những chuyển biến về kinh tế, xã hội3. Phong trào yêu nước trong những năm chiến tranhTrường THPT Chuyên Thái Bình133HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI- Hoạt động của Việt Nam Quang phục hội- Cuộc vận động khởi nghĩa của Thái Phiên và Trần Cao Vân- Khởi nghĩa của binh lính Thái Nguyên- Những cuộc khởi nghĩa vũ trang của đồng bào dân tộc thiểu số- Phong trào hội kín ở Nam Kì4/ Sự khởi đầu của một khuynh hướng cứu nước mới trong phong tràogiải phóng dân tộc ở Việt Nam- Phong trào công nhân- Hoạt động của Nguyễn Ái Quốc 1911-1918Trên đây là phần kiến thức cơ bản, tối thiểu mà học sinh cần nắm khi họcvề giai đoạn lịch sử này. Việc nắm chắc kiến thức cơ bản với những sự kiện,nhân vật, địa danh, quy luật và bài học cơ bản… sẽ giúp học sinh vận dụng kiếnthức một cách linh hoạt để giải quyết các loại câu hỏi khác nhau. Trên cơ sở đó,học sinh sẽ chủ động giải quyết các câu hỏi khó kể cả khi gặp phải các vấn đềmà chưa được ôn tập.2. Trên cơ sở học sinh đã nắm chắc kiến thức cơ bản giáo viên hướngdẫn các em chuyển sang ôn tập theo từng chuyên đề có nâng cao (có thể bổdọc hoặc bổ ngang các nội dung lịch sử). Ví dụ:- Lập niên biểu các sự kiện chính trong quá trình xâm lược Việt Nam củathực dân Pháp từ đó rút ra nhận xét.- So sánh thái độ chống Pháp của triều đình nhà Nguyễn và nhân dân- Đặc điểm phong trào kháng chiến chống Pháp 1858-1884- Các hiệp ước mà nhà Nguyễn đã kí với thực dân Pháp- Trách nhiệm của nhà Nguyễn trong việc để nước ta rơi vào tay thực dân Pháp.- Hoàn cảnh lịch sử và đặc điểm phong trào Cần Vương-Thái độ của văn thân sỹ phu và quần chúng nhân dân đối với chiếuCần Vương- Khởi nghĩa Hương Khê- cuộc khởi nghĩa lớn nhất, tiêu biểu nhất trong phongtrào Cần Vương- Nguyên nhân phong trào nông dân Yên Thế kéo dài gần 30 năm- Hoàn cảnh lịch sử và đặc điểm phong trào yêu nước chống Phápcuối TK XIX- Hoàn cảnh lịch sử và đặc điểm phong trào yêu nước chống Pháp đầu TK XX- So sánh phong trào yêu nước cuối TK XIX với phong trào yêunước đầu TK XXTrường THPT Chuyên Thái Bình134HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI- Điểm tích cực và hạn chế trong chủ trương và hoạt động cứu nước củaPhan Bội Châu, Phan Châu Trinh.- So sánh chủ trương và hoạt động cứu nước của Phan Bội Châu và PhanChâu Trinh.- So sánh quá trình tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc với các bậctiền bối.Phần II: Phương pháp ôn tập1. Để giúp học sinh nắm chắc kiến thức cơ bản trong quá trình ôn tập giáo viên:- Chia nội dung ôn tập thành từng giai đoạn nhỏ, từng phần kiến thứctheo trình tự thời gian.- Yêu cầu học sinh lập niên biểu các sự kiện tiêu biểu của từng giai đoạn,từng nội dung- Giáo viên sử dụng phương pháp trao đổi đàm thoại trên lớp để củng cốkiến thức cho học sinh.- Hướng dẫn học sinh sử dụng lược đồ để trình bày, ghi nhớ các sự kiệnlịch sử.2. Đối với phần chuyên đề nâng cao khi ôn tập giáo viên:- Hướng dẫn học sinh tự học, biết kết hợp sách giáo khoa với các tài liệutham khảo ( giáo viên cung cấp cho học sinh một số đầu sách tham khảo củagiai đoạn này)- Tổng hợp các kiến thức mới cần bổ sung cho học sinh theo từng chuyên đề- Trên cơ sở các kiến thức cơ bản và nâng cao cần rèn cho học sinh khảnăng phân tích, đánh giá, rút ra bài học- Giúp học sinh làm quen với các dạng câu hỏi khác nhau của cùng mộtvấn đề.3.Luyện kĩ năng viết bài cho học sinh:- Biên soạn bộ câu hỏi cho giai đoạn 1858-1919- Hướng dẫn học sinh giải quyết các câu hỏi khó.- Cho học sinh viết bài. Trong quá trình viết cần lưu ý rèn các kĩ năng :+ Phân bố thời gian làm bài hợp lí+ Xác định đề, tìm từ khóa của câu hỏi để lựa chọn kiến thức trình bày.+ Lập dàn ý sơ lược sau đó viết bài4.Tiến hành kiểm tra đánh giá:- Kiểm tra miệng trong quá trình ôn tập kiến thức cơ bản và nâng cao- Kiểm tra viết 1 bài tổng hợp sau khi dạy xong chuyên đề.Trường THPT Chuyên Thái Bình135HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI5. Tổng kết lại toàn bộ nội dung giai đoạn 1858-19196. Một số câu hỏi ôn tập theo từng nội dung của chuyên đề:Câu 1: Lập bảng niên biểu về các bước xâm lược Việt Nam của Pháp (từ1858 đến 1884)? Vì sao quá trình xâm lược của Pháp kéo dài gần 30 năm?HD:Giai đoạnTiến trình xâm lược1858-1862 Pháp chiếm 3 tỉnh miền Đông Nam Kì là Gia Định, Định Tườngvà Biên Hòa. Kết thúc bằng Hiệp ước Nhâm Tuất 5-6-1862 (nhàNguyễn nhượng hẳn 3 tỉnh MĐ cho Pháp…)1863-1867 Pháp chuẩn bị và đánh chiếm 3 tỉnh miền Tây Nam Kì là VĩnhLong, An Giang, Hà Tiên1868-1874 Pháp chuẩn bị và tiến đánh Bắc Kì lần thứ nhất. Kết thúc bằngHiệp ước Giáp Tuất 15-3-1874 (nhà Nguyễn chính thức thừanhận 6 tỉnh NK là đất thuộc Pháp…)1875-1882 Chuẩn bị và tiến đánh Bắc Kì lần thứ hai.1883-1884 – Pháp tấn công Thuận An, buộc triều đình Huế kí Hiệp ướcHác-măng (25-8-1883) cơ bản hoàn thành việc XLVN- 6-6-1884, Hiệp ước Patơnốt được kí kết -> Pháp hoàn thànhviệc xác lập nền bảo hộ trên toàn bộ đất nước ta.* Nguyên nhân quá trình xâm lược kéo dài:- Vấp phải tinh thần kháng chiến kiên cường của nhân dân VN (dẫnchứng). Đây là nguyên nhân quan trọng nhất)…- Trong quá trình xâm lược Pháp gặp nhiều khó khăn, phải bận tâm đếnnhững vấn đề khác như chiến tranh ở TQ, CT với Áo trên đất Italia, chiến tranhvới Phổ, công xã Pari…, phải củng cố lực lượng.- Thái độ trù trừ, thăm dò của Pháp…Câu 2: Phân tích thái độ của triều đình và của nhân dân ta trước sựxâm lược của thực dân Pháp từ 1858 đến 1884?HD:- 1/9/1858, Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng, mở đầu xâm lược nước ta.Quân dân ta anh dũng chống trả.Triều đình cử Nguyễn Tri Phương ra chặn giặc,lập phòng tuyến Hoà Vang.- Trong lúc nhân dân Quảng Nam phối hợp với triều đình thì từ NamĐịnh, Đốc học Phạm Văn Nghị dẫn đầu 300 quân lên đường vào Nam xin chiếnđấu. Tại Đà Nẵng, đội nghĩa binh của Phạm Gia Vĩnh đã phối hợp chặt chẽ vớiTrường THPT Chuyên Thái Bình136HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIquân của triều đình chống giặc > bị sa lầy ở ĐN, quân Pháp – Tây Ban Nhabuộc phải thay đổi kế hoạch…- Từ 1859 – 1862:+ Năm 1959, Pháp chuyển hướng tấn công vào Gia Định, quân triều đìnhtan rã nhanh chóng…Tuy nhiên, ngay sau đó giặc Pháp vấp phải những khókhăn mới. Các đội nghĩa quân ngày đêm bám sát, tìm cách bao vây tiêu diệtđịch…> quân Pháp rút xuống các tàu chiến.+ Năm 1860, Pháp phải chia sẻ lực lượng với các chiến trường… chỉ đểlại ở Gia Định khoảng 1000 quân rải trên một chiến tuyến dài 10 km. Quân triềuđình vẫn đóng trong Đại đồn Chí Hoà trong tư thế “thủ hiểm”. Tháng 2- 1861,quân Pháp sau khi thêm lực luợng tấn công Đại đồn Chí Hoà. Quân đội triềuđình chống cự quyết liệt nhưng trước hỏa lực mạnh của địch , đại đồn Chí Hòađã rơi vào tay giặc . Sau đó Pháp chiếm luôn ba tỉnh miền Đông Nam Kì…Quân triều đình chống cự yếu ớt, bị động đối phó… Triều đình kí Hiệp ướcNhâm Tuất với những điều khoản nặng nề…+ Nếu triều đình có thái độ bị động đối phó, thì nhân dân có thái độ chủđộng, hàng nghìn nghĩa dũng do Dương Bình Tâm chỉ huy xung phong đánhđồn Chợ Rẫy…Các toán quân của Trương Định, Trần Thiện Chính, Lê Huy,chiến đấu anh dũng, nghĩa quân của Nguyễn Trung Trực đánh chìm tàu Hi vọngcủa giặc…- Từ 1867 đến trước năm 1873:+ Sau hiệp ước Nhâm tuất, triều đình không tích cực kháng chiến giànhlại vùng đất đã mất, tiếp tục thực hiện chính sách đối nội, đối ngoại thiển cận >quân Pháp đã chiếm gọn 3 tỉnh miền Tây…+ Nhân dân anh dũng chống giặc: anh em Phan Tôn, Phan Liêm, nghĩaquân của Nguyễn Trung Trực đánh chiếm và làm chủ Rạch Giá…Các nhà nhoyêu nước dùng văn thơ làm vũ khí đấu tranh…- 1873 – 1874: Thực dân Pháp đánh Bắc kì lần I:+ Triều đình thương thuyết với Pháp, kí hiệp ước Giáp Tuất, cắt 6 tỉnhcho Pháp. Đánh dấu một bước mới trong quá trình đầu hàng của nhà Nguyễn…+ Quân dân ta chống trả quyết liệt khi Pháp nổ súng đánh thành Hà Nội .Chiến thắng Cầu Giấy 1873.Các cuộc khởi nghĩa của Trần Tấn, Đặng Như Mai..- 1882 – 1883: Thực dân pháp đánh Bắc Kì lần 2 và Trung Kì+ Triều đình kí Hiệp ước Hác – măng (1883) và Hiệp ước Pa-tơ-nôt (1884)Trường THPT Chuyên Thái Bình137HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI+ Chiến thắng Cầu Giấy lần 2 thể hiên rõ quyết tâm tiêu diệt giặc củanhân dân ta…Kết luận: Thái độ của triều đình nhà Nguyễn và nhân dân ta có sự khácnhau: Nhà Nguyễn không kiên quyết chống giặc vì quyền lợi của dòng họ nêntừng bước nhân nhượng và đầu hàng Pháp. Nhân dân không chịu khuất phục,kiên quyết chống giặc ngay từ đầu, cuộc chiến đấu của nhân dân diễn ra liêntục, rộng khắp và quyết liệt.Câu 3: Hoàn cảnh lịch sử và đặc điểm cuộc kháng chiến chống thựcdân Pháp của nhân dân Việt Nam từ 1858-1884?HD:a) Hoàn cảnh lịch sử:- Thế giới:+ CNTB phương Tây đang trên đà phát triển, đẩy mạnh xâm lược thuộc địa…+ Các nước phương Đông trở thành đối tượng xâm lược của thực dânphương Tây ( Đa số các nước phương Đông đang ở trong chế độ phong kiến lạchậu, khủng hoảng. Có một số nước ở châu Á thực hiện cải cách, canh tân đấtnước: Nhật Bản, Xiêm…)- Trong nước:+ Chính sách cai trị của nhà Nguyễn làm cho đời sống nhân dân khổ cực,mâu thuẫn xã hội gay gắt. Các cuộc khởi nghĩa nông dân liên tiếp nổ ra. Chínhsách cấm đạo, diệt đạo của nhà Nguyễn tạo cớ cho Pháp xâm lược Việt Nam.+ Khi Pháp xâm lược, vua Tự Đức không dám đứng về phía nhân dânphát động cuộc kháng chiến toàn quốc mà chỉ lo bảo vệ quyền lợi dòng họ, từchủ chiến đến chủ hòa rồi đầu hàng thực dân Phápb) Đặc điểm:- Các cuộc kháng chiến nổ ra kịp thời, chủ động ngay khi thực dân Phápxâm lược đến khi triều đình đầu hàng…- Các cuộc kháng chiến nổ ra liên tục, bền bỉ…- Mục tiêu đấu tranh: chống Pháp bảo vệ độc lập dân tộc và thống nhấtđất nước.- Lãnh đạo kháng chiến: lúc đầu là triều đình nhưng càng về sau triểuđình càng xa rời, bỏ rơi phong trào quần chúng.- Lực lượng tham gia: đông đảo quần chúng nhân dân, chủ yếu là nông dân- Hình thức đấu tranh: bằng mọi thứ vũ khí, kháng chiến bằng nhiềuhình thức…Trường THPT Chuyên Thái Bình138HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VICâu 4: Trình bày nội dung Hiệp ước Nhâm Tuất( 1862), Hiệp ướcGiáp Tuất (1874), Hiệp ước Hacmăng (1883), Hiệp ước Patơnôt (1884)?Qua nội dung 4 bản Hiệp ước trên anh (chị) có nhận xét gì về nhà Nguyễnkhi kí với Pháp những bản Hiệp ước đó?HD:a/ Nội dung Hiệp ước* Nội dung Hiệp ước Nhâm Tuất (1862)Bản Hiệp ước gồm 12 điều khoản, trong đó có những điều khoảnchính như: Nhượng hẳn cho Pháp 3 tỉnh miền Đông Nam Kỳ…và đảo Côn Lôn,bồi thường 20 triệu quan, mở các cửa biển Đà Nẵng, Ba Lạt, Quảng Yên chothương nhân Pháp và Tây Ban Nha vào tự do buôn bán, kèm theo nhiều nhượngbộ nặng nề khác như chính trị, quân sự.* Nội dung Hiệp uớc Giáp TuấtTheo bản Hiệp ước này, Pháp sẽ rút khỏi Hà Nội và các tỉnh đồng bằngBắc Kì nhưng triều đình Huế phải chính thức thừa nhận chủ quyền của Pháp ở 6tỉnh Nam Kỳ, cam kết mở cửa Thị Nại, của Ninh Hải, tỉnh lị Hà Nội và sôngHồng cho Pháp vào buôn bán. Ở những nơi đó Pháp có quyền mở mang côngnghệ xây dựng kho tàng, thuê mướn nhân công, đặt lãnh sự có quân lính bảo vệ.Nền ngoại giao nước ta lệ thuộc vào đường lối ngoại giao của Pháp.* Nội dung Hiệp ước Hacmăng(1883)- Với hiệp ước này về cơ bản từ đây Việt Nam đã mất quyền tự chủ trênphạm vi cả nước, triều đình Huế đã chính thức thừa nhận sự bảo hộ của Pháp,mọi công việc chính trị, kinh tế, ngoại giao của Việt Nam đều do Pháp nắm.- Tại Huế đặt chức Khâm sứ để thay mặt chính phủ Pháp, viên chức nàycó quyền gặp vua bất cứ lúc nào khi thấy cần thiết.- Tại Hà Nội, Hải Phòng và một số nơi khác đặt chức Công sứ có quânđội bảo vệ và có quyền kiểm soát việc tuần phòng…- Khu vực do triều đình cai trị chỉ còn từ Khánh Hoà ra tới Đèo Ngang…- Quân Pháp đóng ngay tại Thuận An và Huế.- Mọi việc giao thiệp của Việt Nam với nước ngoài cũng do Pháp nắm.- Triều đình phải triệt hồi quân lính đã đưa ra Bác Kì. Pháp được đóngđồn binh dọc theo sông Hồng và những nơi xét thấy cần thiết. Pháp có toànquyền xử trí quân Cờ đen.*Hiệp ước Patơnôt (1884)Trường THPT Chuyên Thái Bình139HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIHiệp ước gồm 19 điều khoản, căn bản dựa trên Hiệp ước Hacmăngnhưng trả lại các tỉnh Bình Thuận và Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh cho triềuđình Huế cai quản như cũ nhằm xoa dịu sự công phẫn của nhân dân ta và muachuộc, lung lạc quan lại…b/ Nhận xét về nhà Nguyễn khi kí 4 bản Hiệp ước trên- Vương triều Nguyễn là một vương triều hèn kém, nhu nhược bởi khiđứng trước sự xâm lược của kẻ thù không đủ khả năng lãnh đạo nhân dân đoànkết đánh giặc, thậm chí còn ngăn cản, đàn áp phong trào chống Pháp của nhândân. Nhà Nguyễn từng bước dâng lãnh thổ nước ta cho Pháp: Từ 3 tỉnh miềnĐông Nam Kỳ (Hiệp ước Nhâm Tuất), 6 tình Nam Kỳ ( Hiệp ước Giáp Tuất)rồi dâng cả nước ta cho Pháp ( Hiệp ước Hacmăng)- Nhà Nguyễn phải chịu trách nhiệm về việc nước ta bị rơi vào tay thựcdân Pháp…Câu 5: Qua những sự kiện lịch sử từ năm 1858 – 1884 em hãy phântích và nêu trách nhiệm của triều đình nhà Nguyễn trong việc để nước tarơi vào tay Pháp?HD:1. Trước nguy cơ xâm lược của CNTB phương Tây, nhà Nguyễn khôngcó chính sách canh tân đất nước làm cho đất nước mạnh lên, đủ sức chống Pháp.Nhà Nguyễn khước từ những cải cách tiến bộ ….. duy trì chính sách bảo thủ,phản động, duy trì chế độ quân chủ chuyên chế đã lỗi thời và thực hiện chínhsách “bế quan toả cảng” …- Khi Pháp xâm lược, chúng ta không có tiềm lực kinh tế vững vàng,quân sự lạc hậu … Đây là nguyên nhân cơ bản để đưa đến việc nước ta rơi vàotay Pháp2. Trong quá trình kháng chiến nhà Nguyễn không có nghệ thuật quân sựđộc đáo, sáng tạo mà còn mắc phải một sai lầm không thể tha thứ là từ bỏ conđường đấu tranh vũ tranh đi theo con đường thương lượng, đầu hàng và từngbước đến đầu hàng hoàn toàn….- Nhà Nguyễn không biết đoàn kết nhân dân mà ngược lại xa rời nhândân, từ chỗ ra rời nhà Nguyễn còn chống lại nhân dân …. Những việc làm đócàng đẩy nhà Nguyễn đi xa nhân dân hơn.3. Trong quá trình kháng chiến nhà Nguyễn không biết chớp cơ hội tốt đểphản công+ 9.1958 – 2.1950 Sa lầy ở mặt trận Đà NẵngTrường THPT Chuyên Thái Bình140HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI+ 1960 khi Pháp đưa phần lớn số quân ở Đà Nẵng , Gia Định sang việntrợ cho chiến trường ở Trung Quốc, Italia ..+ Nhân dân Bắc kì đánh bại ở hai trận Cầu Giấy …- Như vậy từ chỗ không tất yếu nhà Nguyễn đã để việc mất nước ta vàotay Pháp trở thành tất yếu4. Tuy nhiên trong quá trình chống Pháp vua Hàm Nghi và những vị quancủa triều đình Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu …. Đã nêu những tấm gươngcao cả, quyết tâm bảo vê độc lập dân tộc, chủ quyền của đất nước và mãi mãi đivào lịch sử dân tộc.=>Do vậy việc để nước ta rơi vào tay Pháp cuối TK XIX là trách nhiệmcủa một bộ phận lớn vua quan nhà NguyễnCâu 6: Các sĩ phu yêu nước (cuối thế kỉ XIX), đưa ra các đề nghị cảicách duy tân trong bối cảnh lịch sử nước ta như thế nào? Nêu một số đềnghị cải cách tiêu biểu. Vì sao những cải cách đó không thực hiện được.HD:a/ Bối cảnh lịch sử- Nửa sau thế kỉ XIX, kinh tế Việt Nam rơi vào tình trạng suy thoáitrầm trọng…- Bộ máy chính quyền từ Trung ương đến địa phương ngày càng sâu mọt.Triều chính rối ren…- Mâu thuẫn xã hội sâu sắc, nhiều cuộc khởi nghĩa chống triều đình nổ ra….- Thực dân Pháp đang ráo riết mở rộng xâm lược nước ta….- Trên thế giới, các nước phương Tây đã chuyển sang nền văn minh tưbản, Nhật Bản và Xiêm đã cải cách đất nước. Hoàn cảnh đó đã tác động đến bộphận trí thức phong kiến tiến bộ….b/ Một số đề nghị cải cách tiêu biểu+ Trước khi Pháp đánh Hà Nội lần thứ nhất (1873), nước ta rộ lên phongtrào đề nghị cải cách duy tân, với các bản điều trần của Đinh Văn Điền, NgyuễnLộ Trạch, Nguyễn Trường Tộ….Các đề nghị cải cách đều nhằm mục đích đưa đất nước thoát khỏi lạc hậubằng việc hướng theo con đường duy tân của Nhật Bản…..c/ Vì sao những cải cách không thực hiện được.+Vua quan triều Nguyễn bảo thủ không chịu thay đổi….+ Một số đề nghị cải cách không xuất phát từ tình hình thực tế của đấtnước, nặng về học tập mô hình do quan sát được từ nước ngoài…Trường THPT Chuyên Thái Bình141HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VICâu 7: Hoàn cảnh lịch sử, đặc điểm của phong trào Cần Vương ? Vìsao nói cuộc khởi nghĩa Hương Khê là cuộc khởi nghĩa tiêu biểu nhất trongphong trào Cần Vương ?HDa) Hoàn cảnh lịch sử dẫn tới phong trào Cần Vương- Triều đình kí hiệp ước Patơnốt -> Nước ta trở thành thuộc địa, chấm dứtsự tồn tại của nhà nước phong kiến độc lập…- Phái chủ chiến thủ tiêu những phần tử thân Pháp, đưa Ưng Lịch (Hiệu làHàm Nghi) lên ngôi, tích cực chuẩn bị lực lượng, xây dựng sơn phòng… hi vọngkhôi phục chủ quyền đất nước- Trước sự uy hiếp của kẻ thù, Tôn Thất Thuyết – người đứng đầu pháichủ chiến quyết định đánh trước để giành thế chủ động- 4 –> 5/7/1885, cuộc phản công kinh thành Huế thất bại, TTT đưa vuaHàm Nghi ra Tân Sở (Quảng Trị)- 13/7/1885, thay mặt vua Hàm Nghi, ông hạ Chiếu Cần Vương lần thứ nhất- 20/9/1885, TTT ra Chiếu Cần Vương lần thứ hai => Phong trào CầnVương bùng nổb) Đặc điểm của phong trào Cần Vương- Phạm vi: Rộng lớn, diễn ra trong phạm vi cả nước (Bắc kì, Trung kì)sau chuyển lên trung du, miền núi- Quy mô: Số lượng lớn nhưng còn mang tính chất địa phương, chưa cósự liên kết với nhau và trở thành phong trào trên quy mô cả nước- Mục đích: đánh Pháp giành độc lập, khôi phục quốc gia phong kiến độc lập- Lãnh đạo: Các văn thân sĩ phu phong kiến- Lực lượng: Văn thân sĩ phu + nhân dân- Phương pháp: Khởi nghĩa vũ trang- Kết quả: Kéo dài 10 năm, gây cho địch nhiều thiệt hại nhưng cuối cùngbị thất bại- ý nghĩa: Chấm dứt ngọn cờ cứu nước phong kiến, đặt ra những yêu cầumới cho phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam.c) Vì sao nói…- Thời gian: kéo dài nhất- Địa bàn hoạt động: 4 tỉnh…- Tổ chức: Chặt chẽ; vũ khí tự trang bị, được nhân dân ủng hộ.Trường THPT Chuyên Thái Bình142HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI- Phương thức hoạt động và kết quả: Linh hoạt, chủ động mở các cuộc tấncông vào sào huyệt của kẻ thù, gây nhiều tổn thất cho thực dân PhápCâu 8: Chiếu Cần Vương được ra đời như thế nào? Thái độ củaquần chúng nhân dân, văn thân, sĩ phu đối với chiếu Cần Vương? Nguyênnhân thất bại, ý nghĩa lịch sử của phong trào Cần VươngHD:1. Sự ra đời chiếu Cần VươngSau hai Hiệp ước Hác măng (1883) và Patơnốt(1884)…Tôn Thất Thuyếtnuôi hi vọng khôi phục lại chủ quyền nếu có thời cơ. Đêm 4 rạng 5-71885…Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết ra chiếu Cần Vương kêu gọi văn thân sĩphu và giai cấp nông dân cầm vũ khí chống thực dân Pháp, giúp vua cứu nước2. Thái độ của các văn thân sĩ phu và nông dâna. Thái độ của các văn thân sĩ phu- Văn thân sĩ phu: họ là những tri thức, những người có học, những quanlại hay đã nghỉ hưu trong xã hội phong kiến Việt Nam. Họ bị chi phối bởi tưtưởng Nho giáo, tư tưởng “trung quân, ái quốc”. Đối với họ, yêu nước là phảitrung thành với nhà vua. Các tư tưởng Nho giáo đó đã chi phối toàn bộ nhữnghoạt động cống hiến của họ- Trước khi có chiếu: Từ khi Pháp xâm lược Việt Nam (1858 – 1884), họluôn bị dằn vặt, trăn trở, luôn đứng trước sự lựa chọn giữa vua và nước khi triềuđình nhà Nguyễn (đứng đầu là vua Tự Đức) nhu nhược đầu hàng giặc, khôngđứng về phía nhân dân, về phía dân tộc chống lại Pháp. Thậm chí Tự Đức nhiềulần còn kêu gọi bãi binh, chủ hòa, tỏ thái độ hèn nhát. Cho nên các văn thân sĩphu không biết chọn con đường nào. Nếu theo lệnh vua mà bãi binh thì có tộivới nước và ngược lại, nếu thể hiện tinh thần yêu nước, cầm vũ khí chống thựcdân Pháp thì bất trung.Những cái chết của Phan Thanh Giản, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệuthể hiện nỗi trăn trở trong tư tưởng của họ. Chết mà không biết mình hoạt độngđúng hay sai.- Khi có chiếu Cần Vương: Năm 1885, khi có chiếu Cần Vương kêu gọicác văn thân chống Pháp cứu nước giúp vua đã đáp ứng được tư tưởng trungquân ái quốc của họ. Đến đây, nước và vua thống nhất là một. Chiếu CầnVương đã đáp ứng được nguyện vọng tha thiết của họ là trung với nhà vua, thểhiện lòng yêu nước.Trường THPT Chuyên Thái Bình143HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIChính vì vậy, ngay lập tức khi có chiếu ban ra, các văn thân sĩ phu chiêumộ quân sĩ, tiến hành khởi nghĩa. Nhiều người đã cáo quan, ở ẩn khi có chiếuCần Vương đã đứng ra tập hợp, chiêu mộ quân sĩ tiến hành khởi nghĩa như PhanĐình Phùng.b. Thái độ của quần chúng nhân dân- Quần chúng nhân dân: Nhân dân là những người hiểu hơn ai hết giá trịcủa độc lập, tự do. Đối với họ chỉ có một tinh thần yêu quê hương đất nước =>phong trào đấu tranh tự phát nổi dậy chống thực dân Pháp.Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, thậm chí họ còn chống cả triều đìnhlẫn thực dân Pháp.- Trước khi có chiếu Cần Vương: Từ năm 1858 khi Pháp xâm lược ViệtNam đến 1884, thực dân Pháp tiến đến đâu cũng vấp phải sự kháng cự của đông đảoquần chúng. Chính cuộc đấu tranh của nhân dân ta đã chặn bước tiến của Pháp, buộcthực dân Pháp phải mất gần 30 năm mới hoàn thành được cuộc xâm lược.- Khi có chiếu Cần Vương: họ được các văn thân sĩ phu giáo dục, tuyêntruyền, tập hợp, lôi kéo họ đấu tranh. Do đó, họhưởng ứng nhiệt tình hơn, hăng hái hơn, chiến đấu sáng tạo hơn3. Nguyên nhân thất bại- Thiếu một đường lối lãnh đạo đúng đắn- Không phát triển, không liên kết các cuộc khởi nghĩa với nhau. Do đó,không tiến hành được cuộc chiến toàn dân- Các phong trào dựa vào địa thế hiểm trở thuận lợi cho đánh du kíchnhưng không thể phản công, rút lại, cách đánh giặc thủ hiểm là chính, hậu cầntại chỗ.- Thực dân Pháp mạnh, vũ khí hiện đại.Câu 9: Điểm giống và khác nhau giữa hai phong trào: nông dân YênThế và Phong trào Cần Vương?HD:1. Giống nhau:- Đều là phong trào yêu nước chống Pháp của nhân dân ta.- Đều có sự tham gia đông đảo của các tầng lớp nhân dân.- Đều thất bại …2. Khác nhau:- Lãnh đạo:Trường THPT Chuyên Thái Bình144HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI+ Phong trào Cần Vương: Văn thân sĩ phu yêu nước dưới ngọn cờ CầnVương.+ Phong trào nông dân Yên Thế: Nông dân đứng đầu là Đề Thám- Mục tiêu:+ Phong trào Cần Vương: Chống Pháp giành lại độc lập dân tộc.+ Phong trào nông dân Yên Thế: Mong muốn xây dựng cuộc sống bìnhquân bình đẳng, sơ khai về kinh tế và xã hội.- Địa bàn hoạt động:+ Phong trào Cần Vương: Địa bàn hoạt động rộng khắp Bắc Kì và Trung Kì+ Phong trào nông dân Yên Thế: Vùng núi rừng Yên Thế của Bắc Giang.- Tính chất:+ PT Cần Vương: Là phong trào đấu tranh yêu nước chống Pháp theokhuynh hướng phong kiến….+ Phong trào Yên Thế: Là phong trào nông dân mang tính tự phát.- Thời gian:+ Phong trào Cần Vương phát triển qua hai giai đoạn và kết thúc sớm hơnPTND Yên Thế ( 1885 – 1896)+ Phong trào nông dân Yên Thế phát triển qua 3 giai đoạn và kết thúctrước khi chiến tranh thế giớithứ nhất nổ ra (1884 – 1913).* Điểm khác nhau căn bản giữa phong trào nông dân Yên Thế và phongtrào Cần vương là: Phong trào Cần vương gồm những cuộc khởi nghĩa hưởngứng chiếu Cần Vương với mục đích giúp vua cứu nước, hưởng ứng lời kêu gọicủa triều đình.- Còn phong trào nông dân Yên Thế nhằm mục đích chống chính sáchcướp bóc và bình định quân sự của thực dân Pháp, các xóm làng của nông dântừ các nơi tụ họp về nương nhờ lẫn nhau để sinh sống và chống lại các thế lựcđe doạ từ bên ngoài, họ tự dựng mình đứng lên để bảo vệ cuộc sống của mình,đó là phong trào mang tính tựu phát (tính chất tự vệ) của nông dân.- Vì vậy không thể xếp phong trào nông dân Yên Thế vào phong tràoCần vương.Câu 10: Hoàn cảnh lịch sử, đặc điểm của phong trào yêu nước cáchmạng ở Việt Nam đầu thế kỉ XX.HDa.Hoàn cảnh lịch sửTrường THPT Chuyên Thái Bình145HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI- Thế giới:- Trào lưu DCTS cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX được truyền bá rộng rãiở Châu Á tạo ra thời kì “Châu Á thức tỉnh” với làn sóng Duy tân diễn ra ởnhiều nước….- Ảnh hưởng của cuộc Duy tân Mậu Tuất (1898) và cách mạng TânHợi ở Trung Quốc- Ảnh hưởng từ Nhật Bản với thuyết “Đại Đông Á” tới làn sóng Đông Dutìm kiếm sự giúp đỡ và học tập Nhật Bản- Ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản từ Châu Âu ….b/Trong nước:- Cuộc khai thác thuộc địa của Pháp đã làm xã hội Việt nam phânhóa và xuất hiện những giai tầng mới như tư sản, tiểu tư sản, công nhân… tạo rayếu tố bên trong để tiếp thu luồng tư tưởng mới- Ngọn cờ cứu nước phong kiến đã thất bại khiến các nhà cách mạngphải tìm một hệ tư tưởng mới …b.Đặc điểm.- Lãnh đạo: Văn thân, sĩ phu yêu nước tiến bộ. Họ được đào tạo trongnền khoa cử cũ nhưng đã tiếp thu tư tưởng mới của thời đại: không còn là “trung quân, ái quốc” mà là gắn “nước” vơí “ dân”.- Mục tiêu: đánh đuổi thực dân Pháp, giành độc lập dân tộc, xây dựng chếđộ tiến bộ vì dân.- Lực lượng tham gia: Nông dân ( người Kinh, dân tộc ít người miếnnúi), công nhân, các tầng lớp công thương, binh lính người Việt yêu nước trongquân đội Pháp.- Hình thức đấu tranh phong phú:Bạo động vũ trang ( khởi nghĩa củabinh lính ở Huế 1916, ở Thái Nguyên 1917…), lập các tổ chức chính trị ( HộiDuy tân, Việt Nam Quang phục hội), ngoại giao, cải cách xã hội: mở trườnghọc kiểu mới, lập hội buôn, công ty,diễn thuyết, bình văn, biểu tình…- Kết quả, ý nghĩa: Thất bại vì chưa có những điều kiện chín muồi về kinh tế xã hội nhưng đã tiếp nối truyền thống yêu nước của dân tộc. Chứng tỏ sự khủnghoảng lãnh đạo và đường lối cứu nước, dọn đường cho phong trào cách mạngsau Chiến tranh thế giới thứ nhất.Trường THPT Chuyên Thái Bình146HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VICâu 11: So sánh những điểm giống và khác nhau giữa xu hướng bạođộng và xu hướng cải cách đầu thế kỉ XX. Vì sao các xu hướng này đều thấtbại? Sự thất bại của 2 xu hướng nói lên điều gì?HD* Khái quát hai xu hướng:- Xu hướng bạo động (đứng đầu là Phan Bội Châu): chủ trương dựa vàosự giúp đỡ bên ngoài chủ yếu là NB để tiến hành đấu tranh vũ trang chống Phápgiải phóng dân tộc. Phong trào tiêu biểu: Duy tân hội (5-1904), PT Đông Du(1905-1908), thành lập VN QP hội (6-1912)…- Xu hướng cải cách (đứng đầu là Phan Châu Trinh): chủ trương dùngnhững cải cách chính trị, KT, VH làm cho dân giàu nước mạnh để buộc thựcdân Pháp phải trao trả độc lập cho VN. Tiêu biểu: PT Duy tân ở Trung Kì 19061908, Đông Kinh nghĩa thục 1907…* Điểm giống của hai xu hướng:- Xuất phát từ tinh thần yêu nước, vận động giải phóng dân tộc theokhuynh hướng tư sản- Xác định được 1 trong 2 kẻ thù, 1 trong 2 nhiệm vụ của CMVN … màchưa gắn hai nhiêm vụ với nhau.- Lực lượng tham gia: nhiều tầng lớp (văn thân sĩ phu tiến bộ, CN, nôngdân, binh lính, học sinh…) nhưng chưa xác định được nòng cốt là liên minhcông-nông.Trong đó các văn thân sĩ phu tiến bộ giữ vai trò lãnh đạo.- Cuối cùng đều thất bại…Tuy nhiên đã dấy lên phong trào yêu nước theokhuynh hướng mới, có những đóng góp nổi bật về văn hoá, thức tỉnh lòng yêunước của quần chúng nhân dân, đánh dấu bước tiến mới của PT yêu nước vàCM VN.* Điểm khácNội dungXu hướng bạo độngXu hướng cải cáchKẻ thù trước mắt- Là đế quốc Pháp- Là chế độ phong kiếnNhiệm vụ, mục tiêu trước – Chống Pháp (nhấn mạnh – Chống phong kiến (Nhấnmắtvấn đề giải phóng dân tộc, mạnh cải cách dân chủ,cứu nước để cứu dân)cứu dân để cứu nước)Hình thức, phương pháp – Bạo động vũ trang- Cải cáchđấu tranh- Bí mật, bất hợp pháp … – Công khai, hợp pháp…Đồng minh- Dựa Nhật và phong – Dựa vào đế quốc Pháp.kiếnTrường THPT Chuyên Thái Bình147HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI* Sự thất bại của các xu hướng này chứng tỏ:- Sự bất lực của hệ tư tưởng tư sản trước yêu cầu giành độc lập dân tộc,chứng tỏ con đường giải phóng dân tộc dưới ngọn cờ TS không thành công- Sự nghiệp giải phóng dân tộc lâm vào thế bế tắc “đen tối tưởng chừngkhông có đường ra”. Đó là tình trạng khủng hoảng về đường lối và giai cấp lãnhđạo CMVN -> đặt ra yêu cầu bức thiết phải tìm một con đường cứu nước mới.C/ KẾT LUẬN:Để công tác ôn luyên học sinh giỏi nhất là HSG Quốc gia đạt kết quả caođòi hỏi sự cố gắng nỗ lực rất lớn của thày và trò. Trong đó, vai trò của ngườithầy là rất lớn. Người thầy phải tạo được động cơ, khơi gợi được hứng thú họctập, niềm khát khao tìm hiểu kiến thức của học sinh. Để làm được điều đó ngườithầy phải căn cứ vào từng đối tượng học sinh cụ thể, biết lựa chọn nội dung kiếnthức và có phương pháp ôn luyện hiệu quả. Từ thực tế trong công tác bồi dưỡnghọc sinh giỏi Quốc gia tại trường THPT chuyên, khi giảng dạy giai đoạn lịch sửViệt Nam từ 1858 – 1919 tôi thường lựa chọn các vấn đề dạy và phương phápôn tập như trên. Kết quả là học sinh đã nắm chắc kiến thức một cách có hệthống, có khả năng tư duy độc lập, sáng tạo, đáp ứng được yêu cầu của các dạngcâu hỏi khác nhau trong đề thi, đạt kết quả cao.Trên đây là một số ý kiến của cá nhân tôi trong quá trình giảng dạy họcsinh giỏi quốc gia giai đoạn lịch sử Việt Nam từ 1858-1919. Rất mong nhậnđược sự góp ý, trao đổi kinh nghiệm của các đồng nghiệp để công tác bồi dưỡnghọc sinh giỏi môn Lịch sử đạt kết quả cao.Xin chân thành cám ơn!Trường THPT Chuyên Thái Bình148HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIChuyên đề xếp loại BPHƯƠNG PHÁP ÔN THI HỌC SINH GIỎI QUỐC GIA PHẦNLỊCH SỬ VIỆT NAM 1858 – 1918CHUYÊN ĐỀ PHONG TRÀO DUY TÂN Ở VIỆT NAMCUỐI THẾ KỈ XIX ĐẦU THẾ KỈ XXGiáo viên: Nguyễn Thị TâmTrường: THPT chuyên Lào CaiA. PHẦN MỞ ĐẦU1. Lí do chọn đề tài.Bồi dưỡng học sinh giỏi là một trong những hoạt động vất vả, khó khănvà thử thách đối với những người làm nghề dạy học. Hoạt động này là công tácquan trọng , giúp cho ngành giáo dục phát hiện nhân tài trong từng lĩnh vực, lựachọn mầm giống tương lai cho đất nước trong sự nghiệp trồng người. Đồng thờithúc đẩy niềm say mê của học sinh đối với bộ môn học và có định hướng đúngvề nghề nghiệp trong tương lai. Bồi dưỡng học sinh giỏi môn lịch sử ở trườngTHPT cũng không nằm ngoài mục đích đó.Nội dung ôn luyện phục vụ cho thi học sinh giỏi Quốc gia hầu như baoquát toàn bộ chương trình lịch sử ở cấp học bao gồm cả lịch sử thế giới và ViệtNam. Trong đó, giai đoạn lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX làthời kì nước ta có những biến đổi hết sức to lớn. Thực dân Pháp xâm lược vàbiến nước ta thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến. Chế độ phong kiến ViệtNam cùng với hệ tư tưởng Nho giáo ngày càng tỏ ra bất lực trước yêu cầu củacông cuộc chống ngoại xâm vì nền độc lập dân tộc. Trong bối cảnh đó, một sốnhà tư tưởng tiêu biểu, từ Phạm Phú Thứ, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Trường Tộ,Nguyễn Lộ Trạch… đến Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh,… đã thực hiện mộtbước chuyển tư tưởng chính trị có ý nghĩa lịch sử to lớn. Từ sự phê phán hệ tưtưởng phong kiến, các ông đã đề xuất tư tưởng canh tân vào cuối thế kỷ XIX vàsau đó, khởi xướng tư tưởng dân chủ tư sản vào đầu thế kỷ XX, tạo nên ảnhhưởng lớn đối với xã hội Việt Nam.Đi sâu vào tìm hiểu về giai đoạn lịch sử này ở nước ta, đã có nhiều côngtrình nghiên cứu về nội dung phong trào duy tân cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉXX; chương trình sách giáo khoa nâng cao lớp 11 bài 35 và trong chương trìnhchuyên sâu do Bộ Giáo dục Đào tạo soạn thảo có một chuyên đề chuyên sâu vềTrường THPT Chuyên Thái Bình149HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIphong trào duy tân. Tuy nhiên các tác giả mới chỉ đề cập đến các nội dung cụthể mà chưa mà chưa nêu ra các tình huống có vấn đề để phục vụ cho công tácôn và luyện thi học sinh giỏi.2. Mục đích của đề tài.Đề tài tập chung vào nghiên cứu, đưa ra các tình huống có vấn đề vàhướng dẫn học sinh ôn luyện để phục vụ cho thi học sinh giỏi quốc gia và quatìm hiểu phong trào duy tân để rút ra những bài học kinh nghiệm trong thực tiễncuộc sống.Chính vì vậy, tôi đã chọn đề tài Phong trào duy tân ở Việt Nam cuối thếkỉ XIX, đầu thế kỉ XX làm một phần nội dung ôn luyện trong bồi dưỡng họcsinh giỏi Quốc gia.B. NỘI DUNG1. Nội dung học sinh làm việc ở nhà 1 tuần trước khi học:Trước buổi học, giáo viên yêu cầu học sinh:- Đọc tài liệu: Sách giáo khoa lịch sử lớp 11 nâng cao của NXB GD,chuyên đề Tư tưởng canh tân ở Việt Nam cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX củaPGS. TS Nguyễn Trọng Văn trong cuốn Một số chuyên đề lịch sử Việt Nam –nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, chuyên đề Một số cuộc cải cách tư sảnở châu Á cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX của Khoa sư phạm lịch sử trường đạihọc An Giang năm 2009 và một số bài báo trên mạng về vấn đề duy tân ( bàibáo Cải cách ở Xiêm và Việt Nam cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX – những nguyênnhân thành bại của Nguyễn Quang Minh).- Học sinh làm việc theo nhóm ( chia học sinh thành hai nhóm) tìm hiểucác nội dung sau:+ Hoàn cảnh lịch sử ( trong nước, ngoài nước), nội dung và kết cục củaphong trào phong trào duy tân ở nước ta cuối thế kỉ XIX.+ So sánh phong trào duy tân ở nước ta cuối thế kỉ XIX với công cuộc cảicách ở Xiêm cuối thế kỉ XIX.+ Hoàn cảnh lịch sử ( trong nước, ngoài nước), đặc điểm, nhận xét vềphong trào phong trào duy tân ở nước ta đầu thế kỉ XX.+ So sánh trào phong trào duy tân ở nước ta đầu thế kỉ XX với phong trào duytân cuối thế kỉ XIX.2. Nội dung ôn luyện trong buổi học:Giáo viên yêu cầu các nhóm lên trình bày nội dung đã chuẩn bị, sau đócác nhóm nhận xét, giáo viên chốt ý và học sinh ghi chép những kiến thức sau:Trường THPT Chuyên Thái Bình150HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIPhương pháp ôn luyệnKiến thứcPHONG TRÀO DUY TÂN Ở VIỆT NAM CUỐI THẾ KỈ XIXTrả lờiCâu 1: Đề nghị cải cách, Hoàn cảnh lịch sử ra đời các đề nghị cải cách,duy tân ở nước ta trong duy tân ở nước ta.những năm cuối thế kỉ XIX – Tình hình thế giới và khu vực:được đưa ra trong hoàn + Thế giới: các nước tư bản phương Tây đangcảnh lịch sử như thế nào ? phát triển nhanh, đẩy mạnh quá trình xâm chiếmHoặc: Tại sao nói canh tân thuộc địa.là một yêu cầu cấp thiết ở + Khu vực: Giữa thế kỉ XIX, châu Á trở thành đốiViệt Nam nửa sau thế kỉ tượng xâm lược chủ yếu của chúng. trước tìnhhình đó, một số nước đã tiến hành cải cách theoXIX?hướng tư bản chủ nghĩa: từ 1851, vua Xiêm – Rama IV chủ trương mở cửa buôn bán với bên- Học sinh:+ Nhóm 1 trình bày nội ngoài; 1868, Ra ma V tiến hành một cuộc cải cáchdung.( viết ý khái quát lên toàn diện. Nhật Bản từ 1868 tiến hành cuộc Duybảng hoặc trình chiếu nội tân Minh Trị.dung hoặc đọc nội dung trả – Tình hình Việt Nam:+ Chính Trị: Thực dân Pháp nổ súng xâm lượclời)từ 1858, 1862 nhà Nguyễn đã cắt 3 tỉnh miềnĐông cho thực dân Pháp và chúng đang ráo riết+ Nhóm 2: Nhận xét, góp ý.- Giáo viên: nhận xét, chốt mở rộng xâm lược, đến 1867 thì 6 tỉnh Nam Kìý học sinh ghi chép nội rơi vào tay thực dân Pháp. Chế độ phong kiếnnước ta ngày càng khủng hoảng nghiêm trọng:Bộdung.- Giáo viên trích tư liệu máy chính quyền trở nên sâu mọt; địa chủ, cườnghào ức hiếp nhân dân.tham khảoNgày nay các nước + Kinh tế kiệt quệ: nông nghiệp sa sút, thủ côngphương Tây đã bao chiếm nghiệp và thương nghiệp bế tắc, tài chính cạn kiệtsuốt từ Tây Nam cho đến (do nhà Nguyễn tăng cường bóc lột để bồi thườngĐông Bắc, toàn lãnh thổ chiến phí cho Pháp theo Hiệp ước Nhâm Tuấtchâu Phi cho tới Thiên 1862).+ Quân sự : lạc hậu .Phương, Thiên Trúc, Miến+ Chính sách đối ngoại sai lầm: thần phục, dựaĐiện, Xiêm La, Tô Môndẫm vào nhà Thanh, đóng cửa với các nướcTrường THPT Chuyên Thái Bình151HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIĐáp Lạp, Trảo Oa, LữTống, Cao Ly, Nhật Bản,Trung Quốc và các đảo ởngoài biển, kể cả Tâychâu, không đâu là khôngbị chẹn họng bám lưng.Nước Nga thì từ Tây Bắcđến Đông Nam gồm tất cảcác nước Đại Uyển, CốtLợi Cán, Mông Cổ và cácxứ ở Bắc Mãn Châu,không đâu là không chiếmđất và nô dịch dân nhữngnơi đó. Ở trên lục địa, tấtcả những chỗ nào có xethuyền đi đến, con ngườiđi qua, mặt trời, mặt trăngsoi chiếu, sương mù thấmđọng thì người Âu đều đặtchân đến, như tằm ăn cánuốt, ở đâu thuận với họthì phúc, chỗ nào trái với họ thì họa; ai hòa với họ thìđược yên, ai cự lại thìdùng binh lực giao tranh;trong thiên hạ không aidám kháng cự lại họ”Trích: Nhật Bản và cảicách Minh Trị (1868)trong nhận thức củaNguyễn Trường Tộ -phương Tây (tuy đã bắt đầu cứ người sangphương Tây học kĩ thuật và vào Nam học tiếngPháp) khiến nước ta rơi vào thế cô lập với bênngoài.+ Xã hội: Các cuộc khởi nghĩa và bạo loạn chốngtriều đình bị đàn áp đẫm máu làm cho tài lực, binhlực của triều Nguyễn thêm suy sụp, mâu thuẫn xãhội thêm sâu sắc, thế nước ngàỳ càng suy yếu.- Trước vận nước nguy nan, con đường duy nhấtđưa đất nước ra khỏi khủng hoảng, trở nên phúcường, thoát khỏi số phận thuộc địa là phải tiếnhành cải cách. Một số quan lại, sĩ phu yêu nướctiến bộ như Nguyễn Hiệp , Phạm Phú Thứ ,Đinh Văn Điền , Nguyễn Lộ Trạch , NguyễnTrường Tộ …đã đưa ra các đề nghị cải cách duytân.Phần lớn các đề nghị cải cách ở nước ta lạikhông được thực hiện, nguyên nhân chủ yếu là dothái độ bảo thủ, cố chấp của triều Nguyễn, đứngđầu là Tự Đức.Trả lờia. Nội dung:Về cơ bản, các học giả tham gia phong trào đềucó ý muốn cải cách nhằm chấn hưng đất nước- Sau khi đi sứ sang Pháp, tận mắt chứng kiến sứcmạnh và tầm quan trọng của kĩ thuật, công thương- Phan Thanh Giản đã bày tỏ ý muốn duy tân.- 1868: Đinh Văn Điền đề nghị mở mang khai mỏ,đóng tàu, biệt đãi người phương Tây, khai thôngbuôn bán, học binh thư và huấn luyện quân độitheo lối mới …- Năm 1868, Trần Đình Túc và Nguyễn Huy Tếxin mở cửa biển Trà Lí (Nam Định). Đinh VănĐiền xin đẩy mạnh việc khai khẩn ruộng hoang vàkhai mỏ, phát triển buôn bán, thương nghiệp, chấnTrường THPT Chuyên Thái Bình152HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VINguyễn Tiến Dũngchính quốc phòng…Câu 2: Trình bày nội dungvà nhận xét về các đề nghịduy tân ở nước ta cuối thếkỉ XIX, đầu thế kỉ XX,- Đáng chú ý nhất trong những nhà cải cách chínhlà Nguyễn Trường Tộ (1830 – 1871). Từ năm1863 đến 1871 tức là đến lúc mất, ông vẫn kiên trìgửi lên vua Tự Đức gần 60 bản điều trần xin canhtân đất nước. Quan trọng nhất là Cấp tế bát điềuvới nội dung chủ yếu là chấn chỉnh bộ máy nhànước, điều chỉnh một số hoạt động ngoại thương,công nông nghiệp đất nước…- Tư tưởng của Nguyễn Lộ Trạch. Vào các năm1877 và 1882, ông lần lượt dâng lên nhà vua 2bản “Thời vụ sách thượng” và “Thời vụ sách hạ”,theo đó ông xin vua thực hiện gấp các chính sáchcải cách sau: Dựa vào địa thế hiểm yếu để giữnước; tích luỹ gạo tiền để có đủ lương thực; huấnluyện binh lính để đủ binh lực; học kĩ thuật đểchống giặc; ngoại giao rộng rãi.b. Nhận xét: Những đề nghị cải cách duy tân đềcập đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội nướcta lúc đó, phản ánh tâm tư muốn thoát khỏi khuônkhổ chật hẹp của chế độ phong kiến đương thời,đưa đất nước thoát khỏi tình trạng lạc hậu, có thểđương đầu với cuộc chiến tranh xâm lược củathực dân Pháp. Nhưng, cuối cùng, hầu hết các đềnghị cải cách đã không được thực hiện.- Học sinh:+ Nhóm 1: trình bày nộidung.( viết ý khái quát lênbảng hoặc trình chiếu nộidung hoặc đọc nội dung trảlời)+ Nhóm 2: Nhận xét, góp ý.- Giáo viên: nhận xét, chốtý học sinh ghi chép nộidung.“Tôi xem khắp thiên hạ từxưa đến nay, các nước sởdĩ bảo tồn được dài lâu,không nước nào không dohai điều kiện là giàu vàmạnh. Mà sở dĩ được giàumạnh thì không thể khôngbắt đầu bằng việc mở rộngđất đai làm đông dânchúng, thông thương qualại và giao du với cácnước. Sau đó lấy nhânnghĩa công bằng mà qualại với các nước làm choTrả lờia. Nguyên nhân thất bại- Những đề nghị cải cách ra đời trong điều kiệnđất nước khủng hoảng về kinh tế; chính trị, xã hộikhông ổn định, nhân tài vật lực kiệt quệ (yếu tốthiên thời thiếu), cản trở công cuộc duy tân. Mặtkhác, những đề nghị cải cách đó đưa ra vào lúcTrường THPT Chuyên Thái Bình153HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VImình và người cả hai đềuđược lợi, thì mới đạt đượcsở nguyện. Đó là đường lốithông thường mà tất cả cácnước trên thế giới hiện nayđều tiến hành như thế, tậptành ham chuộng đườnglối ấy, tìm cách thực hànhđường lối ấy, mấy trămnăm càng ra làm càng cólợi mà không ai nghỉ tay,cũng vì bỏ đường lối nàykhông còn phương sáchnào khác”Nhật Trích: Nhật Bản vàcải cách Minh Trị (1868)trong nhận thức củaNguyễn Trường Tộ Nguyễn Tiến Dũngcuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Phápđang ngày càng mở rộng, đang thu hút sự chú ýcủa toàn xã hội, cho nên đã bị rơi vào quênlãng….- Sự tồn tại của ý thức hệ phong kiến quá lâu, quásâu, khó có thể thay đổi trong một sớm, mộtchiều. Thái độ bảo thủ, cố chấp của triều đình (từvua đến quan). Vua Tự Đức cũng thấy được cầnthiết canh tân nhưng thiếu quyết tâm, vẫn bảo thủ,thiếu tầm nhìn xa trông rộng.- Tầng lớp trí thức có tư trưởng canh tân ở ViệtNam nửa sau thế kỉ XIX chưa gây được áp lực vớitriều đình thực hiện canh tân.- Những đề nghị cải cách không thể đi sâu vàoquần chúng nhân dân, chưa được quần chúngtham gia đông đảo.Trường THPT Chuyên Thái Bình154HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VICâu 3. Nguyên nhân thấtbại của phong trào duy tânở nước ta cuối thế kỉXIX?Nguyên nhân quyếtđịnh nhất dẫn tới sự thấtbại của phong trào duy tân?- Học sinh:+ Nhóm 1: trình bày nộidung.( viết ý khái quát lênbảng hoặc trình chiếu nộidung hoặc đọc nội dung trảlời)- Bản thân các đề nghị cải cách còn có những hạnchế (tản mạn, rời rạc, thiếu tính khả thi)b. Nguyên nhân quyết định nhất:Thái độ bảo thủ, phản động của vua quan triềuđình, tuy có lúc do tình thế thúc bách nên có chủtrương một vài đổi mới về các mặt kinh tế, vănhoá, giáo dục…, nhưng về cơ bản thì trong tưtưởng, cũng như trong cơ cấu chính trị vẫn khônghề thay đổi, nên không bảo đảm cho việc đổi mới+ Nhóm 2: Nhận xét, góp ý. được thực hiện triệt để, trót lọt, thường là nửa- Giáo viên: nhận xét, chốt chừng bị bỏ dở.ý học sinh ghi chép nộidung.Giáo viên trích dẫn tư liệutham khảoTừ năm 1863 đến năm1871, trong vòng 8 nămrưỡi, Nguyễn Trường Tộđã kiên trì gửi lên triềuđình tới 30 điều trần, đềcập một cách có hệ thốngtới hàng loạt vấn đề cấpthiết nhất của Tổ quốcđứng trước nguy cơ mấtcòn ngày một ngày hai sẽtới. Thế mà trước sau tấtcả các đề nghị đó – nhữngbản đề nghị có thể nóiđược viết bằng máu vàTrả lờia. So sánh.- Thời điểm tiến hành cải cách:Công cuộc cải cách ở Xiêm và những đề nghịcanh tân đất nước ở Việt Nam tuy diễn ra trongcùng một thời kỳ ( cuối thế kỉ XVIII), khi màchủ nghĩa thực dân phương Tây đang có nhucầu và âm mưu mở rộng ảnh hưởng, tìm kiếmthị trường phục vụ cho nền kinh tế tư bản chủnghĩa.Trong nước: Việt Nam và Xiêm đều đang gặp khókhăn về kinh tế, xã hội.- Về lực lượng cải cách:+ Ở Xiêm: Các ông vua từ Rama I đến Rama VTrường THPT Chuyên Thái Bình155HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VInước mắt, bản đề nghị cuốicùng được Nguyễn TrườngTộ viết ngay trên giườngbệnh, khi tử thần đang chờngoài cửa – đều vấp phảisự thờ ơ, lãnh đạm từ vuaTự Đức xuống tới cácquan lại trong triều ngoàinội. Thậm chí trước tháiđộ kiên trì của NguyễnTrường Tộ, vua Tự Đức cólần nổi nóng, đã có lời quởtrách vừa chủ quan, vừathiểncận:“NguyễnTrường Tộ qua tin ở cácđiều y đề nghị… Tại saolại thúc giục nhiều đến thế,khi mà các phương phápcũ của Trẫm đã rất đủ đểđiều khiển quốc gia rồi”.Trích: Trách nhiệm triềuNguyễn về sự thất bại củaxu hướng đổi mới ở ViệtNam cuối thế kỉ XIX – GS.NGND ĐINH XUÂN LÂM -Phó Chủ tịch Hội Khoahọc Lịch sử VNGiáo viên trích dẫn tư liệutham khảoMột phần là do các đề nghịđó, kể cả các đề nghị củaNguyễn Trường Tộ – nóichung đều nặng về ảnhcủa Xiêm là những người có thực quyền,có tầm nhìn xa, trộng rộng, là những ngườikhởi xướng công cuộc cải cách, có nhận thứcđúng đắn về tình hình khu vực và quốc tế, luônchủ động và có kế hoạch rõ ràng cho những chủtrương cải cách. Đồng thời, những vị vua nàynhận được sự ủng hộ của bộ máy quan lại.+ Ở Việt Nam: vua Tự Đức là người có thựcquyền nhưng lúng túng, bị động, thiếu nhậnthức đầy đủ về thời thế và không quyết tâmthực hiện cải cách đến cùng đồng thời lại gặpphải sự phản ứng quyết liệt của bộ phận quan lạibảo thủ.Ở Việt Nam vào nửa cuối thế kỷ XIX mới chỉxuất hiện một xu hướng cải cách trong một sốrất ít người thuộc tầng lớp nho sĩ và quan lại,chứ chưa tạo ra thành một phong trào hay lànsóng cải cách sâu rộng trong xã hội. Khác với ởXiêm, trào lưu cải cách ở Việt Nam không đượctriều Nguyễn ủng hộ, thậm chí có sự mâu thuẫntrong tư tưởng của nhà cải cách.- Về những cơ sở chính trị, kinh tế, văn hoá xãhội, giáo dục:+ Chính trị: Vương quốc Xiêm so với ViệtNam vào thế kỷ XIX có nhiều thuận lợi hơn choviệc hình thành, phát triển và thực hiện các chủtrương cải cách. Mặc dù cả Xiêm và Việt Namđều là chế độ phong kiến trung ương tập quyền,nhưng so với Việt Nam, xã hội Xiêm là một xãhội thống nhất, cởi mở hơn.+ K in h t ế : N ền kinh tế của cả hai nước đềulấy canh tác nông nghiệp làm cơ sở phát triển,nhưng yếu tố hàng hoá, thị trường ở Xiêm pháttriển mạnh hơn nhiều so với Việt Nam. Nói tómlại, ở Xiêm, những tiền đề cho xu hướng cải cáchTrường THPT Chuyên Thái Bình156HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIhưởng bên ngoài mà thiếu được định hình và phát triển đầy đủ hơn so với ởcơ sở vật chất để tiếp nhận Việt Nam.từ bên trong. Mặt khác nội + Văn hóa, giáo dục:dung của các điều trần trên Nhà Nguyễn duy trì nền giáo dục Nho giáo khuônkhông hề đả động gì đến sáo, máy móc, bảo thủ, hạn chế tiếp xúc vớiphương tây, rất ít người được cử ra nước ngoài đểyêu cầu cơ bản của lịch sửhọc tập.Việt Nam hồi đó là giảiỞ Xiêm thực hiện nền giáo dục Phật giáo kếtquyết hai mâu thuẫn chủhợp với Ấn Độ giáo cởi mở, dân chủ, thiết thựcyếu của xã hội Việt Nam: đồng thời tiến hành cải cách giáo dục gắn liền vớigiữa toàn thể dân tộc Việt mở cửa, giao lưu, tiếp xúc với thế giới bên ngoài,Nam với tư bản Pháp xâm với chuyên gia nước ngoài và thường xuyên cửlược và giữa nhân dân lao người đi học ở nước ngoài.động – chủ yếu là nông+ Xã hội:dân – với giai cấp phongỞ Việt Nam: Với một nền tảng kinh tế và mộtkiến hủ bại đang trượt dài hệ tư tưởng và nền giáo dục lỗi thời, lạc hậutrên con đường khuất phục so với thời đại nên không thể tạo ra được mộtđầu hàng thực dân Pháp. lực lượng xã hội đủ mạnh về chính trị và trìnhTrích: Trách nhiệm triều độ, có khả năng tập hợp lực lượng, tạo ra sự thayNguyễn về sự thất bại của đổi có tính quyết định và cơ bản.Ở Xiêm: Nền tảng kinh tế có yếu tố kinh tế hàngxu hướng đổi mới ở Việthóa, giáo dục tiếp thu nội dung giáo dục phươngNam cuối thế kỉ XIX – GS.Tây nên tạo ra một lực lượng xã hội mạnh vềchính trị, tiềm lực về kinh tế và có tư tưởng tiếnPhó Chủ tịch Hội Khoabộ, ủng hộ nhà vua tiến hành cải cách.học Lịch sử VN- Về tiến trình và nội dung.+ Ở Việt Nam: Tiến hành một số ít nội dung củaCâu 4. So sánh cuộc cảicác đề nghị canh tân nhưng vụn vặt, thiếu hệ thống.cách ở Xiêm và trào lưu+ Ở Xiêm:canh tân ở Việt Nam cuốiCác ông vua của triều đại Chakri đã chủ độngthế kỷ XIX (thời điểm tiếnthực hiện một chương trình cải cách từ từ, phùhành, cơ sở, lực lượng, tiếnhợp với tình hình nội tại của đất nước và khutrình, nội dung cải cách, kếtvực. Rama I đến Rama V thực hiện một cáchquả).chủ động, dần dần từng bước, có tính toán và cóTừ kết quả hãy rút ra bài học.sự chuẩn bị cẩn thận. Trong quá trình đó, nhàNGND ĐINH XUÂN LÂM -Trường THPT Chuyên Thái Bình157HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VInước đóng một vai trò quan trọng.Nội dung khá toàn diện, bao gồm các mặt: kinh tế,hành chính, quân sự, giáo dục, chính sách ngoại giao.Ngoài ra, một đặc điểm căn bản khác của tưtưởng cải cách ở Việt Nam là các đề nghị cải cáchthiên về ảnh hưởng bên ngoài, thiếu cơ sở vật chấtđể tiếp nhận từ bên trong, không đề cập tới quyềnlợi của nông dân và còn mang nặng tư tưởng+ Nhóm 2: Nhận xét, góp ý.- Giáo viên: nhận xét, chốt phong kiến.ý học sinh ghi chép nội + Chính sách ngoại giao:Việt Nam: phản ứng của triều Nguyễn trước sựdung.bành trướng về thương mại và quân sự củaPháp và các nước phương Tây là thụ động, losợ, nghi ngờ, thiếu tự tin và bất cập. Thay vìmột mặt phải tìm hiểu, tiếp cận, nghiên cứu đốiphương, mặt khác phải phát huy sức mạnh củabộ máy, động viên, tập hợp lực lượng, nhàNguyễn đã tìm cách né tránh, hạn chế giao tiếp,thực hiện chủ trương bế quan toả cảng.Ở Xiêm: đồng thời với việc mở cửa Xiêm tiếnhành ngoại giao lựa chọn, biết tận dụng mộtcách triệt để thời cơ, biết khai thác mâu thuẫngiữa các đối thủ, ( kí các hiệp ước với Anh vàPháp lợi dụng hai nước) để bảo vệ độc lập.- Kết quả:+ Việt Nam: chìm đắm trong vòng lạc hậu, thựcdân Pháp từng bước xâm chiếm và biến nước tathành thuộc địa.+ Xiêm: Tạo cho nước Xiêm một bộ mặt mới,phát triển theo hướng tư bản chủ nghĩa. Xiêm vẫngiữ được độc lập, không bị biến thành thuộc địa,chỉ bị lệ thuộc vào Anh, Pháp.b. Bài học rút ra.- Cải cách duy tân là một yêu cầu khách quan củalịch sử, muốn tồn tại và phát triển nhất thiết phải- Học sinh:+ Nhóm 1: trình bày nộidung.( viết ý khái quát lênbảng hoặc trình chiếu nộidung hoặc đọc nội dung trảlời)Trường THPT Chuyên Thái Bình158HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIduy tân.- Để cuộc duy tân, cải cách thực hiện được và đạtkết quả như mong muốn thì đề nghị cải cách phảiphù hợi với tình hình đất nước, phải có sự đồngthuận từ trên xuống dưới, quyết tâm của ngườilãnh đạo, ủng hộ của quần chúng nhân dân vàphải có đủ điều kiện về kinh tế, xã hội đảm bảocho công cuộc cải cách giành thắng lợi.Phần nội dung về trào lưu canh tân ở Việt Namgiống nội dung phần so sánh với Xiêm.Phần nội dung về duy tân Minh trị ở Nhật Bản:+ Từ 1623 Nhật Bản thực hiện chính sách “đóngcửa có chọn lọc”: Người Hà Lan được ở lại nên tầnglớp trí thức Nhật Bản tiếp thu được tư tưởng tư sản,học tập khoa học – kĩ thuật tiên tiến ở châu Âu.+ Kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển nhanhchóng: nhiều công trường thủ công ra đời, buônbán với nước ngoài phát đạt, nông nghiệp nhằmcung cấp hàng hoá cho thị trường.+ Xã hội: Quý tộc phong kiến phân hoá. Xã hộitồn tại mâu thuẫn giữa một bên là chế độ phongkiến với một bên là đại quý tộc và võ sĩ Xa mu raitư sản hoá, tư sản, nông dân, thị dân.Bộ phận này là chỗ dựa của Thiên hoàng, đòi lậtđổ chế độ Mạc phủ, duy tân đất nước, tạo điềukiện cho kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển.Trường THPT Chuyên Thái Bình159HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VICâu hỏi tương tự: So sánhcuộc cải duy tân Minh Trị ởNhật Bản cuối thế kỉ XIX vàtrào lưu canh tân ở ViệtNam cuối thế kỷ XIX (thờiđiểm tiến hành, cơ sở, lựclượng, tiến trình, nội dungcải cách, kết quả).Trường THPT Chuyên Thái Bình160HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIPHONG TRÀO DUY TÂN Ở VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỈ XXCâu 1: Hoàn cảnh lịch sửTrả lờicủa trào lưu cải cách ở – Thế giới:+ Các nước đế quốc tăng cường xâm chiếm thuộcnước ta đầu thế kỉ XX?địa, chủ nghĩa đế quốc xuất khẩu tư bản, đầu tưkhai thác thuộc địa đem lại lợi nhuận tối đa cho tư- Học sinh:+ Nhóm 2: trình bày nội bản chính quốc, trước hết là tư bản lũng đoạn; làmdung.( viết ý khái quát lên cho quan hệ xã hội của các nước thuộc địa biếnbảng hoặc trình chiếu nội đổi một cách căn bản. Các nước thuộc địa bị lôidung hoặc đọc nội dung cuốn vào con đường tư bản thực dân.+ Sự áp bức và thôn tính dân tộc của chủ nghĩa đếtrả lời)quốc càng tăng thì mâu thuẫn giữa dân tộc thuộcđịa với thực dân càng gay gắt, sự phản ứng dân+ Nhóm 1: Nhận xét, góp ý.- Giáo viên: nhận xét, chốt tộc của nhân dân các thuộc địa càng quyết liệt.ý học sinh ghi chép nội + Phong trào dân chủ tư sản ở Đông Âu bắt đầu từCách mạng 1905 ở Nga đã tạo thành một cao tràodung.thức tỉnh của các dân tộc phương Đông. Hàngtrăm triệu người hướng về một cuộc sống mới vớiánh sáng tự do.- Châu Á:+ Ở Trung Quốc, tháng 6 năm 1898 đã nổ raphong trào Duy tân do hai nhà tư tưởng KhangHữu Vi và Lương Khải Siêu khởi xướng. Phongtrào nhanh chóng bị thất bại, tuy nhiên phong tràoDuy tân cùng trào lưu tư tưởng dân chủ tư sản ởTrung Quốc thông qua các tác phẩm của KhangHữu Vi và Lương Khải Siêu như: cuốn sách Ẩmbăng thất, Trung Quốc hồn, Mậu Tuất chính biến,Tân dân tùng báo…đã dội vào nước ta. Ngoài ra,những tư tưởng tiến bộ của Cách mạng tư sảnPháp (1789) trong các tác phẩm của Rút-xô,Mông Texkiơ, Vôn-te được dịch qua chữ Háncũng được truyền bá vào Việt Nam.+ Nhật Bản, năm 1868 bắt đầu cuộc Duy TânMinh Trị, sau 30 năm nước này đã trở thành mộtTrường THPT Chuyên Thái Bình161HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VInước tư bản chủ nghĩa hùng cường. Gương tựcường của Nhật Bản theo con đường dân chủ tưsản có sức hấp dẫn lớn đối với các sĩ phu tiến bộViệt Nam. Sự tuyên truyền của người Nhật vềthuyết “Đại Đông Á”, “Đồng văn, đồng chủng”,xây dựng “khu vực thịnh vượng chung Đại ĐôngÁ” càng có sức cám dỗ và lôi cuốn nhiều sĩ phuyêu nước Việt Nam hướng về Nhật Bản để họ hivọng vào sự giúp đỡ của “người anh cả da vàng”,đánh đuổi bọn thực dân da trắng, giành lại độc lậpdân tộc. Và họ tin rằng, muốn nước nhà phát triểnphải duy tân theo con đường Nhật Bản.+ Ngoài ra, ở nhiều nước thuộc địa và nửa thuộcđịa ở châu Á đã diễn ra những phong trào cải cáchdân chủ và cách mạng dân tộc theo khuynh hướngdân chủ tư sản, tiêu biểu như: cải cách Ra-ma V ởXiêm; phong trào “lương tri xã” (Buđi Ôtômô) ởInđônêxia; tổ chức Đồng minh Hội ở Xingapo;Hội Liên hiệp Phật giáo thành lập ở Miến Điện;phong trào “Thổ Nhĩ Kì trẻ” ở Thổ Nhĩ Kì v.v…- Trong nước:Trước những biến động chính trị-xã hội ở bênngoài như vậy, tình hình ở trong nước ta cũng cónhiều thay đổi.+ Phong trào Cần Vương chống Pháp bị dập tắt;cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế do Hoàng HoaThám lãnh đạo đang trong lúc khó khăn, bị baovây, cô lập.+ Thực dân Pháp thiết lập bộ máy cai trị ở nước tavà bắt tay vào khai thác thuộc địa lần thứ nhất ởĐông Dương. Cuộc khai thác thuộc địa này đãlàm cho nền kinh tế ở nước ta có nhiều thay đổi,kéo theo là sự biến động về xã hội, bước đầu làmcho các giai cấp cũ trong xã hội bị phân hóa, cáctầng lớp giai cấp mới ra đời là công nhân và tưTrường THPT Chuyên Thái Bình162HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIsản, tiểu tư sản…+ Trong hoàn cảnh lịch sử lúc đó, cuộc khai thácthuộc địa của thực dân Pháp ở Việt Nam đã tácđộng đến quá trình du nhập luồng tư tưởng mới từbên ngoài vào nước ta. Điều kiện kinh tế -xã hội ởViệt Nam thuận lợi cho việc tiếp thu và truyền bátư tưởng dân chủ tư sản.Lúc này, ở nước ta, vua quan phong kiến Namtriều đầu hàng làm tay sai cho Pháp, tư sản và vôsản mới ra đời, giai cấp nông dân thì lạc hậu, cáctầng lớp giai cấp này không đủ khả năng lãnh đạocách mạng. Trước tình hình đó, các sĩ phu nhohọc vốn có tri thức và lòng yêu nước đã tiênphong đứng ra tiếp thu luồng tư tưởng mới tiến bộtừ bên ngoài dội vào và dấy lên trào lưu dân tộcchủ nghĩa ở Việt Nam.Phong trào yêu nước ở đầu thế kỉ XX kế thừatruyền thống đấu tranh bất khuất của phong tràoCần Vương cuối thế kỉ XIX, nhưng nó mang nộidung tư tưởng hoàn toàn mới. Quan niệm ái quốctrung quân theo hệ tư tưởng phong kiến được thaythế bằng chủ nghĩa quốc gia dân tộc, khái niệm“nước” được gắn liền với “dân”. Cuộc đấu tranhchống thực dân Pháp giành độc lập dân tộc gắnliền với cuộc đấu tranh đòi dân chủ, dân quyền.Các sĩ phu yêu nước đã mất niềm tin vào chế độphong kiến, căm ghét bọn vua quan phong kiếntay sai đục khoét nhân dân dân. Họ hướng tới mụctiêu dân chủ, khát vọng mở mang dân trí, đưanước ta tiến kịp các nước văn minh trên thế giới.Tiêu biểu cho trào lưu dân tộc chủ nghĩa ở nướcta đầu thế kỉ XX là xu hướng bạo động do PhanBội Châu đại diện và xu hướng cải cách dân chủdo Phan Châu Trinh khởi xướng.Trường THPT Chuyên Thái Bình163HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VICâu 2: Nêu đặc điểm củaphong trào duy tân ở nướcta đầu thế kỉ XX?- Học sinh:+ Nhóm 2: trình bày nộidung.( viết ý khái quát lênbảng hoặc trình chiếu nộidung hoặc đọc nội dung trảlời)+ Nhóm 1: Nhận xét, góp ý.- Giáo viên: nhận xét, chốtý học sinh ghi chép nộidung.Giáo viên trích dẫn tư liệutham khảoTrả lời- Mục tiêu: duy tân để tự cường và tiến tới đểgiành lại nền độc lập dân tộc.- Lãnh đạo: Các sĩ phu nho học tiếp thu tư tưởngmới ( tư tưởng dân chủ tư sản từ cải cách ở TrungQuốc, Nhật Bản và tư tưởng của Cách mạng tưsản Pháp).“ Dân ta là thánh là thầnĐồng tâm hiệp lực, quỷthần cũng xiêu”.- Lực lượng tham gia: Sĩ phu nho học và đôngđảo tầng lớp nhân dân.- Phạm vi: diễn ra trong phạm vi rộng khắp Bắc,(Phan Châu Trinh)Trung, Nam.- Hình thức: phong phú: kinh tế: lập hội buôn,“ Lợi quyền đã nắm tronghội làm vườn…; Văn hóa – giáo dục: diễn thuyết,taybình văn, cắt tóc ngắn, chống chế độ phong kiếnCó ngày tiến hoá, có ngày lạc hậu, mở trường dạy học theo lối mới…Phongvăn minh”.trào đi vào quần chúng phát triển thành cuộc đấu- Phen này cát tóc đi tutranh quyết liệt, tiêu biểu là phong trào chống thuếTụng kinh Độc lập ở chùa ở Trung kỳ.Duy tân.- Kết quả: bị thực dân Pháp đàn áp.Buổi diễn thuyết người- Nhận xét: Phong trào cải cách đầu thế kỉ XX đãtiến một bước dài hơn so với những chính sáchđông như hộiKỳ bình văn khách tới như cải cách nhỏ nhặt, bổ cứu vụng về của ông vua TựĐức yếu đuối trong thế kỉ XIX. Phong trào đã cómưa .tính quần chúng rõ nét, có sự kế thừa những yếuTrường THPT Chuyên Thái Bình164HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VItố tích cực của xu hướng canh tân ở Việt Nam vàkhu vực cuối thế kỉ XIX, thể hiện rõ nội dungyêu nước, nhằm cải cách xã hội, chấn hưngkinh tế, phát triển nông nghiệp, quan tâm đếnkhoa học kĩ thuật và văn hóa giáo dục. Tuy nhiênnhững tư tưởng cải cách và phong trào cải cáchcuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX ở Việt Nam cónhững mặt hạn chế, đó là những hoạt động đơnlẻ, xuất hiện từng nhân vật cụ thể, Chủ thuyết“dân quyền” của phong trào cải cách đầu thế kỉXX nhằm cứu nước theo hướng đánh đổ quânchủ, xây dựng nền dân chủ, thực hiện dânquyền, nhưng không đánh đổ chế độ thực dânđang cấu kết với phong kiến cai trị và áp bức dânta thì làm sao có được dân quyền.SO SÁNH PHONG TRÀO DUY TÂN CUỐI THẾ KỈ XIX VỚI ĐẦU THẾ KỈ XXCâu hỏi: Trình bày nhữngđiểm giống và khác nhaugiữa cuộc vận động duy tâncuối thế kỉ XIX và phongtrào duy tân đầu thế kỉ XXở Việt Nam?- Học sinh:+ Nhóm 2: trình bày nộidung.( viết ý khái quát lênbảng hoặc trình chiếu nộidung hoặc đọc nội dung trảlời)+ Nhóm 1: Nhận xét, góp ý.- Giáo viên: nhận xét, chốtý học sinh ghi chép nộidung.Trả lờia. Điểm giống:- Đều thể hiện tinh thần yêu nước,ý thức tự cường dân tộc…b. Điểm khác:+ Người đề xướng:- Cuối thế kỉ XIX: Văn thân, sĩ phu có tư tưởngtiến bộ…- Đầu thế kỉ XX: Sĩ phu trên con đường tư sảnhóa…+ Mục tiêu:- Cuối thế kỉ XIX: Duy tân để bảo vệ độc lập dântộc…- Đầu thế kỉ XX: Duy tân để khôi phục độc lập dântộc…+ Nội dung:- Cuối thế kỉ XIX: Muốn đất nước đi theo conđường của Nhật Bản: Cải tổ chính trị…; mở cửađất nước, thay đổi thái độ với phương Tây…; mởmang kinh tế…; học tập kĩ thuật, quân sự củaphương Tây…; cải tổ giáo dục…- Đầu thế kỉ XX: Đoạn tuyệt với chế độ phongTrường THPT Chuyên Thái Bình165HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIkiến, đưa đất nước tiến lên theo con đườngTBCN; mở mang kinh tế công – thươngnghiệp…; mở trường dạy học theo lối mới…+ Phương thức tiến hành:- Cuối thế kỉ XIX: Gửi điều trần, đề xuất sángkiến, mong nhà nước quan tâm thực hiện…- Đầu thế kỉ XX: Chủ trương “tự lực khai hóa”…;yêu cầu nhà cầm quyền thay đổi cách thức caitrị…+ Kết quả:- Cuối thế kỉ XIX: Bị vấp phải tư tưởng thủcựu…; triều đình dè dặt, cải cách nhỏ giọt…- Đầu thế kỉ XX: Góp phần tạo nên diện mạo mớicho kinh tế – xã hội Việt Nam (tạo những cơ sở đầutiên cho nền kinh tế tư sản dân tộc hình thành…; tạocơ sở cho sự ra đời của giai cấp tư sản, giai cấp tiểutư sản Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ nhất…);đặc biệt có đóng góp quan trọng về văn hóa – giáodục (sử dụng chữ Quốc ngữ)…Lưu ý: Trong tiến trình buổi học giáo viên đưa tư liệu, nhận xét, chốt ýmột cách phù hợp ở từng nội dung.C. KẾT LUẬNTư tưởng canh tân ở Việt Nam cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX xuất hiệndo yêu cầu bảo nền độc lập dân tộc. Tư tưởng canh tân ở đầu thế kỉ XX cónhững điểm khác so với thế kỉ XIX nhưng vẫn nhằm vào mục đích làm cho đấtnước hưng thịnh để, củng cố mọi mặt, tăng tiềm lực quốc gia để giành lại độclập. Chính vì vậy quan điểm duy tân của các văn thân, sĩ phu cuối thế kỉ XIX,đầu thế kỉ XX mang đậm tinh thần yêu nước.Việc tìm hiểu, đặt ra các tình huống và giải quyết các vấn đề về phongtrào duy tân cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX ở Việt Nam giúp học sinh hiểu thấuđáo, nắm chắc một phần nội dung của giai đoạn lịch sử Việt Nam 1858 – 1918để phục vụ trong kì thi học sinh giỏi các cấp và rút ra được bài học kinh nghiệmcho bản thân trong cuộc sống.Trong chuyên đề này tôi đề câp tới một số vấn đề về phong trào duy tânở Việt Nam, do kiến thức còn hạn hẹp nên không tránh khỏi những sai sót, kínhmong các đồng nghiệp tham gia góp ý.Trường THPT Chuyên Thái Bình166HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VITÀI LIỆU THAM KHẢO1. Sách giáo khoa lịch sử lớp 11 nâng cao – NXB GD, 20072. PGS. TS Nguyễn Trọng Văn , Tư tưởng canh tân ở Việt Nam cuối thếkỉ XIX, đầu thế kỉ XX – Một số chuyên đề lịch sử Việt Nam – nhà xuất bản Đạihọc Quốc gia Hà Nội.3. Khoa sư phạm lịch sử trường đại học An Giang năm 2009 ,Chuyên đềMột số cuộc cải cách tư sản ở châu Á cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX.4. Một số bài nghiên cứu của nhiều tác giả về vấn đề duy tân ( bài báoCải cách ở Xiêm và Việt Nam cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX – những nguyênnhân thành bại của Nguyễn Quang Minh, Trách nhiệm triều Nguyễn về sự thấtbại của xu hướng đổi mới ở Việt Nam cuối thế kỉ XIX – GS. NGND ĐINHXUÂN LÂM – Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử VN, Nhật Bản và cải cáchMinh Trị trong suy nghĩ của Nguyễn Trường Tộ của Nguyễn Tiến Dũng…).Trường THPT Chuyên Thái Bình167HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIChuyên đề xếp loại BCHUYÊN ĐỀ: PHONG TRÀO YÊU NƯỚC VÀ CÁCH MẠNGVIỆT NAM ĐẦU THỨ KỶ XXNhóm giáo viên lịch sử Trường THPT Chuyên Biên hòa – Hà NamA- PHẦN MỞ ĐẦU1-Lý do chọn đề tàiLịch sử Việt Nam giai đoạn từ 1858 đến 1918 là giai đoạn khá biếnđộng. Giai đoạn lịch sử này có rất nhiều sự kiện quan trọng của lịch sử dân tộccó tác động qua lại lẫn nhau, liên hệ mật thiết với nhau, sự kiện này là nguyênnhân của sự kiện sau và là kết quả của sự kiện trước vì thế học sinh rất khó nhớ,và hay nhầm lẫn.Bên cạnh đó năm 2002 Hội sử học Việt Nam cùng với các nhà sử họctrong và ngoài nước tổ chức hội thảo về nhà Nguyễn nhằm kỉ niệm 200 nămthành lập nhà Nguyễn, cuộc hội thảo đã thành công tốt đẹp với nhiều bài viếtchuyên sâu về nhà Nguyễn với nhiều cách nhìn nhận và đánh giá khác trước.Đây cũng là một khó khăn trở ngại cho giáo viên Lịch sử khi bồi dưỡng họcsinh giỏi quốc gia trong giai đoạn lịch sử này. Hơn nữa chúng ta đang sốngtrong thời đại bùng nổ thông tin, hiện nay giáo viên và cả học sinh được tiếp cậnvới nhiều luồng thông tin qua các kênh khác nhau – đặc biệt là qua mạngInternet: gồm cả thông tin chính thống và không chính thống, cả quan điểmđúng đắn và quan điểm xuyên tạc của các trang web đen. Chính vì thế thôngqua cuộc hội thảo này chúng ta có cái nhìn thống nhất về các vần đề còn đangtranh cãi thuộc giai đoạn lịch sử 1858 đến 1918 để phục vụ tốt hơn trong côngtác bồi dưỡng học sinh giỏi Quốc gia.Hơn nữa trong sách giáo khoa Lịch sử lớp11 chương trình nâng cao, giaiđoạn lịch sử Việt Nam từ năm 1858 đến 1918 đã được viết khá chi tiết theo bốcục ngang( biên niên sự kiện) chia làm hai chương :Chương I: Việt Nam từ năm1858 đến cuối thế kỉ XIX; Chương II: Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến hết chiếntranh thế giới thứ nhất. Đây là giai đoạn lịch sử kiến thức nhiều, phức tạp, vàđầy biến động nhất là giai đoạn Việt Nam đầu thế kỉ XX, nếu giáo viên khôngcó kiến thức vững vàng và phương pháp sư phạm phù hợp sẽ không giúp họcsinh hiểu đầy đủ những sự kiện đã diễn ra và lý giải hợp lý tại sao con đườngcách mạng Dân chủ tư sản không phải là con đường giải phóng dân tộcTrường THPT Chuyên Thái Bình168HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIta.Chính vì thế tôi chọn một vấn đề cơ bản trong chương II đó là : Phong tràoyêu nước và cách mạng Việt Nam đầu thế kỉ XX để cùng thảo luận trao đổi vớicác bạn đồng nghiệp. Rất mong sự góp ý của các bạn đồng nghiệp trong vàngoài tỉnh2- Mục đích của đề tài:Giúp học sinh nắm được phong trào yêu nước và cách mạng Việt Namđầu thế kỉ XX, diễn ra trong bối cảnh nào? diễn biễn của phong trào? kết quả ýnghĩa.Giúp học sinh nắm được điểm tích cực và hạn chế trong hai xu hướngcứu nước diễn ra đầu thế kỉ XX.Giúp học sinh hiểu được tại sao con đường cứu nước theo khuynh hướngDân chủ tư sản không phải là con đường giải phóng dân tộc ta. Từ đó thấy đượcvai trò của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong quá trình đi tìm con đường cứu nướcmới phù hợp với cách mạng Việt Nam.3- Phạm vi đề tài- Đây là một chuyên đề nhỏ trong giai đoạn lịch sử Việt Nam từ năm1858đến 1919- Nêu một vài kinh nghiệm đã áp dụng để phục vụ cho bồi dưỡng họcsinh giỏi quốc gia trong giai đoạn lịch sử này.B. NỘI DUNGTrên cơ sở đã từng dạy chuyên đề này để phục vụ cho việc bồi dưỡng họcsinh giỏi quốc gia môn lịch sử, tôi mạnh dạn đưa ra những biện pháp riêng củacá nhân tôi đã từng làm. Kính mong các bạn đồng nghiệp góp ý kiến choBước thứ nhất:Giáo viên dạy kiến thức nền, chương II : Việt Nam từ đầuthế kỉ XX đến hết chiến tranh thế giới thứ nhất theo tiến trình sách giáo khoalớp 11 chương trình nâng caoBước thứ hai :Trên cơ sở kiến thức chương II đã dạy cho học sinh, giáoviên có thể biên soạn những vấn đề mang tính “ bổ dọc ” như:- Bối cảnh lịch sử Việt Nam đầu thế kỉ XX- Một số phong trào yêu nước tiêu biểu đầu thế kỉ XX- Đặc điểm chung của phong trào yêu nước và cách mạng đầu TK XX- Nguyên nhân thất bại, ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm của phong trào.I/ Bối cảnh lịch sử Việt Nam đầu thế kỉ XXa) Tình hình thế giớiTrường THPT Chuyên Thái Bình169HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIBước vào đầu thế kỉ XX, tình hình thế giới có những biến đổi hết sức tolớn: CNTB từ tự do cạnh tranh sang CNĐQ độc quyền. Các nước tư bản đãhoàn thành việc xâm chiếm mặt địa cầu và tiến hành chiến tranh chia lại thuộc địa.Các nước đế quốc bắt đầu tiến hành khai thác thuộc địa, áp dụng chế độthực dân lên các nước thuộc địa, làm bùng nổ phong trào đấu tranh ở các nướcthuộc địa.Mở đầu là thắng lợi của Minh trị duy tân đưa nước Nhật ở Châu Á trởthành một nước đế quốc và giành chiến thắng trong chiến tranh Nga – Nhật (1904-1905), lần đầu tiên một nước da vàng thắng một nước da trắng, nêu mộttấm gương cho nhiều dân tộc noi theo.Phong trào giải phóng dân tộc ở Ấn Độ, Ba Tư, Thổ Nhĩ Kì diễn ra sôinổi, đặc biệt là Cách mạng Nga ( 1905-1907) nổ ra, ảnh hưởng lớn tới PTGPDT ở các nước Châu Á.Ở Trung Quốc các sách như “ Tân văn, Tân bá, Tân thư” xu hướng cảicách của Lương Khải Siêu và Khang Hữu Vi, rồi PTGP DT dưới sự lãnh đạocủa Trung Quốc Đồng minh hội dẫn đến thắng lợi của Cách mạng Tân Hợi1911 cũng tác động đến Việt Nam .Có thể nói nhiều sự kiện dồn dập diễn ra hồi đầu thế kỉ XX trongPTGP DT trên thế giới đã tác động và ảnh hưởng lớn tới cách mạng Việt Nam.b) Tình hình trong nướcỞ Việt Nam lúc này , sau khi đã đàn áp được phong trào Cần vương, thựcdân Pháp cũng thi hành chính sách khai thác thuộc địa, xã hội Việt Nam từ mộtxã hội phong kiến độc lập trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến. Tronglòng xã hội Việt Nam luôn tồn tại 2 mâu thuẫn cơ bản cần được giải quyết :Toàn thể nhân dân Việt Nam >< với thực dân Pháp, Nông dân >< địa chủ phongkiến. Hai kẻ thù của cách mạng Việt Nam cần phải đánh đổ đó là thực dân Phápvà phong kiến tay sai. Một yêu cầu bức súc của lịch sử Việt Nam đặt ra lúc nàylà làm thế nào? bằng con đường nào? cách thức nào? để lật đổ sự thống trị củathực dân phong kiến để cứu nước, cứu dân, GPDT, GPXH giành độc lập chodân tộc, mở đường cho xã hội Việt Nam. Mọi tầng lớp, mọi giai cấp, mọi ngườiđều phải có trách nhiệm giải quyết các yêu cầu đó.Ở Việt Nam đầu thế kỉ XX, do chính sách khai thác thuộc địa của thựcdân Pháp xuất hiện những tầng lớp, giai cấp mới. Mỗi một tầng lớp, mỗi mộtgiai cấp lại có một con đường đấu tranh theo quan điểm chính trị của giai cấpTrường THPT Chuyên Thái Bình170HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VImình vì vậy không phải ngẫu nhiên hồi đầu thế kỉ XX, lịch sử Việt Nam chứngkiến nhiều khuynh hướng, nhiều con đường đấu tranh khác nhau như vậy.II. Một số phong trào yêu nước tiêu biểu đầu thế kỉ XX1- Phong trào Đông du của Phan Bội Châu ( 1905-1908)2- Phong trào Duy tân của Phan Châu Trinh3- Phong trào Đông Kinh nghĩa thục4- Vụ đầu độc lính Pháp tại Hà Nội5- Hoạt động của Việt Nam Quang phục Hội6- Cuộc vân động khởi nghĩa của Thái Phiên và Trần Cao Vân7- Khởi nghĩa của binh lính ở Thái nguyên……(Phần kiến thức này hs đã được học ở phần kiến thức nền, giáo viênkhông giảng lại mà chỉ nhắc cho hs nhớ, tạo điều kiện nắm phần kiến thức sau).IĐặc điểm chungTrên cơ sở kiến thức “ nền” GV cùng thảo luận với học sinh những vấnđề sau:Tính chất của phong trào: Chuyển từ phạm trù phong kiến sang phạm trùtư sản, mang ít nhiều tính cách mạng.Lực lượng lãnh đạo: Văn thân, Sĩ phu tiến bộ chịu tác động của khuynhhướng dân chủ tư sản từ bên ngoài đưa vào.Mục tiêu của phong trào: Chống Pháp giành độc lập gắn liền với duy tân cảicách thay đổi chế độ ( ít nhất cũng là Quân chủ lập hiến như Phan Bội Châu).Động lực của phong trào: Không chỉ nông dân mà có cả những lực lượngvà giai cấp xã hội mới tham gia: Tư sản dân tộc, Tiểu tư sản, Công nhân…Hình thức đấu tranh: Xuất hiện nhiều hình thức mới và phong phú: Duytân, bạo động, cầu viện, lập trường học, lập hội…Quy mô phong trào: Rộng lớn cả trong và ngoài nước…IINguyên nhân thất bại, ý nghĩa lịch sử và bài học kinh nghiệm.1Nguyên nhân thất bạiDo cách mạng Việt Nam đang đứng trước cuộc khủng hoảng về giai cấplãnh đạo”• Giai cấp phong kiến đã phản bội đầu hàng, một bộ phận trở thành taysai, chỗ dựa cho Đế quốc.• Tầng lớp Tư sản thì non yếu bạc nhược.Trường THPT Chuyên Thái Bình171HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI• Tầng lớp Tiểu tư sản và giai cấp nông dân đại diện cho mộtphương thức sản xuất nhỏ lẻ, phân tán, lạc hậu, không đủ khả năngtrong vai trò lãnh đạo cách mạng.• Giai cấp công nhân thì mới ra đời đang trong quá trình trưởngthành, vì vậy cách mạng Việt Nam thiếu một lực lượng xã hội tiên tiếnlãnh đạo và một đường lối đúng đắn chỉ đường..Cơ sở xã hội của trào lưu dân chủ Tư sản ở nước ta còn yếu ớt, chưa đủsức mạnh tạo thành một cuộc cách mạng xã hội từ bên trong theo đúng nghĩacủa nó.Tuy điều kiện đất nước chìm đắm trong vòng nô lệ, mất độc lập tự do,giai cấp thống trị( chính quyền thực dân) sẵn sàng dùng vũ lực chặn đứng mọibiểu hiện tiến bộ về tư tưởng và hành động hướng tới độc lập tự do vì vậyphong trào bị đàn áp và thất bại là điều dễ hiểu.Khuynh hướng Tư sản là mới mẻ đối với Việt Nam nhưng không hoàntoàn mới mẻ so với thời đại, hơn nữa nó được du nhập từ bên ngoài vào chứkhông được nẩy sinh từ phương Đông. Trong khi đó việc nhập vào thông quacác sĩ phu phong kiến. Vì vậy, khuynh hướng Tư sản nhưng người mang nó lạilà giai cấp phong kiến. Khuynh hướng Tư sản được mang qua lăng kính chủquan của anh phong kiến nên có nhiều hạn chế như không nhận rõ kẻ thù là Đếquốc- Phong kiến phản động, không thấy rõ được lực lượng cơ bản của cáchmạng là Công- Nông, không có phương pháp cách mạng đúng đắn và biện pháptổ chức thích hợp nên phong trào Dân tộc và Dân chủ ở nước ta đầu thế kỉ XXđều bế tắc và đi đến thất bại.2Ý nghĩa của phong tràoPhong trào đã thể hiện bước tiến lớn trong sự nghiệp chống thực dânPháp và bọn phong kiến tay sai của nhân dân ta ( trước đây chỉ đấu tranh bằnghình thức vũ trang, thì nay có hình thức đấu tranh mới.)Phong trào đã nêu cao quyết tâm chiến đấu cho độc lập dân tộc và thốngnhất tổ quốc, bồi đắp thêm truyền thống yêu nước bất khuất của dân tộc.Phong trào đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm đấu tranh cách mạng quíbáu cho các thế hệ kế tiếp.Đây là thời kì chuyển giao thế hệ từ thế hệ trí thức nho học phong kiếnsang thế hệ trí thức tây học.Phong trào đã đề xướng những chủ trương cứu nước mới, thoát khỏiphạm trù và cách thức cứu nước theo tư tưởng phong kiến, hướng theo conTrường THPT Chuyên Thái Bình172HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIđường Dân chủ tư sản, gắn giải phóng dân tộc với cải biến xã hội, hoà nhập vàotrào lưu tiến hoá của nhân loại.Đặc biệt phong trào có những đóng góp xuất sắc về mặt văn hoá, tạo rabước đột phá về ngôn ngữ, chữ viết và cải cách giáo dục ở Việt Nam.3- Bài học kinh nghiệmCon đường Dân chủ tư sản không phải là con đường cứu được nhân dânta thoát khỏi cảnh lầm than, nô lệ, muốn giải phóng cho nhân dân ta thoát khỏiách đế quốc- phong kiến để giành độc lập dân tộc thì phải đi theo con đườngCMVS và dùng bạo lực cách mạng.Lãnh đạo cách mạng không thể là các cá nhân lẻ tẻ hay từng nhóm đơnđộc, mà phải là sức mạnh của cả một giai cấp mới gắn liền với nền đại sản xuấtcông nghiệp hiện đại, vừa phải mang trong mình nhiệm vụ giải phóng giai cấpvừa giải phóng dân tộc, giải phóng loài người tiến lên CNXH thì mới thànhcông được.Muốn giành độc lập dân tộc thực sự thì cách mạngchỉ có thể dựa vào hailực lượng chính yếu:đó là giai cấp công nhân và nông dân vì hai giai cấp này cótinh thần cách mạng triệt để, lại là lực lượng đông đảo nhất của xã hội, cho nênphải liên minh được hai giai cấp công – nông chặt chẽ, lấy đó làm trụ cột lôi kéocác giai cấp tầng lớp khác trong xã hội tham gia cách mạng, cô lập đánh đổ kẻthù chung.Bước thứ ba: Sau khi dạy kiến thức “nền” và kiến thức “bổ dọc” giáoviên hướng dẫn học sinh làm một số câu hỏi nâng cao nhằm mục đích hiểu sâuhơn về phong trào yêu nước và cách mạng đầu thế kỉ XX như:Câu 1: Những yêu cầu, nhiệm vụ nào được đặt ra cho cách mạng ViệtNam những năm cuối thế kỉ XIX- đầu thế kỉ XX.Câu 2: Qua trình bày diễn biến phong trào Đông Du- PBC và phong tràoDuy Tân- PCT, hãy phân tích điểm giống và khác nhau giữa hai phong trào?giải thích tại sao có điểm khác nhau đó?Câu 3: Trình bày những hiểu biết của em về hai xu hướng cứu nước đầuthế kỉ XX và mối quan hệ giữa hai xu hướng đó.Câu 4: Vì sao phong trào yêu nước đầu thế kỉ XX ở Việt Nam lại phânhoá thành 2 xu hướng bạo động và cải cách?Câu 5:Những tư tưởng duy tân, cải cách trong lịch sử Việt Nam cuối thếkỉ XIX đầu thế kỉ XX đã được thể hiện như thế nào? Tại sao những tư tưởng đókhông thực hiện được?Trường THPT Chuyên Thái Bình173HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VICâu 6: Chứng minh rằng: Phong trào yêu nước đầu thế kỉ XX mang tínhnhân dân sâu sắc.Câu 7: Lập bảng so sánh về phong trào Đông Du và Duy tân theo những yêucầu sau: Thời gian, lãnh đạo, nhiệm vụ, phương pháp cách mạng, kết quả, ý nghĩa.Câu 8: So sánh đặc điểm của phong trào yêu nước cuối thế kỉ XIX vàphong trào yêu nươc đầu thế kỉ XXCâu 9: Bằng những sự kiện lịch sử có chọn lọc về phong trào cách mạngViệt Nam đầu thế kỉ XX, anh chị hãy bình luận và chứng minh nhận định sauđây của Chủ tịch Hồ Chí Minh:“ Tôi rất khâm phục lòng yêu nước của các vịtiền bối, nhưng tôi không tán thành con đường cứu nước của các cụ”Câu 10: Từ những thất bại của các khuynh hướng cứu nước đầu thế kỉXX, anh ( chị) hãy làm rõ công lao của Nguyễn Ái Quốc đối với việc lựa chọncon đường cứu nước cho cách mạng Việt Nam.Phương pháp: phần này giáo viên nên cùng học sinh thảo luận đưa ra ýkiến. Những câu dễ học sinh tự làm, những câu khó sau khi thảo luận cùng họcsinh xong giáo viên mới chữa ví dụCâu 3: Trình bày những hiểu biết của em về hai xu hướng cứu nướcđầu thế kỉ XX và mối quan hệ giữa hai xu hướng đó.1- Yêu cầu*Ý 1: Nêu hoàn cảnh lịch sử xuất hiện 2 xu hướng cứu nước đầu thế kỉXX* Ý 2: Trình bày nét cơ bản về hai xu hướng này* Ý 3: Mối quan hệ giữa hai xu hướng.2- Gợi ý trả lời1. Hoàn cảnh lịch sử xuất hiện hai xu hướng cứu nước đầu thế kỉ XX.Một là : Sự bế tắc và thất bại của phong trào vũ trang chống Pháp dướidanh nghĩa Cần Vương. Phong trào do Hàm nghi và Tôn Thất Thuyết phát độngtừ năm 1885 phát triển và lan rộng khắp ba Kì trong những năm 1885-1888, sauđó giảm dần sức mạnh rồi đi đến kết thúc với sự thất bại của khởi nghĩa HươngKhê do Phan Đình Phùng lãnh đạo(1896).Sự thất bại của phong trào Cần Vương(cũng là thất bại của con đương cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến) đã chothấy chủ trương khôi phục độc lập dân tộc bằng con đường bạo động vũ trangnhằm lập lại trật tự cũ dưới chính thể quân chủ đã không còn phù hợp và cũngkhông thể thực hiện được -> dẫn đến một không khí thất bại chủ nghĩa baoTrường THPT Chuyên Thái Bình174HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VItrùm lên hầu hết các sĩ phu văn thân yêu nước Việt Nam.-> một câu hỏi đượcđặt ra: làm cách nào ? và bằng con đường nào để cứu nước, cứu dân?Hai là: Thực dân Pháp cơ bản hoàn thành việc bình định bằng quân sựbước vào thời kì khai thác đại quy mô. Những chuyển biến về kinh tế, văn hoá,tư tưởng. Xã hội Việt Nam bắt đầu phân hoá theo đà phát triển mới. Điều mớimẻ trong những năm cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX là sự ra đời của các giaitầng mới trong các đô thị, các trung tâm công nghiệp, trung tâm thươngmại…như giai cấp công nhân, tầng lớp Tư sản, Tiểu tư sản….Ba là: Những tác động từ bên ngoài ảnh hưởng tới Việt Nam đầu thế kỉXX. Có một số biến cố lớn thực sự ảnh hưởng tới cuộc vận động cách mạng vàchuyển biến về mặt tư tưởng ở Việt Nam trong giai đoạn này, đó là cuộc Duytân ở Nhật Bản, cuộc chiến tranh Nga- Nhật, cuộc vận động cải cách ở TrungQuốc và những ảnh hưởng của văn hoá phương Tây trong một bộ phận dânchúng ở nước ta…I- Những nét cơ bản về 2 xu hướng cứu nước đầu thế kỉ XX1Xu hướng bạo động của Phan Bội Châu.2Xu hướng cải cách của Phan Châu Trinh(HS tự trình bày)II. Mối quan hệ giữa 2 xu hướngPhong trào yêu nước và cách mạng đầu thế kỉ XX, ở nước ta diễn ra trongthời kì quá độ từ phạm trù phong kiến sang phạm trù Tư sản nên khá phong phúvới nhiều xu hướng song song tồn tại và phát triển trong đó xu hướng bạo độngvà xu hướng cải cách là chủ yếu. Bề ngoài tưởng như có sự đối lập nhưng lạichung một mục tiêu đánh đuổi thực dân Pháp, khôi phục độc lập dân tộc, cònđiểm khác nhau ở đây là khác nhau về cách làm, về biện pháp để đi đến mụctiêu đó.Xu hướng bạo động do Phan Bội Châu đứng đầu, xu hướng cải cách doPhan Chu Trinh đại diện đều xuất phát từ nền tảng là chủ nghĩa yêu nước ViệtNam, nên đều có chung mục đích, đều hướng tới nền độc lập, có sự phân hoáthành 2 xu hướng là do: mức độ tiếp thu ảnh hưởng tư tưởng mới trong hàngngũ các sĩ phu yêu nước đầu thế kỉ XX không giống nhau, nó phụ thuộc vàomột số những điều kiện nhất định như: Truyền thống gia đình, truyền thống quêhương, tác động của những chính sách khai thác bóc lột của thực dân Pháp đốivới các địa phương khác nhau.Trường THPT Chuyên Thái Bình175HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIGiữa xu hướng bạo động và cải cách không có sự đối lập mà trái lại nócòn hỗ trợ, thúc đẩy nhau cùng phát triển. Trong hoàn cảnh một nước thuộc địa,xu hướng cải cách khi có điều kiện xâm nhập vào quần chúng thì nó sẽ nhanhchóng trở thành bạo động có tính cách mạng như: từ cuộc vận động Duy tân ởTrung kì đã phát triển thành cuộc đấu tranh chống sưu thuế quyết liệt của nhândân cáctỉnh miền Trung- 1908. Vì vậy, nếu khẳng định Phan Bội Châu là mộtnhà yêu nước lớn tiêu biểu cho phong trào cách mạng Việt Nam hồi đầu thế kỉXX ( trước khi xuất hiện Nguyễn Ái Quốc) thì cũng cần phải khẳng định PhanChâu Trinh là một nhà yêu nước đã có những đóng góp tích cực vào việc khơidạy những tư tưởng dân chủ, mở ra một cách nhìn mới về vấn đề dân tộc, nhânquyền như một sự bổ sung cần thiết cho phong trào cách mạng nói chung và choxu hướng bạo động nói riêng. Ông cũng chính là người đầu tiên có tư tưởng dânchủ ở Việt Nam hồi đầu thế kỉ XX.Kết luậnDo những điều kiện giai cấp và thời đại, nên cả Phan Bội Châu và PhânChu Trinh đầu có những hạn chế nhất định trong cách suy nghĩ cũng như việclàm do đó mà những hoài bão của các ông không thực hiện được. Tuy vậy,những tư tưởng do 2 ông đề xướng đã tạo điều kiện thuận lợi cho những cuộcvận động cách mạng mới ở nước ta đầu thế kỉ XX.Câu 6: Chứng minh rằng: Phong trào yêu nước đầu thế kỉ XX mangtính nhân dân sâu sắc.1. Yêu cầu trả lời được- Ý1: Vài nét về phong trào yêu nước cách mạng đầu thế kỉ XX- Ý2: Chứng minh tính sâu sắc+ Qui mô rộng lớn+ Thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia+ Hình thức đấu tranh phong phú2. Gợi ýA- Vài nét về phong trào yêu nước cách mạng đầu thế kỉ XX(Phần này học sinh tự trình bày, viết dưới dạng khái quát)B- Chứng minha- Trước hêt tính nhân dân sâu sắc của phong trào yêu nước đầu thếkỉ XX được thể hiện ở qui mô rộng lớn – mang tính toàn quốc.- Cuộc vận động yêu nước được nhân rộng ở Bắc kì, Trung kì, Nam kì, từmiền xuôi đến miền ngược:Trường THPT Chuyên Thái Bình176HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI+ Bắc kì: Trung tâm là Hà Nội đã thành lập trường Đông Kinh NghĩaThục (1907) bên cạnh cơ sở chính ở phố hàng Đào. Đông kinh nghĩa thục cònphát triển cơ sở ở nhiều địa phương như Hà Đông, Bắc Ninh, Hưng Yên, HảiDương, Thái Bình… Phong trào Đông kinh nghĩa thục lan rộng vào các tỉnh ởTrung kì và Nam kì như Nghệ An có 2 cơ sở của trường là trường Phong phú vàtrường Võ liệt thu hút đông đảo thanh niên tham gia.+ Trung kì: Trong lúc ở Bắc kì có phong trào Đông kinh nghĩa thục thì ởTrung kì nổi lên cuộc vận động duy tân của Phan Châu Trinh, cuộc vận độngcải cách đổi mới đã diễn ra hết sức rầm rộ ở các tỉnh miền Trung như QuảngNam, Quảng ngãi, Bình Thuận…Ở Bắc trung bộ như Nghệ An, Hà Tĩnh, ThanhHoá… đặc biệt phong trào đã đi sâu vào quần chúng nhân dân và tiến hành cuộcvận động chống sưu thuế quyết liệt vào năm 1908.+ Nam kì: Phong trào Duy tân có những yêu cầu và hình thức tổ chức ởmức độ cao hơn so với Bắc kì và Trung kì. Vì đây là nơi có phong trào xuấtdương học sinh sang Nhật hưởng ứng phong trào Đông du của Phan Bội Châurất rầm rộ.Bên cạnh các cuộc vận động rộng lớn này đầu thế kỉ XX phong trào hộikín ở Nam kì phát triển rầm rộ, các cuộc khởi nghĩa vũ trang của đồng bào thiểusố cũng nổ ra quyết liệt ở Tây Bắc, Tây Nguyên…b- Phong trào còn thu hút đông đảo quần chúng nhân dân tham giaTrước hết là các sĩ phu yêu nước tiến bộ đang trong quá trình tư sản hoá.Họ tập hợp nhau lại thành lập các tổ chức chính trị như: Hội Duy Tân, ViệtNam quang phục hội…Họ đề ra tôn chỉ much đích, vì vậy dãy lên cuộc vận độngcách mạng lôi kéo đông đảo quần chúng tham gia, hướng tới mục tiêu xây dựngmột nước Việt Nam độc lập, tự do, phát triển về kinh tế, văn hoá của dân tộc điđầu trong khuynh hướng này là Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh tiếp đó làLương Văn Can, Nguyễn Quyền cùng những sĩ phu khác như Nguyễn Hàm,Nguyễn Thái Thân, Trần Quý Cáp, Huỳnh Thúc Kháng…Cùng với sự tham gia của các sĩ phu yêu nước tiến bộ thời kì này các tầnglớp mới xuất hiện ở Việt Nam như: tiểu tư sản, tư sản dân tộc mà đặc biệt làđồng bào các dân tộc ít người cũng bị lôi cuốn theo phong trào: Thái, Hmông,Nùng, Dao…đã tiến hành hàng loạt các cuộc khởi nghĩa dưới sự lãnh đạo củacác thủ lĩnh người dân tộc như Giàng Tả Chay, Nơ trang long ( Tây Nguyên),khởi nghĩa ở Lai Châu của đồng bào Mông, khởi nghĩa ở Tây Nguyên của ngườiMơ nông…Mặt khác, phong trào yêu nước và cách mạng đầu thế kỉ XX còn có sựtham gia của binh lính người Việt trong quân đội Pháp và anh em tù chính trị ởThái Nguyên( 1917)Trường THPT Chuyên Thái Bình177HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI->Sở dĩ phong trào yêu nước và cách mạng đầu thế kỉ XX lôi kéo đượcđông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia là do dưới sự áp bức ngột ngạt vềchính trị, sự bóc lột tàn bạo về kinh tế của thực dân Pháp trong công cuộc khaithác thuộc địa lần 1, đã gây lên sự phản kháng mạnh mẽ trong nhân dân. Họ yêucầu được sống độc lập,no ấm đã trở thành nguyện vọng thiết tha của mọi ngườidân Việt Nam. Nắm bắt được điều đó lại được tiếp thu những luồng tư tưởngmới từ bên ngoài thổi vào nên các tầng lớp sĩ phu lúc này đã đảm nhiệm vai tròcủa giai cấp lãnh đạo, động viên đông đảo quần chúng đứng lên đấu tranh.c- Phong trào yêu nước và cách mạng đầu thế kỉ XX còn diễn ra trênnhiều lĩnh vực với những phương thức và biện pháp phong phú:- Trước hết trên lĩnh vực kinh tế* Ở phong trào Đông kinh nghĩa thục: những lối sống mới, những nếpsuy nghĩ mới đã được phổ biến rộng rãi, thể hiện trong việc hô hào như: Chấnhưng thực nghiệp, lập hội buôn, nông hội được nhân dân hưởng ứng nhiệt liệt.* Khác với Đông kinh nghĩa thục, cuộc vận động duy tiên lại chủ trương lậphội buôn kiếm tiền, mời thầy giáo mở trường học cung cấp sách vở cho học sinh vàđây là hình thức “ Quốc thương” vì vậy thu hút nhiều nhà buôn tham gia.* Khác với Bắc kì và Trung kì, ở Nam kì phong trào Duy tân lại được vậnđộng theo hình thức lập nhà in, tổ chức vận tải đường sông, bào chế thuốc bắc,cho vay với lãi nhẹ …- Về mặt chính trị, xã hội* Núp dưới vỏ Đông kinh nghĩa thục, nhiều nhà yêu nước Việt Nam đãlập ra những hội công khai hợp pháp để hoạt động. Thời kì này ở Trung kì hoạtđộng chính trị cũng đạt tới đỉnh cao và biến thành cuộc biểu tình vũ trang của nhândân ở huyện Đại Lộc đòi Pháp phải giảm thuế thân tăng thuế điền, bớt sưu dịch.- Về lĩnh vực văn hoá tư tưởng* Song song với các hoạt động về kinh tế- chính trị, thời kì này các sĩ phutiến bộ còn dùng ngòi bút của mình để cổ vũ lòng yêu nước của nhân dân, lênán chính sách bạo ngược của thực dân Pháp, tiêu biểu là thơ văn của Phan BộiChâu đã phơi bày nỗi thống khổ của nhân dân và tố cáo sự thờ ơ của bọn vuaquan phong kiến trước những nỗi thống khổ ấy. Từ đó thơ văn của ông có cáchnhìn mới mẻ đối với lực lượng của quần chúng khi ông quan niệm “ Dân là dânnước, nước là nước dân”và ông đã kêu gọi sự đoàn kết, đùm bọc lẫn nhau đểcùng đánh đổ kẻ thù, giành độc lập.* Giống như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh cũng coi trọng vai trò củangười dân vì vậy việc hô hào cải cách chống mê tín dị đoan, đổi mới phong hoácủa ông đã lấy nhân dân làm đối tượng chủ yếu.Trường THPT Chuyên Thái Bình178HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI* Chính những hình thức đấu tranh đầu thế kỉ XX trên lĩnh vực kinh tế,chính trị- xã hội đã dẫn đến sự hình thành 2 xu hướng cách mạng khác nhauBạo động và Cải cách…. Mặc dù có những quan điểm khác nhau song cả hai xuhướng này đều xuất phát từ lòng yêu nước, mong muốn giành lại độc lập vì vậynó đã lôi cuốn đông đảo nhân dân tham gia, thể hiện tinh thần đoàn kết của nhândân ta trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Như vậy phong trào yêu nướcvà cách mạng đầu thế kỉ XX đã thổi một luồng sinh khí mới vào phong trào giảiphóng dân tộc ở nước ta. Nó làm bùng nổ những cuộc đấu tranh với những sắcthái độc đáo. Các cuộc đấu tranh thời kì này đã để lại những bài học kinhnghiệm quí báu trong việc lựa chọn con đường cứu nước mới ở những thời kìsau trong đó việc huy động sức mạnh của toàn dân được đặt ra một cách rõ nét.C- KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊChuyên đề tôi chọn nêu ở trên, tuy chỉ là một giai đoạn ngắn trong lịchsử Việt Nam nhưng nó lại là một giai đoạn lịch sử rất quan trọng, nó là giaiđoạn quá độ của tầng lớp trí thức Nho học chuyển sang trí thức Tây học. Nó làcơ sở, là tiền đề để tiếp thu những trào lưu tư tưởng mới xuất hiện sau chiếntranh thế giới thứ nhất- Chủ nghĩa Mác Lênin và con đường cách mạng Vô sản.Khi dạy chuyên đề phong trào yêu nước và cách mạng đầu thế kỉ XX,theo tôi nên:+ Trước tiên phải dạy chắc kiến thức “nền” theo tiến trình sách giáokhoa chương II- lớp 11- chương trình nâng cao.+Tiếp đó giáo viên phải tổng hợp kiến thức theo “ bổ dọc”, làm rõ 4 vấnđề cơ bản của phong trào( như hoàn cảnh lịch sử, đặc điểm phong trào, một sốphong trào tiêu biểu…….)+ Giáo viên nên chuẩn bị hệ thống câu hỏi nâng cao để cùng học sinhthảo luận và giải quyết.+ Trong quá trình giảng dạy phong trào yêu nước và cách mạng đầu thếkỉ XX, giáo viên nên liên hệ với phong trào yêu nước cuối thế kỉ XIX để thấyđược những nét mới của phong trào và liên hệ với phong trào yêu nước giaiđoạn sau ( 1919-1929) để thấy được hạn chế của phong trào yêu nước đầu thế kỉXX, và lý giải được tại sao con đường cứu nước theo khuynh hướng Dân chủ tưsản không phải là con đường giải phóng dân tộc ta.+ Nên hướng dẫn học sinh kẻ một số bảng, nhất là các câu so sánh để họcsinh nắm bắt kiến thức tốt hơn.Nhóm sử trường chuyên Biên Hoà- Hà NamTrường THPT Chuyên Thái Bình179HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIChuyên đề xếp loại BTÊN CHUYÊN ĐỀ: LỰA CHỌN VẤN ĐỀ DẠY VÀ PHƯƠNG PHÁP ÔNTẬP CHO HSGQG KHI GIẢNG DẠY LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ NĂM1858 ĐẾN NĂM 1918MÔN: LỊCH SỬĐƠN VỊ: THPT CHUYÊN THÁI NGUYÊNA. MỞ ĐẦUỞ các trường phổ thông trung học, nhất là ở các trường Chuyên, việc pháthiện, tuyển chọn và bồi dưỡng học sinh giỏi là một trong những nhiệm vụ thiếtyếu của người giáo viên. Để công tác bồi dưỡng học sinh giỏi đặc biệt là đối vớihọc sinh giỏi quốc gia đạt hiệu quả cao thì việc lựa chọn vấn đề dạy và phươngpháp ôn tập chính xác, phù hợp là vấn đề vô cùng quan trọng. Trong tiến trìnhlịch sử Việt Nam, giai đoạn từ năm 1858 đến năm 1918 là một trong những nộidung cơ bản thường hay được đề cập tới ở các đề thi học sinh giỏi quốc gianhiều năm gần đây. Đây là giai đoạn có nhiều vấn đề, lượng kiến thức khánhiều, nhiều vấn đề phức tạp, khó nhớ, khó học. Do đó việc lựa chọn vấn đề vàphương pháp ôn tập phù hợp đối với giai đoạn này để học sinh đạt hiệu quả caotrong các kì thi nhất là kì thi học sinh giỏi quốc gia là một vấn đề rất cần thiết.Qua thực tiễn giảng dạy cũng như nghiên cứu tìm hiểu để giảng dạy và ôntập cho học sinh trong giai đoạn lịch sử từ năm 1858 đến 1918, chúng tôi đã tậptrung vào 3 vấn đề cơ bản:Một là: Quá trình thực dân Pháp xâm lược Việt Nam và cuộc kháng chiếnchống thực dân Pháp của nhân dân ta (từ năm 1858 đến năm 1884).Hai là: Phong trào Cần Vương cuối thế kỉ XIX.Ba là: Phong trào giải phóng dân tộc theo khuynh hướng dân chủ tư sảncủa tầng lớp sĩ phu thế kỉ XXĐó cũng 3 chuyên đề mà chúng tôi đề cập trong bài viết của cuộc hội thảolần này nhằm trao đổi, rút kinh nghiệm cùng với các giáo viên ở các trường bạnkhi dạy và ôn tập cho học sinh giỏi quốc gia phần nội dung lịch sử Việt Nam từnăm 1858 đến năm 1918. Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các đồngnghiệp ở các trường bạn.Trường THPT Chuyên Thái Bình180HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIB. NỘI DUNGI. Lựa chọn vấn đề dạy:Chuyên đề 1: Quá trình thực dân Pháp xâm lược Việt Nam và cuộckháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta (từ năm 1858 đến năm 1884)1. Sự khủng hoảng của chế độ phong kiến Việt Nam dưới triều Nguyễn.Mặc dù triều đình Nguyễn đã tìm nhiều biện pháp khắc phục khủnghoảng, song không thể cứu vãn được tình thế mà chỉ làm cho cuộc khủng hoảngtiếp tục sâu sắc thêm, đặc biệt nghiêm trọng từ khi Tự Đức lên ngôi vua. Cuộckhủng hoảng đã diễn ra trầm trọng trên tất cả các mặt kinh tế, chính trị, xã hội.Mâu thuẫn xã hội trở nên gay gắt, đặc biệt là mâu thuẫn giữa nông dânvới địa chủ cường hào đã dẫn tới sự bùng nổ quyết liệt các cuộc đấu tranh củanông dân xuyên suốt các triều vua nhà Nguyễn. Trong nửa đầu thế kỉ XIX, cóđến 500 cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ khác nhau của nông dân. Chỉ tính từ khi TựĐức lên ngôi đến lúc thực dân Pháp đánh vào Nam Kì (1859) đã có tới 40 cuộcnổi dậy của nông dân và các tầng lớp nhân dân khác.2. Những thách thức lịch sử và chính sách bảo thủ của triều Nguyễn.Chính giữa lúc cuộc khủng hoảng xã hội Việt Nam đang diễn ra trầm trọngthì các nước đế quốc chủ nghĩa phương Tây đẩy mạnh công cuộc xâm lượcthuộc địa, bóc lột, vơ vét tài nguyên của các nước nhược tiểu. Việt Nam đã trởthành miếng mồi ngon của đế quốc, chủ yếu là đế quốc thực dân Pháp.Tình hình đó đặt Việt Nam trước sự lựa chọn lịch sử: phải cải cách bêntrong và mở rộng quan hệ bang giao bên ngoài, tạo lực, tạo thế vững mạnh,khôn khéo bảo vệ quyền độc lập dân tộc hay tiếp tục duy trì chế độ phong kiếnchuyên chế lạc hậu và phản động, đưa đất nước vào vực thẳm suy vong, tạođiều kiện thuận lợi cho các đế quốc phương Tây kéo vào xâm lược, biến ViệtNam trở thành thuộc địa của chúng.Cần phải nhấn mạnh rằng lúc bấy giờ, một số nho sĩ yêu nước thức thời,tiêu biểu là Nguyễn Trường Tộ đã nhận thấy nguy, kịp thời đưa ra những đềnghị cải cách đất nước để cứu vãn tình thế, song đều không được nhà Nguyễnchấp nhận. Cuộc khủng hoảng ngày càng diễn ra trầm trọng thêm, đẩy đất nướcvào tình thế nguy hiểm.3. Quá trình xâm lược Việt Nam của thực dân PhápTháng 9 năm 1858, thực dân Pháp phối hợp với Tây Ban Nha đem tàuchiến đánh vào Đà Nẵng mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta.Trường THPT Chuyên Thái Bình181HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VINăm 1859, sau khi bị sa lầy ở Đà Nẵng, thực dân Pháp chuyển đại quânvào Nam Kì đánh chiếm Gia Định và lần lượt thôn tính 6 tỉnh Nam Kì.Sau khi thôn tính xong Nam Kì, quân Pháp đánh ra Bắc Kì, lần thứ nhất(tháng 11 năm 1873) và lần thứ hai (1882 – 1883). Tháng 8 năm 1883, Pháp tấncông Thuận An.Triều đình nhà Nguyễn đã đầu hàng, lần lượt kí với Pháp Hiệp ước Hácmăng (1883) và Hiệp ước Patơnôt (1884).4. Các cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược của nhân dân taTrước cuộc tấn công xâm lược của thực dân Pháp, nhân dân ta liên tiếpđứng lên kháng chiến. Trên mặt trận Đà Nẵng, ngay khi Pháp nổ súng, quântriều đình do Nguyễn Tri Phương chỉ huy và nhiều đội quân của nông dân kéođến phối hợp đã giam chân địch 5 tháng ở đây. Tiếp đến là các cuộc chiến đấuquyết liệt chống địch đánh chiếm Gia Định và các tỉnh miền Đông Nam Kì, rồiđến các cuộc chiến đấu bảo vệ các tỉnh miền Tây Nam Kì. Trong cuộc chiến đấunày đã nổi lên hình ảnh chiến đấu ở mặt trận Gia Định của quân đội do NguyễnTri Phương chỉ huy, các đội nghĩa quân của Trương Định, Võ Duy Dương,Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Hữu Huân…Phong trào kháng chiến ở Nam Bộ đầy gian khổ hi sinh, song vô cùnghiên ngang, anh dũng với ý chí: “Bao giờ người Tây nhổ hết cỏ nước Nam thìmới hết người Nam đánh Tây”.Ở Bắc Kì, cuộc chiến đấu của quân đội triều đình và của nhân dân diễn ravô cùng quyết liệt. Nguyễn Tri Phương và con trai Nguyễn Lâm hi sinh trên trậntuyến, Hoàng Diệu tuẫn tiết đã nêu gương sáng về lòng yêu nước bất khuất,sống chết với Hà Nội. Nghĩa quân các địa phương do các sĩ phu yêu nước chỉhuy đã quyết liệt chống cự khi địch đánh nống ra các vùng nông thôn.Chuyên đề 2: Phong trào Cần Vương cuối thế kỉ XIXI. Cuộc phản công của phái chủ chiến ở kinh thành Huế. Phong tràoCần Vương bùng nổ và phát triển.1. Tình hình Việt Nam sau Hiệp ước Hácmăng (1883) và Hiệpước Patơnot (1884).Hiệp ước Hacmăng (1883) và Hiệp ước Patơnot (1884) được kí kết đãđánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn của nhà nước phong kiến Việt Nam độc lập và sựđầu hàng của triều Nguyễn trước chủ nghĩa tư bản Pháp, thừa nhận nền đô hộcủa Pháp đối với VN. Đến đây giai cấp địa chủ phong kiến đã hết vai trò lịch sửTrường THPT Chuyên Thái Bình182HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VItrong xã hội, không còn là giai cấp đại biểu cho quyền lợi dân tộc mà đã trởthành giai cấp phản động. Tuy nhiên lúc này, hệ tư tưởng phong kiến vẫn tồn tạivà tiếp tục được sử dụng làm vũ khí chống Pháp. Một bộ phận trí thức phongkiến vẫn tiếp tục sử dụng ngọn cờ tư tưởng phong kiến để phát động phong tràoyêu nước chống Pháp.Trong triều đình nhà Nguyễn đã phân hoá thành 2 phe rõ rệt: Phe chủ hoàvà phe chủ chiến (do Tôn Thất Thuyết đứng đầu). Tôn Thất Thuyết hay còn gọilà Lê Thuyết, là người trong hoàng tộc, là hậu duệ của Hiền vương NguyễnPhúc Tần nhưng một chi xa tại Huế. Ban đầu ông chỉ giữ một chức quan nhỏ, đãtừng tham gia vào đánh Pháp khi Pháp đánh chiếm Bắc Kì lần I và cùng chiếnđấu với đội quân Lưu Vĩnh Phúc. Tháng 6/1883, ông được sung làm Cơ mật đạithần. Tháng 7/1883, ông cùng với Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tường làmPhụ chính đại thần cho Hoàng tử trưởng Ưng Chân (Dục Đức) nối ngôi. NgườiPháp đã đánh giá về Tôn Thất Thuyết như sau: “Lòng yêu nước của Tôn ThấtThuyết không chấp nhận một sự thoả hiệp nào, ông ta xem các quan lại chủ hoànhư kẻ thù của dân tộc…Tuy nhiên, dù cho sự đánh giá ông của những ngườicùng thời thiên vị như thế nào, một đạo đức lớn đã bộc lộ rõ rệt trong mọi hoàncảnh của đời ông: đó là sự gắn bó lạ lùng của ông với Tổ quốc”. “Rõ ràng làThuyết không bao giờ muốn giao thiệp với chúng ta (chỉ quân Pháp), ông biểulộ lòng căm ghét không cùng đối với chúng ta trong mọi hoàn cảnh. Chúng ta cóthể nói rằng, ông ta đã căm ghét chúng ta: đó là quyền và có lễ đó cũng là bổnphận của ông ta”.Phe chủ chiến do Tôn Thất Thuyết đứng đầu vẫn kiên quyết giữ vữngtinh thần quyết tâm kháng chiến, kịch liệt lên án và chống lại những hoạt độngphản bội của bọn đầu hàng và ra sức chuẩn bị lực lượng để đánh giặc, giành lạichủ quyền của dân tộc. Ông bí mật cho xây dựng căn cứ Tân Sở trên miền rừngnúi Quảng Trị, cho chuyên trở lương thực, tiền bạc, vũ khí từ kinh đô và cáctỉnh về đây để phòng khi có biến sẽ dùng đến. Một số đồn sơn phòng được xâydựng ở dọc theo sườn Đông Trường Sơn. Ông cũng ra sức tuyển mộ quân lính,tổ chức và đẩy mạnh huấn luyện các đội quân “Phấn nghĩa” và “Đoàn kiệt”.Không những thế, phe chủ chiến còn cương quyết phế truất và trừ khử các ôngvua Nguyễn và một số quan lại bộc lộ tư tưởng thân Pháp như vua Dục Đức,Hiệp Hoà, phụ chính đại thần Trần Tiễn Thành. Sau khi Tự Đức băng hà,Hoàng tử trưởng Ưng Chân nối ngôi, sau 3 ngày, Nguyễn Văn Trường bàn kínvới Tôn Thất Thuyết phế bỏ Ưng Chân rồi đưa em út Tự Đức là Hồng Dật lênTrường THPT Chuyên Thái Bình183HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIngôi, tức là vua Hiệp Hoà. Bốn tháng sau, thấy Hiệp Hoà không có ý hợp tácvới mình lại tỏ ra thân Pháp, hai phụ chính đại thần liền bức tử Hiệp Hoà và giếtcả phụ chính đại thần Trần Tiễn Thành, rồi đưa Ưng Đăng lên làm vua(2/12/1883), tức vua Kiến Phúc. Tuy nhiên, công việc cần kíp nhất đối với ônglà tìm cho được một người có tinh thần chống Pháp để đặt lên ngôi vua, cô lậpvà gạt bỏ phe chủ hoà và bọn phản bội đang ráo riết hoạt động trong triều với sựche chở của Cuôcxy. Cuối cùng, Tôn Thất Thuyết đưa Ưng Lịch lên ngôi ngàymùng 2 tháng 8 năm 1884 với niên hiệu là Hàm Nghi, bất chấp sự đe doạ, bựctức của Toà Khâm sứ Pháp ở Huế.Trước những hoạt động của phái chủ chiến, thực dân Pháp hết sức lolắng, tìm mọi cách trừ khử Tôn Thất Thuyết và phe cánh của ông. Thực dânPháp thấy rằng, sự tồn tại của phái chủ chiến trong triều đã cản trở chúng biếntriều đình thành một công cụ đắc lực để sử dụng vào việc “bình định” và tổchức cai trị của chúng. Mặt khác, sự tồn tại của phe chủ chiến trong triều càngthúc đẩy phong trào kháng chiến của nhân dân ta phát triển. Tháng 10/1884,quân Pháp khiêu khích, chiếm đồn Mang Cá (góc Đông Nam thành Huế) và tìmcách giải tán Hội đồng phụ chính. Tháng 5/1885, Pháp cử tướng Cuôcxy – mộtnhân vật bảo hoàng và hiếu chiến – sang Việt Nam nắm toàn quyền về quân sựvà chính trị, kiểm soát ngặt nghèo mọi mặt trong triều đình Huế và cả nước ta.Tháng 6/1885, Tướng Cuôcxy đưa binh thuyền từ Bắc Kì vào Huế, âm mưudùng áp lực quân sự để loại bỏ phái chủ chiến, giải tán quân đội triều đình vàbắt Tôn Thất Thuyết. Vừa đặt chân tới Huế, y đã huyênh hoang tuyên bố: “..Tôiluôn luôn may mắn trên con đường sự nghiệp ở bất cứ nơi đâu tôi tới, ngôi saochiếu mệnh của tôi không bao giờ mờ. Tôi nhìn thấy ngôi sao đó rực lên mộtánh sáng mới”.Thực hiện mưu đồ có sẵn, Cuôcxy mời các viên phụ chính qua sông tớisứ quán Pháp để thảo luận về việc vào triều yết kiến vua Hàm Nghi và trìnhquốc thư, nhân dịp đó sẽ giữ lại Tôn Thất Thuyết không cho ông về. Tuy vậy,Tôn Thất Thuyết cảnh giác cáo bệnh không đi, chỉ có một mình Nguyễn VănTrường sang.Ngày 1/7/1885, khi vừa đặt chân tới Huế, Cuôcxi đã láo xược đòi vuaHàm Nghi phải treo cờ Pháp trong thành nội, phải bắn 19 loạt đại bác chàomừng và mở cửa Ngọ môn cho hắn và binh lính đi vào. Hắn cũng đòi giải tán sốquân cơ động là lực lượng chủ chiến của triều đình. Hắn tuyên bố: “Đoạn chótcủa mọi việc là ở Huế”.Trường THPT Chuyên Thái Bình184HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIChiều ngày 4/7, Cuôcxy còn cự tuyệt không tiếp các phái viên của triềuđình, không chịu nhận lễ vật của thái hậu Từ Dũ gửi sang. Hôm vào triều yếtvua Hàm Nghi và trình quốc thư, hắn cùng đám tuỳ tùng nghênh nganh đi thẳngcửa chính Ngọ Môn xưa nay dành riêng cho nhà vua.Tình hình ngày càng căng thẳng, nhưng Tôn Thất Thuyết vẫn không hềnao núng. Ông cho gấp rút chấn chỉnh quân đội, đào hào đắp luỹ ngay trongkinh thành Huế, chuẩn bị súng, đạn và khí giới, cho dàn đại bác trên mặt thànhsẵn sàng chiến đấu. Tôn Thất Thuyết quyết định nổ súng để giành thế chủ động.2. Cuộc phản công của phái chủ chiến tại Kinh thành Huế (7/1885).Phong trào Cần Vương bùng nổ.Cuộc phản công của phái chủ chiến tại Kinh thành Huế nhằm gây nênmột sự biến chuyển cơ bản, buộc Pháp phải thay đổi thái độ, giành thế chủ độngvề phía ta. Cơ sở để Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Trường có thể phát độngcuộc phản công và mạnh tay hành động là sự hậu thuẫn của đông đảo tầng lớpnhân dân và các quan lại có chủ trương kháng chiến. Họ đã từng nuôi dưỡngtinh thần phản kháng suốt mấy chục năm, kể từ khi thực dân Pháp nổ súng xâmlược nước ta.Do biết được rằng đêm ngày 22 tháng 5 năm Ất Dậu (4/7/1885), nhân dịpđến Huế, tướng Đơ Cuôcxi mở tiệc khoản đãi các văn, võ sĩ quan Pháp ở Huếtại toà Khâm Sứ, phái chủ chiến đã vạch ra kế hoạch phản công cụ thể. Toàn bộlực lượng được chia thành 2 đạo quân:- Một đạo quân do Tôn Thất Lệ chỉ huy vượt sông Hương, phối hợp cùngvới lực lượng thuỷ quân ở trại Thuỷ sư, tấn công vào toà Khâm sứ – đại bảndoanh của thống đốc Cuôcxi.- Một đạo quân thứ hai do Tôn Thất Thuyết và Trần Xuân Soạn chỉ huy,bao vây đồn Mang Cá, nơi tập trung nhiều binh lính, vũ khí của Pháp. Một toánquân phục kích ở cầu Thanh Long nhằm ngăn chặn quân Pháp rút chạy.Ban đầu cuộc tấn công dự định sớm hơn 1 giờ, nhưng vì công việc sắpđặt chưa hoàn bị nên mãi đến lúc trăng lên, nghĩa là lúc 12 giờ 40 phút mới bắtđầu khởi sự, các mũi tấn công bắt đầu bằng những loạt đại bác bắn vào các vị trícủa quân Pháp ở toà Khâm Sứ và đồn Mang Cá.Vì cuộc tấn công chậm trễ thành thử các sĩ quan đều về đồn bình yên vô sự.Sau buổi dạ hội náo nhiệt, quang cảnh lần lượt trở lại yên tĩnh. 11g30 ai nấyđều ra về.Trường THPT Chuyên Thái Bình185HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIToà Khâm sứ và đồn Mang Cá đang chìm trong giấc ngủ, bỗng nhiênvang lên tiếng đại bác và tiếng reo hò vang dậy. Những trại lợp tranh của lính ởbị những bó đuốc của quân ta xung phong đốt, bốc cháy dữ dội. Hăng hái nhấtlà đội quân Phấn nghĩa tức là lính do Tôn Thất Thuyết mộ để làm tay chân,cùng những phạm nhân ở lao Thừa Thiên và lao Trấn Phủ được thả về để đãicông chuộc tội. Họ mang súng hoặc đại đao, mã tấu, mình trần trùng trục, tóc bỏxoã ngang gối.Đạo quân đánh vào toà Khâm sứ do Tôn Thất Lệ chỉ huy, còn đạo quânđánh vào đồn Mang Cá thì do Đề Đốc Trần Xuân Soạn và Tôn Thất Thuyết tựthân hành đốc suất. Một viên đại bác từ pháo đài ta trên cửa thành bắn sang làmthủng một lỗ lớn trên nóc toà Khâm sứ. Tường và mái đều bị xuyên đạn. Nhàkho, nhà vệ sinh sụp đổ và bốc lửa. Nhiều sĩ quan Pháp bị thương, bị chết.Cuộc tấn công bất ngờ làm cho quân Pháp hoang mang, rối loạn, nhưngsau đó chúng chấn chỉnh lại và tổ chức phản công. Quân Pháp đã bảo vệ đượckho khí giới đạn dược và lương thực. Nhưng quân trang thì bị cháy sạch.Do một cái cửa ăn thông qua đại trại, 160 binh sĩ của Pháp kéo vào toàKhâm sứ. Chính tướng Cuôcxi đã điều khiển toán quân này, đặt mỗi cửa sổ haingười bắn ra để chặn đứng những đợt xung phong của lính Việt.Một điều may mắn cho lính Pháp là nhà Bưu điện cách toà Khâm sứ 300thước không bị hư hại gì cả, nên tướng Cuôcxi cho đánh điện gọi lính ở HảiPhòng cấp tốc vào Huế và gọi lính ở Thuận An kéo lên.Ban đầu súng đại bác của ta bắn không hề trúng đích, nhưng về sau đã tànphá được nhiều nơi, làm thủng trần, sập vách. Cả toà Khâm sứ rộng lớn chỉ cònlại gian phòng chính là đứng vững.Tại đồn Mang Cá, sau những phút kinh hoàng, quân Pháp phản côngđánh chiếm kinh thành. Súng đại bác chĩa bắn vào các ổ súng của ta. Hai pháohạm, nhờ có ánh lửa của những túp nhà bị cháy nên đã bắn trúng vào mặt đôngbắc của kinh thành. Quân Pháp ở Mang Cá kéo vào tập trung tại khu đất mà tađã nhượng cho Pháp từ một năm nay, rồi chia thành 3 toán kéo đi tấn công cácngả, tiến vào Thành nội. Quân ta kháng cự rất hăng nhưng sau một tiếng đồnghồ thì rút lui và tan rã hàng ngũ. Pháp chiếm được 6 cỗ đại bác hạng lớn đặt trênmặt thành rồi dùng lại những khẩu súng này để bắn lại quân ta.Tới gần sáng, “lưới lửa” của Tôn Thất Thuyết thưa dần phần vì hết đạn,phần vì ngỡ rằng quân Pháp bị tiêu diệt, nhưng thực ra chúng cố thủ chờ trờisáng.Trường THPT Chuyên Thái Bình186HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VITrời gần sáng, chiến cuộc vẫn tiếp diễn dữ dội nhưng quân ta yếu thế cứlùi dần. Pháp đốt hai bộ Lại và Binh là chỗ ở của Phan Văn Trường và Tôn ThấtThuyết cùng công thự, các trại lính. Quân Pháp tổ chức phản công, chiếm lạiđược Hoàng thành, cho binh lính gây nhiều tội ác. Gặp dân chúng chạy loạn,không phân biệt già trẻ trai gái, chúng đều tàn sát một cách rùng rợn, tiếng lakhóc vang trời dậy đất.8g 10, trên kì đài ta đã phất phơ lá cờ Pháp. Tiếng gọi là cờ nhưng kì thậtlà sợi dây thắt lưng của một tên lính châu Phi kết với hai mảnh vải.9g quân Pháp vào Đại nội. Quân ta rút khỏi Hoàng thành.Các điện đài, dinh thự khác trong Hoàng thành, suốt 48 tiếng đồng hồ bịquân Pháp ra tay vơ vét. Phần nhiều trong túi tên lính nào cũng có những nénbạc cướp được của kho ta. Một phóng viên của Hãng Ava đã miêu tả suốt trong5 ngày có 50 người chuyên việc sắp xếp các bảo vật để đưa về Pháp.Theo sự ước lượng của Pháp thì quân số của ta trong trận chiến gồm20000 người, tử trận khoảng 1200 đến 1500 người.Về phía Pháp: 2 sĩ quan và 9 binh sĩ chết.2 sĩ quan và 4 binh sĩ tử thương.5 sĩ quan và 71 binh sĩ bị thương.Như vậy, kết quả cuộc phản công của phái chủ chiến ở kinh thành Huế đãbị thất bại. Song theo quan điểm của một số sử gia thực dân cho rằng: Cuộc nổidậy ở Huế năm 1885 cơ bản là sự biểu hiện của sự xung đột về mặt quyền lợigiữa các phe phái trong triều đình, nhất là từ khi vua Tự Đức mất (7/1883).Nhìn nhận một cách khách quan chúng ta thấy rõ rằng đây không phải là cuộcxung đột về mặt quyền lợi giữa các phe phái trong triều đình.Vì: Hành động của phái chủ chiến không phải chủ yếu là nhằm vào pháichủ hoà mà chủ yếu là nhằm vào thực dân Pháp. Đó chính là sự trỗi dậy của tinhthần yêu nước vốn có của bộ phận quan lại chủ chiến ở triều đình cũng như ởcác địa phương. Song trong điều kiện lịch sử bấy giờ, tinh thần đó thường đượcbiểu hiện thông qua ý thức hệ phong kiến.Tôn Thất Thuyết đã vua Hàm Nghi cùng đoàn tuỳ tùng rút chạy khỏi kinhthành Huế lên sơn phòng Tân Sở (Quảng Trị). Đoàn hộ tống xa giá nhà vuachạy ra ngả Trường Thi, theo đường ra sơn phòng Tân Sở (Quảng Trị), bỏ lạisau lưng kinh thành rực cháy với nhiều xác chết của quân lính và dân cư bị giặcsát hại. Sau này, hàng năm ở Huế có tục “quẩy com chung” để cúng giỗ nhữngngười dân bị chết vì mũi tên hòn đạn trong cuộc chiến.Trường THPT Chuyên Thái Bình187HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIKhi TTT hạ lệnh tập hợp tướng sĩ mời hoàng Thái hậu, vua Hàm Nghilên kiệu bôn tẩu, vua Hàm Nghi có vẻ không hiểu gì cả, sửng sốt nói: “Ta cóđánh nhau với ai đâu mà phải chạy”TTT liền rút gươm ra khiến quân lính vực vua lên kiệu, qua cửa Hữu, rakhỏi hoàng thành đi về phía Kim Long.Thế là làm vua chưa đầy một năm, vua Hàm Nghi đã cùng Hoàng tộc,đình thần lao vào cuộc chạy giặc vô cùng gian khổ…Ngay sau khi Hàm Nghi xuất bôn, Cuôcxi đã kịp thời cho quân chiếmĐồng Hới (Quảng Bình) và Quảng Nam trong tháng 7 và tháng 8/1885 để chặnđầu khoá đuôi không cho đoàn xa giá chạy thoát ra Bắc hay vào Nam. Đạo ngựbôn tẩu có trên 1000 người gồm các Ông Hoàng bà chúa già, trẻ, các đại thần vàđại gia đình của họ… Tất cả rời khỏi chốn quyền quý vinh hoa để lên rừng tránhgiặc truy kích. Hơn hai ngày sau đạo ngự mới ra đến Quảng Trị. Tất cả tạm nghỉngơi. Đại thần Nguyễn Văn Tường đã bỏ trốn, trở lại Huế đầu hàng Pháp.Theo lệnh Hoàng thái hậu Từ Dũ, chiều 8/7/1885, tất cả các quan văn võđại thần tập họp để bàn định việc “kháng chiến”. Ý của bà Từ Dũ và các bàChúa, một số đình thần là muốn trở về. TTT tức đỏ mặt. Hoàng Thái Hậu nói:“Những người tuổi già sức yếu thì đánh Pháp làm sao được. Đem họ đi chỉ thêmvướng chân thôi”.Tôn Thất Thuyết suy nghĩ rồi đồng ý, chia đạo ngự thành hai đoàn: Ai giàyếu, thiếu ý chí chiến đấu thì theo Hoàng Thái hậu trở về kinh thành. Ai muốngiữ chữ “Trung” với vua thì lên Tân Sở.Sáng ngày 9/7/1885, cảnh chia tay đau xót, bùi ngùi. Vua Hàm Nghi, đạithần Tôn Thất Thuyết và một số quan văn võ, binh lính lên đường ngay và chiềutối thì đến thành Tân Sở.Ba ngày sau, giữa cảnh núi rừng thưa thớt, cây cối khô cằn, nhà vua đămchiêu, buồn rầu và đòi về Huế. Tôn Thất Thuyết nghiêm mặt nói:- Bệ hạ muốn về Huế cũng được nhưng phải… xin ngài để lại cái đầu ởđây đã!Từ đó, vua Hàm Nghi mới 13 tuổi, đã biết suy nghĩ, trở nên bình tĩnh.Khi TTT xin vua phê chuẩn tờ chiếu kể tội Pháp và kêu gọi nhân dân nổi dậychống Pháp- Hịch Cần Vương- Nhà vua đọc và phê chuẩn rồi nói:- Bây giờ Trẫm mới hiểu vì sao khanh không muốn cho Trẫm về Huế khicòn giặc Pháp chiếm đóng.Trường THPT Chuyên Thái Bình188HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI- Vậy, nếu đòi hỏi đi vào sống trong rừng sâu để kháng chiến thì Ngài cóđi không?- Đi đâu cũng được, sống thế nào cũng được, miễn là đuổi giặc Pháp rakhỏi đất nước.Thế là hôm sau Tôn Thất Thuyết phò vua rời Tân Sở vượt đèo Quỳ Hợpsang địa phận Hà Tĩnh để về Ấu Sơn, nơi mà Tôn Thất Thuyết dự định đặt đạibản doanh kháng chiến. Tại đây, ngày 20/9/1885, chiếu Cần vương được phátra. Chiếu Cần vương có đoạn viết: “Nước ta gần đây ngẫu nhiên gặp nhiều việc.Trẫm tuổi trẻ nối ngôi không lúc nào không nghĩ tới tự cường tự trị. Kẻ pháicủa Tây ngang bức, mỗi ngày một quá thêm. Hôm trước, chúng tăng thêm binhthuyền đến, buộc theo những điều mình không thể nào làm được, ta chiếu lệthường tiếp đãi, chúng không chịu nhận một thứ gì. Người kinh đô náo sợ, sợnguy hiểm ngay trong chốc lát. Kẻ đại thần lo việc nước chỉ nghĩ đến kế làmcho nước nhà được yên, triều đình được trọng; cúi đầu tuân mệnh hay ngồi đểmất cơ hội, sao bằng nhìn thấy chỗ âm mưu biến động của địch mà đối phótrước? Ví bằng việc xảy ra không thể tránh được thì cũng còn có cái việc nhưngày nay để lo cho tốt cái lợi sau này, ấy là do thời thế xui nên vậy. Phàmnhững người đã cùng dự chia mối lo này, tưởng cũng đã dự biết. Biết thì phảidự vào công việc, nghiến răng dựng tóc thề giết hết giặc, nào ai là không có cáilòng như thế? Lẽ nào không có những người gối gươm, đánh chèo, cướp giáo,lăn chum ư?… Trẫm đức mỏng, gặp biến cố này không thể hết sức giữ được, đểđô thành bị hãm, xe Từ giá phải dời xa, tội ở mình Trẫm cả, thật xấu hổ vôcùng. Nhưng chỉ có luân thường quan hệ với nhau, trăm quan khanh sĩ không kểlớn nhỏ, tất không bỏ Trẫm: kẻ trí hiến mưu, người dũng hiến sức, kẻ giàu bỏcua ra giúp quân nhu, đồng bào đồng trạch chẳng từ gian hiểm, như thế mớiphải chớ? Cứu nguy chống đổ, mở chỗ nguy khốn, giúp nơi bức bách đều khôngtiếc gì tâm lực, ngõ hầu lòng trời giúp thuận, chuyển loạn thành trị, chuyểnnguy thành an, thu lại được bờ cõi chính là cơ hội này, phcú của tôn xã tức làphúc của thần dân, cùng lo với nhau thì cũng nghĩ với nhau, há chẳng tốt lắmư? Bằng lòng sợ chết nặng hơn lòng yêu vua, nghĩ lo cho nhà hơn là lo chonước, làm quan thì mượn cớ tránh xa, đi lính thì đảo ngũ lẩn trốn, người dânkhông biết trọng nghĩa cứu gấp việc công, kẻ sĩ thì cam bỏ chỗ sáng đi vào nơitối…ai nỡ làm như thế? Thưởng cũng hậu mà phạt cũng nặng, triều đình sẽ cóphép tắc hẳn hoi, chớ để sau này phải hối!…”Về cơ bản nội dung của chiếu Cần vương có những nội dung sau:Trường THPT Chuyên Thái Bình189HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI+ Nêu lại tình hình sự biến kinh thành.+ Tố cáo tội ác của thực dân Pháp cùng sự phản bội của một số quan lại.+ Chỉ ra tính bất hợp pháp của triều đình Đồng Khánh do Pháp mới dựng lên.+ Kêu gọi văn thân sĩ phu cùng nhân dân cả nước quyết tâm kháng chiếnđến cùng.Chiếu Cần vương ban hành đã nhanh chóng thổi bùng một đợt mới ngọnlửa kháng Pháp vốn đang âm ỉ cháy trong quần chúng nhân dân và nhanh chóngbiến thành một phong trào lớn, kéo dài hơn 10 nămCó thể nói ChiÕu CÇn v­¬ng thóc ®Èy phong trµo yªu n­íc chèngPh¸p x©m l­îc d©ng lªn s«i næi kÐo dµi ®Õn cuèi thÕ kØ XIX vì:ChiÕu CÇn v­¬ng thÓ hiÖn viÖc g¾n quyÒn lîi cña triÒu ®×nh víi quyÒn lîicña d©n téc, phôc vô d©n téc cho nªn ®­îc nh©n d©n tÝch cùc h­ëng øng.Đặc biệt, trong khi mượn lời Hàm Nghi viết chiếu Cần Vương, Tôn ThấtThuyết trong chừng mực nào đó, dù vô tình hay hữu ý, đã chú ý gắn quyền lợicủa nhân dân với quyền lợi của triều đình và của dân tộc, vì thế cuộc phản côngcủa phái chủ chiến trong kinh thành Huế và sự kiện vua Hàm Nghi rời bỏ kinhthành đã có tác dụng thúc đẩy và cổ vũ phong trào kháng chiến của nhân dân ta.(Đối với quan lại chủ chiến ở các nơi thì có một chủ nghĩa để tôn thờ (trước họkhông dám hành động, lúng túng trong cách xử trí trước tình hình mới, nhất làkhi họ vẫn đang bị chi phối bởi tư tưởng “trung quân”, chỉ biết treo ấn từ quan,về ở ẩn, hoặc xung vào quân đội nhà Thanh để chống Pháp, hoặc chờ thời đểhành động…), còn đối với nhân dân thì có tác dụng như châm một mồi lửa làmbùng cháy tinh thần yêu nước vốn có, cố kết lại thành một cao trào, trong lúc ởnước ta chưa có một giai cấp tiên tiến, đủ mạnh để nuôi dưỡng, phát huy nó).Nói cách khác, chiếu Cần vương đã có tác động mạnh đến các tầng lớp văn thânsĩ phu và nhân dân.Văn thân sĩ phu là những người trí thức, những người có học, có nhiềungười đã đỗ đạt làm quan của triều đình phong kiến nhà Nguyễn lúc bấy giờ. Họbị chi phối nặng nề bởi tư tưởng Nho giáo, tư tưởng trung quân ái quốc. Đối vớihọ, yêu nước là phải trung thành với nhà vua, duy trì chế độ cũ và ngược lạitrung thành với nhà vua là yêu nước. Tư tưởng này đã chi phối toàn bộ nhậnthức và hành động của họ.Nhưng từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta (1858) đến trước khi cóchiếu Cần Vương (7/1885), họ luôn sống trong tâm trạng boăn khoăn, chăn trở,Trường THPT Chuyên Thái Bình190HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIdo dự, thậm chí hoang mang không biết lựa chọn con đường nào giữa vua vànước.Bởi lúc ấy, triều đình Nguyễn đứng đầu là vua Tự Đức không còn đạidiện cho dân tộc Việt Nam, không dám phát động quần chúng nhân dân đấutranh chống thực dân Pháp mà nhu nhược từng bước đầu hàng thực dân Pháp.Nếu thể hiện tinh thần yêu nước, không tuân lệnh bãi binh, đứng dậy cầm vũ khíchống thực dân Pháp như Hoàng Diệu, Trương Định, Nguyễn Tri Phương…thìlại có tội với nhà vua, không thể hiện được tư tưởng trung quân.Ngược lại, nếu theo lệnh vua bãi binh, đầu hàng thực dân Pháp để đượctrung quân thì họ lại đau đớn trước cảnh nước mất, lại trở thành những người cótội với dân tộc như Lâm Duy Hiệp….Sau vụ phản công ở kinh thành Huế thất bại, vua Hàm Nghi hạ chiếu CầnVương, kêu gọi họ cầm vũ khí chống thực dân Pháp giúp vua. Điều đó ngay lậptức đã đáp ứng được tư tưởng trung quân ái quốc của họ, lúc này “ái quốc” mớithực sự gắn liền với “trung quân”, điều mà không thể có trước đây. Họ hiểuđược lúc này, việc cầm vũ khí chống thực dân Pháp giành độc lập dân tộc cũnglà thể hiện tư tưởng trung quân và ngược lại trung quân là phải đứng lên chốngPháp.Do đó, ngay lập tức khi chiếu Cần Vương ban ra, các văn thân sĩ phu trong cảnước đã hưởng ứng đứng ra chiêu mộ binh sĩ tiến hành kháng chiến. Nhiều ngườitừng cáo quan về ở ẩn nay cũng đứng ra tập hợp binh sĩ khởi nghĩa.Như vậy, chiếu Cần Vương đã đáp ứng được tư tưởng trung quân ái quốctrong bộ phận lớn các văn thân sĩ phu, dẫn đến sự chuyển hoá lớn trong nhậnthức của họ. Đó cũng là lí do giải thích vì sao không phải ngẫu nhiên mà cáccuộc khởi nghĩa lớn, tiêu biểu trong phong trào Cần Vương đều do các văn thânsĩ phu tham gia lãnh đạo như Phạm Bành, Đinh Công Tráng, Nguyễn ThiệnThuật, Tống Duy Tân….Đối với quần chúng nhân dân mà chủ yếu là nông dân, họ không bị chiphối nặng nề bởi tư tưởng trung quân. Đối với họ chỉ có một lòng yêu nước.Mỗi khi có giặc ngoại xâm, họ lại tự phát nổi dậy đấu tranh để bảo vệ quêhương đất nước. Khi thực dân Pháp xâm lược, dù triều đình phong kiến Nguyễncó kêu gọi họ đấu tranh hay bãi binh thì họ vẫn cứ thể hiện tinh thần yêu nước,tự phát cầm vũ khí chống Pháp.Trước khi có chiếu Cần Vương, họ đã từng bất tuân lệnh bãi binh củatriều đình, thậm chí chống lại “cả triều lẫn Tây”, tự nổi dậy, tự tổ chức các cuộcTrường THPT Chuyên Thái Bình191HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIđấu tranh chống Pháp để thể hiện rõ tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc củamình như cuộc khởi nghĩa của Trương Định, Nguyễn Trung Trực, …Khi chiếu Cần Vương ban ra, họ được các văn thân, sĩ phu tập hợp lôikéo họ, đưa họ ra đấu tranh thì quần chúng nhân dân đã hưởng ứng một cáchnhiệt liệt với một tinh thần yêu nước, sáng tạo… Đến đây, họ đã có một ngọn cờlãnh đạo và tập hợp họ, cho dù đó là một ngọn cờ phong kiến lỗi thời, họ đã cómột phương hướng đấu tranh dù phương hướng đó rất mong manh.Như vậy, chiếu Cần vương đã đáp ứng được tinh thần yêu nước sâu sắctrong quần chúng nhân dân nên khắp nơi nhân dân đã hưởng ứng chiếu Cầnvương,họ đồng tình, ủng hộ và tham gia đông đảo, chiến đấu dưới ngọn cờchính nghĩa – ngọn cờ “Cần vương”.Nếu không có sự tham gia tích cực của quần chúng nhân dân thì sẽ khôngcó những cuộc khởi nghĩa lớn như khởi nghĩa Ba Đình, Bãi Sậy, cũng không cócuộc khởi nghĩa kéo dài như khởi nghĩa Hương Khê.Chính sự tham gia đông đảo của nhân dân hưởng ứng chiếu Cần Vươngđã làm nên một phong trào Cần Vương sôi nổi khắp từ Nam Trung bộ đến biêngiới phía Bắc, buộc thực dân Pháp phải mất tới hơn 10 năm mới bình định đượcViệt Nam.II. Diễn biến phong trào Cần Vương1. Giai ®o¹n 1: Tõ 1885 ®Õn 1896Hưởng ứng chiếu Cần vương, nhiều văn thân sĩ phu đã đứng ra chiêu mộnghĩa binh, xây dựng căn cứ để kháng chiến, với phạm vi tương đối lớn (từ cựcnam Trung Bộ chạy dài tới biên giới Việt Trung, lớn rộng tới biên giới ViệtLào), tập trung chủ yếu ở các tỉnh Bắc Kì và Trung Kì (Vì sau điều ướcHácmăng và Patơnôt, Nam Kỳ trở thành xứ thuộc địa nên thực dân Pháp trựctiếp cai trị, do đó chiếu Cần vương không ảnh hưởng tới được). Đây cũng là giaiđoạn phong trào được đặt dưới sự chỉ huy thống nhất của triều đình phong kiến.Tại Trung Kì: phong trào phát triển sôi nổi. Ở Quảng Nam: nhân dân đãnổi dậy dưới sự lãnh đạo của Trần Quang Dự (một nhà Nho yêu nước), nghĩaquân lên đến 2 nghìn người. Ngoài ra còn có cuộc khởi nghĩa của Nguyễn DuyHiệu (1khoa bảng, bố ốm đã từ quan) kéo dài trong 3 năm (1885-1888). ỞQuảng Ngãi: một số văn thân trong tỉnh như Lê Trung Đình, Nguyễn Tự Tân đãlập ra các đội hương binh, kiên trì tập hợp nhân dân chống Pháp nhưng cuốicùng cũng bị đàn áp. Ở Bình Định: nhiều trí thức phong kiến tham gia chốngPháp, lớn nhất là phong trào đấu tranh của Mai Xuân Thưởng. Ông đã từngTrường THPT Chuyên Thái Bình192HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIđem quân đánh vào tỉnh lị. Sau gần 2 năm tồn tại, đến tháng 6/1887 phong tràobị đàn áp thất bại, Mai Xuân Thưởng bị giết.Tại trung trung Kì (gồm Thừa Thiên, Quảng Trị, Quảng Bình) phong tràotập trung nhất ở Quảng Bình (nơi vua Hàm Nghi đặt căn cứ kháng chiến). Điểnhình là phong trào của Lê Trực, Nguyễn Phạm Tuân ở Quảng Bình; TrươngĐình Hội, Nguyễn Tự Như ở Quảng Trị….T¹i B¾c trung Kì (gồm Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh): phong trào khôngnhững lên cao mà còn bền bỉ, quy mô lớn. Trong đó đáng chú ý là phong tràođấu tranh của Lê Ninh, Phan Đình Phùng, Cao Thắng ở Hà Tĩnh; của NguyễnXuân Ôn ở Nghệ An; của Phạm Bành và Đinh Công Tráng, của Tống Duy Tânvà Cao Điển ở Thanh Hoá.Ở Bắc Kì: Nơi đây cũng tập trung nhiều phong trào đấu tranh lớn, đángchú ý nhất là phong trào đấu tranh ở vùng Tây Bắc do Nguyễn Quang Bích lãnhđạo, cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy do Nguyễn Thiện Thuật đứng đầu. Ngoài ra còncó một số cuộc khởi nghĩa khác nh­ cuéc kh¸ng chiÕn cña Hoµng §×nh Kinh ëvïng L¹ng S¬n, B¾c Giang…..Trong thêi k× ®Çu nh×n chung phong trµo ®· giµnh ®­îc mét sè th¾ng lîi,song tr­íc søc m¹nh qu©n sù ¸p ®¶o cña ®Þch, c¸c cuéc khëi nghÜa ph¶i tr¶i quanh÷ng thö th¸ch vµ tæn thÊt lín. Ba §×nh thÊt thñ, B·i Sëy tan t¸c. Ph¹m Bµnh,§inh C«ng Tr¸ng, Lª Ninh hy sinh; NguyÔn Xu©n ¤n bÞ b¾t; NguyÔn ThiÖnThuËt ph¶i ch¹y quan Trung Quèc…TTT còng ph¶i ®Ó vua Hµm Nghi ë l¹i c¨ncø víi hai con trai cña «ng ®Ó lªn ®­êng sang Trung Quèc cÇu viÖn, m­u tÝnhchuyÖn l©u dµi.Vßng v©y cña thùc d©n Ph¸p cø khÐp dÇn. Th¸ng 11/1888, do sù ph¶n béicña tªn Tr­¬ng Quang Ngäc, vua Hµm Nghi ®· r¬i vµo tay giÆc (Ngọc dù đầuquân Cần vương, được cho theo phò giá, lập nhiều chiến công, nhưng tâm địaphản trắc. Ngọc đã bị tên đồn trưởng Pháp là Mulô mua chuộc, đang tìm cáchđể bắt sống vua Hàm Nghi dâng nạp cho Pháp.Đêm 26/9/1888, Ngọc dẫn hơn 100 tên cận vệ người Mường bao vây cáilều tranh cuối cùng của vua Hàm Nghi trên bờ khe Tá Bảo. Nghe động bênngoài, cha con quan Thống chế Nguyễn Thuý nhảy ra liền bị Ngọc đâm chết.Tôn Thất Thiệp, con út của Tôn Thất Thuyết cầm gươm nhảy ra cũng bị tên línhMường phóng ngọn giáo trúng ngực chết luôn. Vua Hàm Nghi cầm gươm bướcra chỉ mặt kẻ phản bội và nói:- Mi giết ta đi còn hơn là mang ta nộp cho Tây.Trường THPT Chuyên Thái Bình193HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VITrương Quang Ngọc lúng túng thì một tên lính Mường đã nhảy vào ômngang lưng vua Hàm Nghi , giật lấy gươm, vác vua bỏ vào võng, khiêng xuốngthuyền, chở về đồn Thuận Bài đóng ở sông Gianh.Khi vua Hàm Nghi bước từ thuyền lên, tên thiếu tá Pháp cho cử quânnhạc và chúc mừng, vua Hàm Nghi nói: “Tôi không dám nhận lời chúc, tôi chỉlà bầy tôi của vua Hàm Nghi hiện ở trong rừng”.Viên thiếu tá phân vân nghi ngờ.Từ Thuận Bài nhà vua được đưa về Thuận An. Tại đây, khâm sứ Rheinartvà các quan cơ mật đại thần đến chào, vua Hàm Nghi cáo bệnh không tiếp.Rheinart cho biết Hoàng Thái hậu đang ốm, nếu vua Hàm Nghi cần gặp thì ôngta sẵn lòng. Vua Hàm Nghi nói: “Tôi thân đã tù, nước đã mất, còn dám nghĩ chiđến cha mẹ, anh em, chị em nữa…”. Nói xong, nhà vua bỏ vào phòng riêng.Ngày 13/1/1889, nhà vua bị đưa bằng tàu La Comett vào Sài Gòn rồisang thành phố Alger, thủ đô Algerie. Hàng năm, Nam triều trợ cấp cho vua25000 quan để sinh sống, và cứ ba năm thay người phục vụ một lần.Thời gian nặng nề trôi đi. Nhà vua bắt đầu khuây khoả chút ít nỗi đau xótcủa một người dân mất nước, thân phận đi đày, bằng hội hoạ, âm nhạc và mộtmái ấm gia đình nho nhỏ: một người vợ với ba đứa con (hai gái một trai). Tuynhiên, ông Hoàng An Nam theo cách gọi thân thương của người dân địa phươngvẫn luôn búi tóc, mặc quần áo VN trong suốt cả cuộc đời tha hương của mình.Năm 1949, vua Hàm Nghi mất tại Angiêri, thọ 64 tuổi, số tuổi cao nhất trongcác vị vua triều Nguyễn.)Tuy nhiªn, phong trµo kh«ng v× tæn thÊt mµ chÊm døt, tr¸i l¹i vÉn tiÕp tôcvµ cã xu h­íng ngµy cµng ®i vµo chiÒu s©u.Nh­ vËy, ®Æc ®iÓm næi bËt cña phong trµo CÇn V­¬ng trong giai ®o¹n 1 lµphong trµo ®­îc ®Æt d­íi sù chØ huy thèng nhÊt cña vua Hµm Nghi vµ Tôn ThấtThuyết, chñ yÕu ph¸t triÓn trªn diÖn réng, ®Þa bµn chñ yÕu ë vïng ®ång b»ng.2. Giai ®o¹n 2: Tõ 1888 ®Õn 1896Trong giai đoạn này, phong trào không còn sự chỉ đạo của triều đìnhkháng chiến. Phong trào vẫn tiếp tục phát triển quyết liệt, phong trào chốngPháp ở đồng bằng có phần thu hẹp, trung tâm của phong trào chuyển dần từđồng bằng lên vùng rừng núi, trung du dựa vào địa hình, địa vật để tiếp tục duytrì cuộc kháng chiến.Ở thời kì này, phong trào đã quy tụ lại ở một số cuộc khởi nghĩa lớn, cótrình độ tổ chức cao hơn, trong đó đã diễn ra một số chiến thắng vang dội, gâyTrường THPT Chuyên Thái Bình194HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIcho Pháp nhiều khó khăn. Tiêu biểu ở giai đoạn này là các cuộc khởi nghĩa BãiSậy (Hưng Yên), khởi nghĩa Ba Đình và Hùng Lĩnh (Thanh Hoá), khởi nghĩaHương Khê (Hà Tĩnh), với những bước phát triển mới của phong trào.Cuối cùng, phong trào Cần Vương chỉ bị dập tắt thực sự khi tiếng súngkháng chiến đã im trên rừng núi Vụ Quang (Hương Khê- Hà Tĩnh) vào cuốinăm 1896. Đặc điểm của phong trào ở giai đoạn này là phong trào không còn sựchỉ đạo của triều đình, trung tâm phong trào chuyển dần từ đồng bằng lên vùngrừng núi, trung du, chủ yếu phát triển theo chiều sâu, tập trung ở một số cuộckhởi nghĩa lớn.III. Đặc điểm, tính chất, nguyên nhân thất bại và ý nghĩa lịch sử củaphong trào Cần Vương.1. Đặc điểm của phong trào Cần Vương.- Mục tiêu: Chống thực dân Pháp, chống phong kiến đầu hàng, giành độclập dân tộc, khôi phục lại chế độ phong kiến độc lập.- Lãnh đạo: Văn thân, sĩ phu. Một số cuộc khởi nghĩa đã có những ngườitài giỏi xuất thân từ nông dân tham gia lãnh đạo bên cạnh các văn thân sĩ phu,tiêu biểu là Cao Thắng bên cạnh Phan Đình Phùng trong cuộc khởi nghĩaHương Khê, Cao Điền bên cạnh Tống Duy Tân trong cuộc khởi nghĩa HùngLĩnh.- Lực lượng tham gia: Văn thân, sĩ phu yêu nước, nông dân.- Hình thức đấu tranh: Tất cả các cuộc khởi nghĩa trong phong trào CầnVương đều theo hình thức đấu tranh duy nhất là vũ trang bạo động. Đó cũng làtruyền thống của dân tộc ta trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ chủ quyền của Tổquốc. Điều này chứng tỏ phong trào Cần Vương đã kế thừa truyền thống đấutranh của dân tộc.Các cuộc khởi nghĩa trong phong trào Cần Vương đã tận dụng mọi loạihình của đấu tranh vũ trang: Cuộc khởi nghĩa Bãi Sậy tận dụng địa bàn rộng lớnở đồng bằng Bắc Bộ để tiến hành cuộc chiến tranh du kích với căn cứ chính ởHưng Yên- Hải Dương và các tỉnh thuộc tả ngạn sông Hồng; khởi nghĩa BaĐình lại dựa vào điều kiện tự nhiên để xây dựng hệ thống phòng thủ kiên cố; cuộckhởi nghĩa Hương Khê lại lợi dụng địa thế hiểm trở của núi rừng để đánh giặc.2. Tính chất của phong trào Cần Vương.Đây là một phong trào yêu nước chống ngoại xâm, thể hiện ý chí đấu tranhkiên cường bất khuất của dân tộc ta đứng trên lập trường phong kiến3. Nguyên nhân thất bạiTrường THPT Chuyên Thái Bình195HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI* Nguyên nhân chủ quan:.- Mục tiêu chưa phù hợp: Dù chống Pháp nhưng mục tiêu cuối cùng củanó là khôi phục chế độ phong kiến (Cần Vương) đã lỗi thời. Khẩu hiệu CầnVương chỉ đáp ứng một phần trước mắt yêu cầu của dân tộc, còn về cơ bảnchưa giải quyết và chưa đáp ứng được một cách triệt để yêu cầu khách quancủa sự tiến bộ xã hội cũng như nguyện vọng sâu sắc của nhân dân muốn thoátkhỏi sự bóc lột của chế độ phong kiến, tiến lên một xã hội tốt đẹp hơn, nhân dânđược sống tự do, ấm no.Vì thế sức hấp dẫn của khẩu hiệu này, nhất là đối với nông dân bị hạn chếnhiều. Bởi quyền lợi của lực lượng tham gia chủ yếu không được giải quyết thìsức mạnh không thế phát huy.Như vậy, phong trào Cần Vương là một phong trào đấu tranh dưới ngọncờ phong kiến – một ngọn cờ đã lỗi thời- nên không còn đủ sức để lôi kéo, tậphợp đoàn kết toàn dân tham gia đánh giặc, vì vậy nó đã không thể chuyển mộtcuộc khởi nghĩa thành một cuộc chiến tranh nhân dân, một cuộc chiến tranhtoàn dân tham gia đánh giặc.- Phong trào Cần Vương diễn ra tuy mạnh mẽ, trên quy mô rộng lớn,cótính chất toàn quốc, lực lượng tham đông đảo gây cho Pháp nhiều khó khănsong nhìn chung các cuộc khởi nghĩa trong phong trào Cần Vương diễn ra lẻ tẻ,rời rạc, thiếu sự chỉ huy thống nhất, nặng về thủ hiểm mà chưa có sự phối hợpchặt chẽ giữa các cuộc khởi nghĩa để thống nhất lực lượng tạo ra sức mạnh tổnghợp. Ngay cả một số người lãnh đạo như Phan Đình Phùng, Cao Thắng có ưuđiểm nổi trội nhưng cũng không có khả năng lãnh đạo một phong trào đấu tranhmang tính toàn quốc. Trong khi đó, thực dân Pháp đã củng cố được nền thốngtrị ở VN. Chính điều này đã tạo điều kiện cho thực dân Pháp tập trung lực lượngđánh bại từng cuộc khởi nghĩa riêng lẻ, đánh bại toàn bộ phong trào CầnVương.- Những người lãnh đạo trong phong trào Cần Vương chưa chú ý xây dựngsức mạnh vật chất, đặc biệt là việc bồi dưỡng sức dân để đấu tranh lâu dài, làmcho tương quan lực lượng ngày càng có lợi cho ta. Vì vậy hậu cần của các cuộckhởi nghĩa và cả phong trào thiếu thốn, trang bị thô sơ, cách đánh chủ yếu làhoạt động du kích quấy phá những nơi địch sơ hở, chứ không đủ hậu cần và lựclượng để mở các trận đánh lớn, có tính chất quyết định.- Lãnh đạo chỉ huy chiến đấu thường phiêu lưu mạo hiểm, ít chú ý đếnđiều kiện đảm bảo thắng lợi cho cuộc khởi nghĩa, lại dễ dao động, khi bị dồnTrường THPT Chuyên Thái Bình196HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIvào thế bí dễ bi quan chán nản, không tin vào thắng lợi thậm chí đã tìm đến cáichết một cách mù quáng. Vì thế, kết quả là lực lượng khởi nghĩa bị hao mòn,cuối cùng đi tới thất bại.=> Những hạn chế trên đều xuất phát từ bộ phận lãnh đạo phong trào lànhững văn thân sĩ phu còn chịu ảnh hưởng nặng nề của ý thức hệ phong kiến.Như vậy, rõ ràng phong trào Cần Vương thất bại do nguyên nhân cơ bản làthiếu một giai cấp tiên tiến đủ sức lãnh đạo phong trào để đưa ra được đường lốicứu nước đúng đắn.* Nguyên nhân khách quan:Thực dân Pháp đang trong thời kì phát triển đế quốc chủ nghĩa nên rấtmạnh, có trình độ cao hơn hẳn về phương tiện vũ khí chiến tranh. 4. Ý nghĩa lịch sử của phong trào Cần Vương.- Phong trào thể hiện tinh thần yêu nước bất khuất, ý chí quật cường củanhân dân ta mà chủ yếu là nông dân nhằm thực hiện mục tiêu cao cả chống thựcdân Pháp cứu nguy cho tổ quốc, yêu nước là chính, Cần Vương chỉ- Sự thất bại của phong trào đều do hệ tư tưởng phong kiến chi phối. Điềuđó chứng tỏ sự bất lực của hệ tư tưởng phong kiến trong việc giải quyết nhiệmvụ mà lịch sử đặt ra. Do đó, thất bại của phong trào đã chấm dứt thời kì đấutranh theo ý thức hệ tư tưởng phong kiến, chấm dứt sứ mệnh lịch sử của giai cấpphong kiến trong việc lãnh đạo phong trào cách mạng. Từ đây phong trào cáchmạng của Việt Nam đặt ra yêu cầu cần phải tìm ra con đường đấu tranh mới cóthể giành được độc lập dân tộc, nó giúp cho những người yêu nước Việt Namhướng đến những ánh sáng tư tưởng mới để tiếp tục thực hiện nhiệm vụ giảiphóng dân tộc.là phụ.- Tuy cuối cùng thất bại nhưng phong trào có tác dụng cổ vũ mạnh mẽ tinhthần đấu tranh, tinh thần yêu nước của nhân dân ta.Chuyên đề 3: Phong trào giải phóng dân tộc theo khuynh hướng dânchủ tư sản của tầng lớp sĩ phu thế kỉ XX1. Hoàn cảnh:- Phong trào đấu tranh vũ trang cuối thế kỉ XIX dưới ngọn cờ tư tưởngphong kiến đã thất bại.- Thực dân Pháp tiến hành công cuộc khai thác thuộc địa lần I đã tác độngvà đưa đến sự chuyển biến về kinh tế, xã hội ở VN.- Hệ tư tưởng tư sản được du nhập và dội vào VN qua nhiều con đường:Trường THPT Chuyên Thái Bình197HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI+ Từ phương Tây: tư tưởng cách mạng tư sản Pháp với những tác phẩmcủa Môngtexkiơ, Rutxô… được dịch sang tiếng Hán du nhập vào nước ta.+ Từ Trung Quốc: Phong trào cải cách chính trị- văn hoá ở Trung Quốcgắn liền với những gương mặt tiêu biểu như Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu,đặc biệt là cuộc Cách mạng Tân Hợi (1911) bùng nổ và thắng lợi đã tác độngmạnh mẽ đến VN. Những sĩ phu yêu nước tiến bộ VN lúc đó đã thấy được sựsuy tàn của chế độ phong kiến châu Á và sự cần thiết phải cải cách đất nước vàhọ mong muốn cứu vong đất nước theo con đường duy tân của TQ.+ Từ Nhật Bản: sau 30 năm tiến hành cuộc Duy Tân Minh Trị, Nhật Bảntrở thành một nước tư bản hùng mạnh.Sự cường thịnh của Nhật Bản đầu thế kỉ XX đã làm cho các sĩ phu VN rấtkhâm phục, nhất là sau chiến công vang dội đánh bại Nga hoàng năm 1905.Họ thấy rằng muốn nước nhà được hùng mạnh cần phải duy tân cải cáchtheo tấm gương của NB; hơn nữa có thể nhờ NB giúp đỡ vì NB là nước “đồngvăn, đồng chủng” với VN để đánh đuổi thực dân Pháp.- Các sĩ phu yêu nước tiến bộ đã tiếp thu hệ tư tưởng nói trên và có sựchuyển biến mạnh mẽ về tư tưởng chính trị và kinh tế. Họ đã sử dụng hệ tưtưởng tư sản để làm vũ khí chống Pháp. Lòng yêu nước của họ không còn bámgiữ vào những tư tưởng “trung quân” – trung thành với một ngôi vua anh minhmà đã chuyển sang ý thức về một chủ nghĩa quốc gia- dân tộc, vì lợi ích chungcủa nhiều triệu đồng bào trong cả nước.Họ cũng mất niềm tin vào nền quân chủ chuyên chế, thấy rõ sự thối nátcủa chế độ vua quan ở VN, bắt đầu có ý thức về dân chủ, dân quyền, mongmuốn nước nhà đuổi kịp các quốc gia văn minh trên thế giới.Những sĩ phu yêu nước tiến bộ ở VN lúc này cho rằng, muốn đánh đuổithực dân Pháp, không thể chỉ hạn chế trong khởi nghĩa vũ trang như phong tràoCần Vương mà cần phải kết hợp nhiều biện pháp như: đoàn kết dân tộc, chuẩnbị thực lực, vận động giúp đỡ từ bên ngoài, tiến hành phong trào cải cách xã hộisâu rộng trong quần chúng nhân dân mà điều cốt yếu là phải nâng cao dân trí,chấn hưng dân khí, làm cho người dân ý thức được quyền của mình.Chính điều này đã dẫn tới một phong trào giải phóng dân tộc theo khuynhhướng dân chủ tư sản diễn ra mạnh mẽ ở VN đầu thế kỉ XX với hai xu thế: bạođộng và cải cách, mà tiêu biểu là Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh.Trường THPT Chuyên Thái Bình198HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI2. Diễn biến phong trào2.1 Phan Bội Châu và xu hướng bạo độnga. Chủ trương: Ông chủ trương dùng đấu tranh vũ trang chống Pháp để giảiphóng dân tộc, tổ chức lực lượng ở trong nước và tranh thủ sự viện trợ từ bênngoài, trước hết là Nhật Bản.b. Hoạt động:* Tháng 5/1904: Cùng với Nguyễn Hàm và một số người khác (Trịnh Hiền,Lê Võ, Đặng Thái Thân) thành lập Hội Duy tân do Cường Để làm hội trưởng.Hội nghi được triệu tập gồm 20 người tham dự tại nhà ông Nguyễn Hàm thuộcphủ Thăng Bình tỉnh Quảng Nam- Mục đích: nhằm đánh đuổi thực dân Pháp, giành độc lập, thành lập chínhthể quân chủ lập hiến ở VN.- Nhiệm vụ:+ Mở rộng thế lực hội và thu hút nhiều hội viên, ghóp được nhiều hội phí.+ Xúc tiến việc chuẩn bị bạo động và đẩy mạng cách mạng phát triển cũngnhư các công việc sau đó.+ Chuẩn bị xuất dương cầu ngoại viện, xác định phương châm và thủ đoạnxuất dương.* Năm 1912: Thành lập Việt Nam Quang phục hội tại Quảng Châu (TQ) doCường Để làm hội trưởng, Tổng lí là Phan Bội Châu.- Mục đích: “đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục nước VN, thành lập nướccộng hoà dân quốc VN”.So với Duy Tân hội thì tiến bộ hơn. Vì Duy tân chỉ nêu giải phóng dân tộc,khôi phục nước VN chính phủ dân chủ độc lập, giờ nói rõ thiết lập Cộng hoàdân quốc VN.Đây là cả quá trình chuyển biến tư tưởng của sĩ phu yêu nước tiến bộ trongDuy Tân, đặc biệt là PBC đã chịu ảnh hưởng sâu sắc tư tưởng dân chủ của TônTrung Sơn (đặc biệt qua cách mạng Tân Hợi).- Hình thức đấu tranh: dùng bạo lực để đánh Pháp, thành lập ra Quang Phụcquân và tranh thủ sự giúp đỡ của các chí sĩ Trung Hoa- Tổ chức: có ba bộ phận chính:+ Bộ Tổng vụ do Cường Để làm Bộ trưởng+ Bộ Bình Nghị gồm đại biểu 3 xứ (mỗi xứ cử ra một người có tên tuổi, cóhọc thức và danh vọng). Cụ thể: Bắc Kì là Nguyễn Thượng Hiền; Trung Kì làPhan Bội Châu; Nguyễn Thành Hiến ở Nam Kì.Trường THPT Chuyên Thái Bình199HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI+ Bộ Chấp hành: gồm 10 uỷ viên phụ trách các mặt: quân sự, kinh tế, vănhọc, ban vận động….- Hoạt động:+ Để gây tiếng vang trong nước, làm “kinh thiên động địa” và thức tỉnhđồng bào, Hội quyết định tiến hành một số cuộc ám sát, xử trí một số tên thựcdân đầu sỏ và tay sai đắc lực của chúng.+ Hội đã cử người bí mật mang tạc đạn về nước để trừ khử những tên đầusỏ, kể cả toàn quyền Xarô (11/1912) nhưng không thành công mà chỉ hạ sátđược Tuần phủ Nguyễn Duy Hàn tại thị xã Thái Bình và hai tên trung tá Pháptrước Khách sạn Hà Nội (1913).+ Trong năm 1913, Hội liên tiếp phái nhiều nhóm Quang phục quân đi dọcđường sắt Vân Nam, đánh vào các đồn binh của Pháp ở Tà Lùng (Cao Bằng),Bình Liêu (Đông Triều)… nhưng chỉ thu được kết quả rất hạn chế. Sau đó, lựclượng của Quang phục quân bị sứt mẻ khá lớn và bị thực dân Pháp tăng cườngkhủng bố đàn áp. Sau đó, VN Quang Phục hội không còn hoạt động gì, PhanBội Châu và Cường Để cũng bị kết án tử hình vắng mặt. Ngày 24/12/1913,Phan Bội Châu bị bắt và bị giam ở nhà tù Quảng Đông (Trung Quốc).c. Nhận xét:- Nguyên nhân thất bại:+ Chưa xác định được kẻ thù của cách mạng, lực lượng của cách mạng làquần chúng nhân dân.+ Phương pháp cách mạng không phù hợp, còn có nhiều hạn chế bởi cáchmạng quần chúng không phải là ám sát cá nhân.+ Những hoạt động của hội không có cơ sở phong trào cách mạng trongnước, mà lại dựa vào chủ yếu ở bên ngoài nên không tạo thành phong trào rộnglớn trong nước.+ Chủ trương dựa vào Nhật để đánh Pháp chứng tỏ Phan Bội Châu khôngnhận rõ bản chất của chủ nghĩa đế quốc, không khác gì “đuổi hổ cửa trước rướcbeo cửa sau”- Ý nghĩa:+ Đường lối bạo động của Phan Bội Châu đi đúng xu thế phát triển của lịchsử, phù hợp với truyền thống đấu tranh vũ trang của dân tộc, góp phần phátđộng mạnh mẽ tinh thần yêu nước của nhân dân ta.+ Phong trào Đông Du đã để lại nhiều bài học quý báu cho phong trào cáchmạng về sau:Trường THPT Chuyên Thái Bình200HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI. Chủ trương bạo động là đúng nhưng tư tưởng cầu viện là sai, chưa hiểu rõbản chất của đế quốc Nhật. Cứu nước giành độc lập dân tộc phải dựa vào sức mình là chính khôngđược ỷ lại trông chờ vào bên ngoài, cần phải xây dựng thực lực trong nước, trêncơ sở thực lực mà tranh thủ sự hỗ trợ quốc tế chân chính.+ Tên tuổi của cụ Phan mãi mãi sống trong tâm trí người VN2.2 Phan Châu Trinh và xu hướng cải cácha. Chủ trương: Ông chủ trương đấu tranh ôn hoà, dùng những cải cách vềkinh tế, văn hoá, xã hội để mở mang dân trí, tự cường dân tộc, làm cho dân giàunước mạnh buộc thực dân Pháp phải trao trả độc lập. Ông chủ trương dựa vàoPháp – nước văn minh tiến bộ để giúp ta đánh đổ chế độ quân chủ, bọn quan lạithối nát, phát triển về mọi mặt để khi dân ta đã giàu, nước ta đã mạnh, văn minhtiến bộ thì sẽ đánh đuổi Pháp giành độc lập.Ông phản đối chủ trương bạo động của PBC, ông cho rằng “bạo động là tắctử” và cầu ngoại là ngu.Ông cho rằng, nhiệm vụ cấp bách là phải- “chấn dân khí”: thức tỉnh tinh thần tự lực tự cường của nhân dân ta, mọingười dân đều giác ngộ quyền lợi của mình để giải thoát được nọc độc chuyên chế- “khai dân trí”: bỏ lối học Nho học và mở trường dạy chữ quốc ngữ, kiếnthức khoa học thực dụng, bài trừ các hủ tục.- “Hậu dân sinh”: phát triển kinh tế, cho khai hoang làm vườn, sản xuấthàng hoá….Ông yêu cầu chính quyền thuộc địa phải sửa đổi chính sách chính trị hiệnhành để có thể giúp cho nhân dân VN tiến lên con đường văn minh. Ông đề caophương châm “tự lực khai hoá” và vận động những người cùng trí hướng thứctỉnh dân chúng, tuyền truyền tư tưởng dân quyền. Ông cho rằng nếu làm đượcnhư vậy thì “chỉ sợ người Pháp bỏ nước Nam mà đi, ai còn toan mưu việcchống cự nữa…”.b. Hoạt động:- Từ 1906 – 1908: Ông cùng với một số sĩ phu tiến bộ như Huỳnh ThúcKháng, Trần Quý Cáp, Lê Văn Huân, Ngô Đức Kế, Nguyễn Đình Kiên thựchiện cuộc vận động cải cách Duy Tân ở Trung Kì trên nhiều phương diện vànhiều hình thức phong phú.Trường THPT Chuyên Thái Bình201HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI+ Về kinh tế: Mạnh dạn chuyển từ kinh tế tự nhiên sang kinh tế côngthương nghiệp, cổ động thành lập hội kinh doanh (hội buôn), nhất là các hiệubuôn hàng nội hoá, phát triển nghề thủ công, làm vườn.Theo lời hô hào của các sĩ phu cải cách, Quảng Nam là nơi trung tâm củaphong trào Duy tân đã xuất hiện các hiệu buôn như Quảng Nam hiệp thươngcông ti do Nguyễn Quyền, Hoàng Tăng Bí quản lí. Ở Nghệ An, Ngô Đức Kế lậpra Triệu Dương thương quán. Ở Phan Thiết có công ti Liên Thành nổi tiếngchuyên kinh doanh nước mắm.Ngay tại quê, Phan Châu Trinh đã thành lập “nông hội”, chuyên việc sanđồi trồng quế, dệt vải may quần áo…. + Về giáo dục: Chú ý mở trường theo kiểumới để nâng cao dân trí. Nội dung dạy học là các môn học mới, thay thế cho Tứthư Ngũ kinh của Nho học xưa kia.Riêng ở Quảng Nam có 4 trường lớn là Diên Phong, Phước Bình, Phú Lâmvà Quảng Phước, mỗi trường trung bình có từ 70 đến 80 học sinh, trường đôngnhất có tới 200 học sinh.+ Về văn hoá: thực hiện cuộc vận động đổi mới “phong hoá”, cải cách lốisống, xoá bỏ các phong tục lạc hậu, thực hiện đời sống mới, khơi dậy và bồidưỡng truyền thống, niềm tự hào dân tộc.Đây là cuộc vận động dân chúng từ bỏ lối ăn mặc cổ hủ của giới sĩ phu,quan lại, như mặc áo lam, đeo bài ngà… Đồng thời cúng là một cuộc vận độngăn mặc Âu hoá, rẻ tiền mà tiện dụng với các kiểu quần áo may bằng vải nội.Thay đổi phong tục như kêu gọi nhân dân để răng trắng, cắt tóc ngắn, mặcquần áo cộc cho gọn gàng…Phen này cắt tóc đi tu,Tụng kinh độc lập ở chùa Duy Tân…(Nguyễn Quyền).Những thói mê tín, dị đoan, những hủ tục phong kiến xôi thịt, ma chay,cũng bị lên án mạnh mẽ đến chỗ quá khích, như giải tán đàn cúng lễ, đuổi thầycúng, quẳng tượng Phật, bài vị thần xuống sông.Khi phong trào lên cao, có nơi đã xuất hiện những hành động cưỡng bức,như cắt búi tó, xé vạt áo dài của người đi đường, xé áo lam, vứt bài ngà của bọnquan lại….- Phan Châu Trinh còn tham gia một số hoạt động của trường Đông Kinhnghĩa thục.Trường THPT Chuyên Thái Bình202HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VICùng với những hoạt động của Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh còn cóphong trào Đông Kinh nghĩa thục. Ảnh hưởng của Đông Kinh nghĩa thục rấtmạnh, lôi cuốn người học ngày càng đông. Thực dân rất lo sợ nên chúng bắtđóng cửa trường, tịch thu sách báo, bắt hầu hết các giáo viên. Đông Kinh nghĩathục tuy hoạt động ngắn ngủi nhưng đã góp phần thức tỉnh quần chúng.3. Nhận xét chung về phong trào- Nhìn chung các phong trào trên đây tuy có sự khác nhau về phương phápnhưng đều chung một cội nguồn là chủ nghĩa yêu nước, đều nhằm mục tiêu cứunước và đều chịu sự chi phối của- Sự thất bại của phong trào này bước đầu cho thấy con đường giải phóngdân tộc dưới ngọn cờ tư tưởng tư sản là không thành công.tư tưởng tư sản.- Mặc dù thất bại nhưng phong trào có tác dụng cổ vũ mạnh mẽ tinh thầnyêu nước của nhân ta và chuẩn bị những điều kiện cho phong trào đấu tranh mớisau này.II. Phương pháp ôn tậpTrên cơ sở nội dung kiến thức học sinh đã được lĩnh hội, giáo viên đề ra kếhoạch và phương pháp ôn tập phù hợp để học sinh hệ thống hóa những kiếnthức đã học, rèn luyện các kĩ năng làm bài thi cho học sinh, phát huy tính tựhọc, sáng tạo và tư duy của học sinh trong quá trình ôn tập. Với 3 chuyên đềtrên, giáo viên có thể đề ra những dạng bài tập, những câu hỏi luyện tập để cácem tự làm, giải quyết vấn đề, sau đó giáo viên chấm, sửa bài cho các em.Với những chuyên đề trên, giáo viên có thể đề ra những dạng bài tập và câuhỏi luyện tập như sau:1. Lập bảng thể hiện thái độ chống Pháp của vua quan triều đình nhàNguyễn và nhân dân từ 1858 đến 1873.2. Trình bày và rút ra nhận xét về công cuộc chống Pháp xâm lược của vuaquan triều đình nhà Nguyễn và nhân dân từ 1858 đến 1884.3. Khi thực dân Pháp xâm lược “Nam Kì lục tỉnh”, triều đình nhà Nguyễnvà nhân dân Nam Kì có phản ứng khác nhau. Sự khác nhau đó thể hiện như thếnào? Vì sao?4. Từ những kiến thức lịch sử đã học, em hãy nêu nhận xét của mình về đặcđiềm phong trào yêu nước và giải phóng dân tộc Việt Nam từ giữa thế kỉ XIXđến hết chiến tranh thế giới.5. Lập bảng thống kê các cuộc khởi nghĩa tiêu biểu trong phong trào CầnVương cuối thế kỉ XIX và phân tích tính chất của phong trào.Trường THPT Chuyên Thái Bình203HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI6. So sánh những điểm giống và khách nhau của các cuộc khởi nghĩa trongphong trào Cần Vương.7. Vì sao nói khởi nghĩa Hương Khê (1885 – 1895) được coi là tiêu biểunhất của phong trào Cần Vương?8. Dân tộc và dân chủ là hai nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam.Em hãy cho biết bối cảnh xuất hiện và phương cách giải quyết hai nhiệm vụ nàytrong 20 năm đầu thế kỉ XX.9. Trên cơ sở phong trào dân tộc – dân chủ ở Việt Nam những năm đầu thếkỉ XX, hãy đánh giá vai trò của phong trào này đối với sự phát triển của lịch sửdân tộc đầu thế kỉ XX?10. Cuộc vận động giải phóng dân tộc đầu thế kỉ XX có gì mới, khác vớiphong trào Cần Vương chống Pháp cuối thế XIX?11. Lập bảng so sánh: bối cảnh lịch sử, mục tiêu đấu tranh, tầng lớp lãnhđạo, lực lượng tham gia, phong trào tiêu biểu, kết quả và ý nghĩa giữa phongtrào Cần Vương chống Pháp cuối thế kỉ XIX với cuộc vận động giải phóng dântộc đầu thế kỉ XX.C. KẾT LUẬNNhững chuyên đề chúng tôi đã đề cập ở trên là những nội dung rất cơ bảnvà cần thiết, quan trọng khi giảng dạy và ôn tập cho học sinh giỏi phần nội dunglịch sử Việt Nam từ năm 1858 đến năm 1918. Các chuyên đề không chỉ dừng lạiở những kiến thức cơ bản mà còn giải quyết những vấn đề nâng cao, vấn đề khóliên quan đến phạm vi của các chuyên đề. Tuy nhiên, đó chỉ là những suy nghĩchủ quan của chúng tôi, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các đồngnghiệp./.HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊNKHU VỰC DUYÊN HẢI VÀ ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ-HỘI THẢO LẦN THỨ VIITrường THPT Chuyên Thái Bình204HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIChuyên đềHỘI THẢO KHOA HỌCLựa chọn vấn đề dạy và phương pháp ôn tập chohọc sinh giỏi quốc gia khi giảng dạy giai đoạn lịch sửViệt Nam 1919-1930Họ và tên: Vũ Thị Thu HằngMôn: Lịch sửĐơn vị: THPT Chuyên Bắc NinhTháng 8-2013A. ĐẶT VẤN ĐỀTrường THPT Chuyên Thái Bình205HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VITrong nội dung ôn tập cho học sinh giỏi quốc gia thì phần lịch sử ViệtNam giai đoạn 1919 – 1930 là phần mở đầu của thời kì lịch sử Việt Namhiện đại, với những nội dung hết sức cơ bản,có liên quan một cách sâu sắctới những nội dung của giai đoạn tiếp theo. Đây là giai đoạn lịch sử diễn racuộc đấu tranh và thống nhất của các khuynh hướng cách mạng, để dẫnđến sự ra đời của một chính Đảng cộng sản duy nhất ở Việt Nam: Đảngcộng sản Việt Nam (2/1930). Vì thế, việc ôn tập tốt giai đoạn lịch sử ViệtNam 1919 – 1930 sẽ tạo điều kiện cho học sinh có cơ sở kiến thức mở đầuvững chắc để các em dễ dàng hơn khi tìm hiểu kiến thức phần sau, nhất làgiai đoạn lịch sử 1930 – 1945.Trên thực tế, khi giảng dạy lịch sử Việt Nam giai đoạn này, một sốgiáo viên trẻ sẽ gặp nhiều khó khăn, do nội dung rất phức tạp, nhiều kháiniệm mới hình thành và dễ sa vào việc “làm rối” vấn đề. Nếu không xử lýkhéo các vấn đề lịch sử giai đoạn này, có thể ảnh hưởng không nhỏ đếnviệc nhận thức lịch sử cũng như cách nhìn nhận đánh giá vấn đề lịch sửcủa học sinh.Vì thế, tham gia vào việc viết chuyên đề của hội thảo năm nay, tôimạnh dạn đưa ra một vài kinh nghiệm mang tính chủ quan của mình vềviệc “Lựa chọn vấn đề dạy và phương pháp ôn tập cho học sinh giỏi quốcgia khi giảng dạy giai đoạn lịch sử Việt Nam 1919-1930” nhằm chia xẻkinh nghiệm và lĩnh hội thêm những ý kiến đóng góp của các thầy cô, cácanh chị, em, các bạn đồng nghiệp giúp tôi hoàn thiện hơn trong công tácgiảng dạy và bồi dưỡng học sinh giỏi quốc gia giai đoạn lịch sử này.Chuyên đề gồm 2 phần chính:Phần 1. Lựa chọn vấn đề dạy cho học sinh giỏi quốc gia phần lịch sửViệt Nam giai đoạn 1919-1930.Phần 2. Phương pháp ôn tập cho học sinh giỏi quốc gia phần lịch sửViệt Nam giai đoạn 1919-1930Trường THPT Chuyên Thái Bình206HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIB. NỘI DUNGI. Lựa chọn vấn đề dạy học sinh giỏi quốc gia giai đoạn lịch sử ViệtNam 1919-1930:Khi lựa chọn vấn đề dạy học sinh giỏi quốc gia, chúng tôi thường chialàm 2 phần: Nội dung kiến thức cơ bản và nội dung kiến thức nâng cao. Cụthể trong giai đoạn lịch sử Việt Nam 1919-1930 chúng tôi lựa chọn nhữngnội dung sau:Nội dung kiến thức cơ bản:Vấn đề 1: Những chuyển biến mới về kinh tế và xã hội ở Việt Nam sauchiến tranh thế giới thứ nhất.1. Chương trình khai thác thuộc địa lần thứ 2 của Thực dân Pháp ởViệt Nam 1919-1929.2. Những chuyển biến mới về kinh tế và giai cấp xã hội ở Việt Nam.Vấn đề 2: Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam từ 1919 đến 1930.1. Những chuyển biến của tình hình thế giới sau chiến tranh thế giớithứ nhất và tác động của nó đến Việt Nam.2. Phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở ViệtNam từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất đến năm 1930.3. Phong trào công nhân Việt Nam từ sau chiến tranh thế giới thứ nhấtđến trước khi thành lập Đảng.Vấn đề 3: Nguyễn Ái Quốc và quá trình truyền bá chủ nghĩa Mác – Lê Ninvề nước, chuẩn bị về tư tưởng chính trị và tổ chức cho sự ra đời một chínhĐảng cộng sản ở Việt Nam (1919- 1929).Trường THPT Chuyên Thái Bình207HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIVấn đề 4: Những tổ chức yêu nước cách mạng ở Việt Nam từ 1919 đếntrước năm 1930.Vấn đề 5: Đảng cộng sản Việt Nam ra đời1. Sự xuất hiện các tổ chức cộng sản ở việt Nam năm 1929.2. Hội nghị thành lập Đảng cộng sản Việt Nam .3. Cương lĩnh chính trị đầu tiên của đảng cộng sản Việt Nam.4. Ý nghĩa lịch sử của việc Đảng cộng sản Việt Nam ra đời.Nội dung kiến thức nâng cao:1. Sự chuyển biến của các giai cấp trong xã hội Việt Nam qua các thờikì.2. Sự chuyển biến trong các phong trào yêu nước theo khuynh hướngdân chủ tư sản, phong trào công nhân ở Việt Nam từ sau chiến tranh thếgiới thứ nhất đến trước thành lập Đảng. Vị trí của các phong trào đó đốivới sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam.3. Nguyễn Ái Quốc và quá trình truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin vềnước. Vai trò của Người đối với sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam.4. Sự kết hợp các nhân tố cấu thành nên Đảng cộng sản Việt Nam.5. Tính đúng đắn và sáng tạo của Chính cương, Sách lược vắn tắt doNguyễn Ái Quốc soạn thảo và thông qua tại hội nghị thành lập Đảng.6. Ý nghĩa lịch sử của việc Đảng cộng sản Việt Nam ra đời.II. Phương pháp ôn tập cho học sinh giỏi quốc gia giai đoạn lịch sửViệt Nam 1919-1930.1. Việc ôn tập cho học sinh giỏi quốc gia của chúng tôi thường trảiqua các bước sau đây:- Trước tiên, giáo viên giúp các em tìm hiểu kiến thức khái quát và cơbản theo sách giáo khoa. Đây là nội dung kiến thức không thể thay đổi,Trường THPT Chuyên Thái Bình208HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIhay đó là “phần cứng” của nội dung kiến thức cần cung cấp cho các emtrước khi đi sâu khai thác các vấn đề lịch sử.- Bước 2: Giáo viên và học sinh đi tìm hiểu và khai thác các vấn đềlịch sử, bao gồm kiến thức cơ bản và nâng cao như đã nêu ở phần I. Tronggiai đoạn này,chúng tôi áp dụng phương pháp dạy học nêu vấn đề. Chúngtôi thường đưa ra các vấn đề lịch sử, yêu cầu các em tập trung khai tháclần lượt một vấn đề nào đó, sau đó các em phân nhóm tự trình bày ý tưởngcủa mình, nêu thắc mắc của mình, rồi giáo viên mới chốt lại và cung cấpkiến thức cho học sinh.- Bước 3: Giáo viên thực hiện việc kiểm tra đánh giá học sinh, rútkinh nghiệm và rèn cách làm bài thi, cách trình bày vấn đề lịch sử…2. Các dạng câu hỏi thường gặp và hướng dẫn học sinh cách trả lờinhững câu hỏi đó.Theo tôi, trong giai đoạn lịch sử Việt Nam 1919-1930 thường có cácdạng câu hỏi sau:Dạng 1: Câu hỏi liệt kê kiến thức.- Ví dụ:Câu 1. Bằng những dẫn chứng cụ thể, anh(chị) hãy nêu rõ nhữngchuyển biến về kinh tế xã hội ở Việt Nam từ sau chiến tranh thế giới thứnhất đến cuối những năm 20 của thế kỉ XX ?Câu 2.Trình bày sự phát triển của phong trào công nhân từ sau chiếntranh thế giới thứ nhất đến trước khi thành lập Đảng? Vị trí của phong tràocông nhân đối với sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam?Trường THPT Chuyên Thái Bình209HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VICâu 3. Bằng các sự kiện lịch sử, anh (chị) hãy trình bày quá trìnhchuẩn bị về tư tưởng chính trị và tổ chức của Nguyễn Ái Quốc cho sự rađời 1 chính Đảng cộng sản ở Việt Nam?- Đối với học sinh giỏi thì dù là câu hỏi thuộc dạng liệt kê kiến thứcnhưng vẫn cần tư duy cao, sự chọn lọc tinh tế và chính xác sự kiện, bámsát yêu cầu câu hỏi.Dạng 2: Câu hỏi so sánh và rút ra nhận xét.- Ví dụ:Câu 1. Lập bảng so sánh mục đích, nội dung, hệ quả của cuộc khaithác thuộc địa lần thứ 2 (1919 – 1929) với cuộc khai thác thuộc địa lần thứ1 (1896 – 1914) của thực dân Pháp ở Việt Nam, để từ đó tìm ra nhữngđiểm mới trong cuộc khai thác thuộc địa lần 2 ?Câu 2. So sánh sự giống và khác nhau giữa Luận cương chính trị củaTrần Phú (10/1930) với Chính cương sách lược vắn tắt do Nguyễn ái Quốcsoạn thảo (2/1930). Từ đó làm rõ tính đúng đắn và sáng tạo của Chínhcương?- Loại câu hỏi này, học sinh có thể lập bảng so sánh từng mặt của vấnđề . Nhưng phần quan trọng là việc rút ra nhận xét, nhận định của bản thâncũng như lập luận chặt chẽ về sự giống và khác nhau đó. Để làm tốt câuhỏi này,học sinh cần nhớ kiến thức cơ bản chắc, có nhận thức lịch sử sâusắc, hiểu biết rộng. Trình bày ngắn gọn, thoát ý.Dạng 3: Câu hỏi nguyên nhân.- Ví dụ:Câu 1. Vì sao, ngay sau khi chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc,thực dân Pháp bắt tay ngay vào công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ2(1919-1929) ở Việt Nam? Cuộc khai thác đó đã diễn ra như thế nào?Câu 2. Vì sao nói, Cuộc đấu tranh của công nhân Ba Son (8/1925) làmốc đánh dấu bước phát triển mới của phong trào công nhân Việt Nam?Trường THPT Chuyên Thái Bình210HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VICâu 3. Từ sự phân hoá của Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên vàTân Việt cách mạng Đảng, sự tan dã của Việt Nam Quốc dân Đảng, emhãy tìm ra nguyên nhân chung dẫn đến những hiện tượng đó?-Những câu hỏi dạng này thường xoáy sâu vào 1 điểm nhưng kiếnthức trả lời lại rất rộng nên đòi hỏi học sinh phải có kiến thức lịch sử vững,sâu sắc, tinh tế. Cách trình bày ngắn gọn, sát với yêu cầu của đề, tránh hiệntượng trả lời cụt ngủn hoặc lại lan man dài dòng.Dạng 4: Câu hỏi phân tích và chứng minh.- Ví dụ:Câu 1. Phân tích thái độ chính trị và khả năng của các giai cấp trongxã hội Việt Nam sau chiến tranh thế giới thứ nhất? Từ đó anh(chị) hãychứng minh giai cấp công nhân là giai cấp duy nhất có khả năng nắmquyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam?Câu 2. Bằng những sự kiện lịch sử có chọn lọc, anh(chị) hãy phântích vai trò của Nguyễn Ái Quốc đối với sự ra đời của Đảng cộng sản ViệtNam ?Câu 3. Bằng những dẫn chứng cụ thể, hãy chứng minh rằng Đảngcộng sản Việt Nam ra đời năm 1930 là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranhdân tộc và giai cấp ở Việt Nam trong thời đại mới, là sản phẩm của sự kếthợp giữa chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong tràoyêu nước trong những năm 20 của thế kỉ XX ?- Đây là dạng câu hỏi khó, yêu cầu học sinh phải hệ thống hoá đượckiến thức, xác định đúng yêu cầu câu hỏi và phải được rèn cách viết bàitốt, tránh rơi vào tình trạng sa đà phân tích, chứng minh rườm rà hoặc xácđịnh không đúng yêu cầu đề dẫn đến lạc đề.Dạng 5: Câu hỏi thể hiện mối liên quan chằng chéo: Mối liên quangiữa lịch sử thế giới với lịch sử Việt Nam, giữa giai đoạn sau với giai đoạnlịch sử trước và ngược lại.Trường THPT Chuyên Thái Bình211HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI-Ví dụ:Câu 1.Trình bày những chuyển biến mới của tình hình thế giới sauchiến tranh thế giới thứ nhất? Những chuyển biến đó có tác động đếnphong trào cách mạng ở Việt Nam như thế nào?Câu 2. Khi đánh giá về sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam, các ýkiến đều nhất trí cho rằng, đó là “bước ngoặt vĩ đại’ trong tiến trình cáchmạng Việt Nam. Anh (chị) có nhất trí với ý kiến đó không?Hãy chứng minh điều đó?Câu 3. Hãy phân tích nét độc đáo trong quá trình tìm đường cứunước và truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin về nước của Nguyễn ái Quốc?- Dạng câu hỏi này, yêu cầu học sinh phải hiểu đúng yêu cầu của đề,nắm kiến thức một cách sâu sắc, biết cách liên hệ, đối chiếu, so sánh. Đâylà dạng câu hỏi có yêu cầu cao đối với học sinh.Dạng 6. Một số câu hỏi tình huống.- Ví dụ:Câu 1. Khi nói về sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam, sách “lịchsử Đảng cộng sản Việt Nam” (sơ thảo tập 1 – trang 102, NXB sự thật,1981) đã viết: “Sau 10 năm chuẩn bị đầy đủ về các mặt chính trị tư tưởngvà tổ chức, Đảng … đã ra đời trong 1 điều kiện hoàn toàn chín muồi, bướcvào lãnh đạo cao trào cách mạng trong cả nước”.Bằng các sự kiện lịch sử có chọn lọc, em hãy trình bày quá trìnhchuẩn bị của Nguyễn ái Quốc về tư tưởng chính trị, tổ chức và những điềukiện chín muồi cho việc thành lập Đảng ta?Câu 2. Nghị quyết UNESCO về kỉ niệm 100 năm ngày sinh của Chủtịch Hồ Chí Minh có đoạn viết:” Người là một biểu tượng kiệt xuất vầquyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời cho sự nghiệp giảiphóng dân tộc của nhân dân Việt Nam…”Trường THPT Chuyên Thái Bình212HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI1. Trên cơ sở trình bày những nét chính về cuộc đời hoạt động cáchmạng của Hồ Chí Minh tự năm 1911 đến năm 1969, anh(chị) hãy:- Nêu những công lao to lớn của Người đối với dân tộc.- Rút ra những phẩm chất tiêu biểu của anh hùng dân tộc hồ Chí Minhvà giảI thích nguồn gốc của những phẩm chất đó.2. Từ đó anh(chị) hãy phát biểu suy nghĩ của mình về sự đánh giá củaUNESCO đối với chủ tịch Hồ Chí Minh.Câu 3.a. Viết lại tên sự kiện với thời gian tương ứng các sự kiện sau:- Nguyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên- Thành lập Đông Dương Cộng Sản Đảng- Đông Dương Cộng Sản Liên Đoàn gia nhập Đảng cộng sản ViệtNam- Nguyễn Ái Quốc tham dự Đại hội Tua và tham gia sáng lập Đảngcộng sản Pháp.- Thành lập Đảng cộng sản Việt Nam- Tân Việt Cách Mạng Đảng ra đời- Thành lập chi bộ Đảng đầu tiên tại số nhà 5D Hàm Long Hà nội- Thành lập An Nam Cộng Sản Đảngb. Chọn ra và giải thích 2 sự kiện quan trọng nhất, có ý nghĩa quyếtđịnh trong việc chuẩn bị tiến đến thành lập Đảng cộng sản Việt Nam.Câu 4. Sau đây là đoạn viết về lí do và nội dung của Hội nghị thànhlập Đảng cộng sản Việt Nam (1930)“Sự ra đời của ba tổ chức cộng sản lúc bấy giờ là một xu thế tất yếucủa cách mạng Việt Nam. Nhưng trong một nước có ba tổ chức cộng sảnhoạt động riêng rẽ, công kích lẫn nhau, nên có nguy cơ dẫn đến sự chia rẽTrường THPT Chuyên Thái Bình213HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIlớn. Trước tình hình đó, Quốc tế cộng sản đã giao cho Bác Hồ chịu tráchnhiệm thống nhất các lực lượng cộng sản ở Việt Nam để thành lập mộtđảng cộng sản duy nhất.Từ ngày 3 đến ngày 7/2/1930, Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộngsản đã họp ở Cửu Long (Hương Cảng). Bác Hồ thay mặt Quốc tế Cộngsản chủ trì Hội nghị. Tham gia Hội nghị có đủ đại biểu của ba tổ chứccộng sản. Hội nghị đã nhất trí tán thành thống nhất các tổ chức cộng sảnđể thành lập một đảng cộng sản duy nhất lấy tên là Đảng Cộng Sản ĐôngDương, thông qua Cương lĩnh chính trị đầu tiên do Bác Hồ khởi thảo. Hộinghị có ý nghĩa như một Đại hội thành lập Đảng…”Đoạn viết trên có những chi tiết nào sai, hãy sửa lại những chi tiết saicho đúng?- Dạng câu hỏi trên học sinh ít gặp trong lối ra đề mấy năm gần đây.Nhưng học sinh cần tham khảo để rèn luyện cách xác định đúng yêu cầucủa đề và xác định đúng hướng làm bài.3. Một số cách giúp học sinh dễ nhớ kiến thức phần lịch sử ViệtNam giai đoạn 1919-1930.- Nhớ theo trình tự thời gian hoặc theo các vấn đề lịch sử .- Lập bảng thống kê kiến thức cơ bản.Ví dụ:+ Lập bảng về cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp ở ViệtNam lần thứ 1 (1984 – 1914) và lần 2 (1919 – 1929).Nội dungCuộc khai thác lần 1Cuộc khai thác lần 21. Thờigian1897 – 1914 (18 năm)1919 – 1929 (10 năm)2. Vốn đầuKhoảng 514 triệu FrăngChỉ tính từ 1924-1929: 4 tỉTrường THPT Chuyên Thái Bình214HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VItưFrăng3. Lĩnh vực – Khai mỏkhai thác- Giao thông vận tảichủ yếu- Khai mỏ và phát triển côngnghiệp nhẹ- Kinh doanh nông nghiệp- Độc quyền tài chính, thươngmại- Giao thông vận tải.4. Hậu quả- Nước ta có sự du nhậpnhững yếu tố kinh tế tư bảnchủ nghĩa. Bộ mặt kinh tế có- Xã hội xuất hiện một số thay đổi nhưng mang tính cụcgiai cấp, tầng lớp mới: giai bộ.cấp công nhân, tầng lớp tư – Về cơ bản, nước ta vẫn làsản và tiểu tư sảnnước có nền kinh tế phongkiến, ngày càng lạc hậu, mấtcân đối và lệ thuộc hoàn toànvào kinh tế nước Pháp.- Tài nguyên thiên nhiêncạn kiệt, đời sống nhândân đói khổ- Xã hội bị phân hoá sâu sắc.Mâu thuẫn dân tộc và giai cấpngày càng gay gắt.+Lập bảng về phong trào đấu tranh của công nhân từ 1919 -1929.ThờigianPhong trào đấu tranhGiai đoạn – Năm 1920 công nhân Sài1919gòn – Chợ Lớn thành lập1925công hội do Tôn Đức ThắngTrường THPT Chuyên Thái Bình215Nhận xét- Mục tiêu đấu tranh nặng vềkinh tế, chưa có tổ chức vàlãnh đạo. Vì thế, phong tràoHỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIđứng đầu.- Năm 1922 công nhân viênchức Bắc Kì đấu tranh đòinghỉ ngày chủ nhật có lương.- Năm 1924 công nhân cácnhà máy dệt Nam Định, xaysát Hải Dương, Rượu Hà Nộiđấu tranh đòi tăng lương…công nhân thời kì này mangtính tự phát.- Riêng cuộc bãi công củacông nhân Ba Son (8/1925)đánh dấu bước tiến mới củaphong trào công nhân ViệtNam, chuyển từ đấu tranh tựphát sang tự giác.- 8/1925 công nhân thợ máyxưởng Ba Son (Sài Gòn) bãicông ngăn cản tàu chiến Phápchở lính sang đàn áp phongtrào đấu tranh cách mạng củanhân dân Trung Quốc.Gia đoạn19261929- Từ 1926-1927, nước ta liêntiếp nổ ra các cuộc bãi côngcủa công nhân viên chức, họcsinh. Tiêu biểu là cuộc bãicông nhân của 1000 côngnhân đồn điền cao su CamTiêm, đồn điền cao su PhúRiềng…- Các phong trào đấu tranhmang tính chất chính trị,bước đầu liên kết nhiềungành, nhiều địa phương.- Các cuộc đấu tranh có tổchức và lãnh đạo, phối hợpchặt chẽ.- Khẩu hiệu đấu tranh đượcnâng cao, ngoài đòi quyền lợikinh tế thì họ còn đấu tranhđòi quyền lợi chính trị.- Từ 1928 – 1929 có 40 cuộcđấu tranh nổ ra trong toànquốc, tiêu biểu là phong tràocông nhân nhà máy xi măng=> Chứng tỏ giai cấp côngHải Phòng, nhà máy diêm cưanhân đã trưởng thành vàBến Thuỷ, công nhân Ba Sonphong trào công nhân mangTrường THPT Chuyên Thái Bình216HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI(Sài Gòn)… Họ đòi tănglương, đòi Pháp thi hành luậtlao động…tính tự giác.Ngoài ra, giáo viên còn hướng dẫn học sinh lập bảng về phong tràođấu tranh của giai cấp tiểu tư sản và tư sản dân tộc ở Việt Nam từ năm1919 đến năm 1926; Lập bảng thống kê các tổ chức yêu nước và cáchmạng từ năm 1919 đến trước khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời; Lậpbảng nêu nội dung của bản Chính cương, Sách lược vắn tắt của Nguyễn ÁiQuốc và Luận cương chính trị của Trần Phú.v.v..- Sơ đồ hoá kiến thức: Giáo viên giúp học sinh lập một số sơ đồ thểhiện nội dung kiến thức cơ bản và khái quát cho dễ nhớ. Ví dụ: Sơ đồ vềtác động của Chủ nghĩa Mác-Lênin tới phong trào dân tộc dân chủ ở nướcta những năm 20 của thế kỉ XX. Sơ đồ về các tổ chức yêu nước và cáchmạng ở Việt Nam từ năm 1920 đến khi thành lập Đảng cộng sản ViệtNam…- Học sinh sử dụng 1 quyển sổ con, ghi những sự kiện lịch sử theothời gian hoặc theo chủ đề, khoanh tròn những sự kiện lớn trong dòngchảy lịch sử.C. KẾT LUẬNTrên đây là một vài kinh nghiệm mang tính chủ quan của tôi về nộidung và phương pháp dạy học sinh giỏi quốc gia khi tìm hiểu về giai đoạnlịch sử Việt Nam 1919-1930. Hi vọng chuyên đề của tôi đem lại ít nhiềuhữu ích cho các đồng nghiệp trong công việc của mình.Trường THPT Chuyên Thái Bình217HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VITôi là một giáo viên chưa có nhiều kinh nghiệm trong công tác bồidưỡng đội tuyển quốc gia, vì vậy tôi rất mong được sự đóng góp ý kiếncủa đồng nghiệp ở các trường Chuyên tham gia hội thảo để giúp tôi ngàycàng hoàn thiện chuyên môn của mình.Tôi xin chân thành cảm ơn!.Trường THPT Chuyên Thái Bình218HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VITHAM LUẬN LỊCH SỬ :PHÂN TÍCH VỂ ĐIỀU KIỆN NẢY SINH KHUYNH HƯỚNG CỨU NƯỚCDÂN CHỦ TƯ SẢN Ở VIỆT NAM ĐẦU THẾ KỈ XX KHI GIẢNG DẠY LỊCH SỬVIỆT NAM GIAI ĐOẠN 1858 – 1918Người thực hiện : Vũ Hà PhươngTrường THPT chuyên Trần Phú – Hải PhòngTrường THPT Chuyên Thái Bình219HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIA. MỞ ĐẦU1. Lí do chọn đề tàiCuộc vận động yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản1 những năm đầuthế kỷ XX là một trong những vấn đề lớn của lịch sử Việt Nam. Vấn đề này đãđược giới nghiên cứu đặt ra từ lâu như lời của Henri Brunschwig – nhà nghiên cứulịch sử, tác giả của cuốn Công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp đã nêu từ cuốithập niên 40 của thế kỷ XX khi đề cập đến các phong trào và con đường cứu nước ởViệt Nam : « Ngày nay chưa thể có được một sự nghiên cứu khách quan về sự đốilập quốc gia. Ai sẽ viết cho chúng ta những quyển tiểu sử phê bình về ông hoàngCường Để và Phan Bội Châu, hiện thân của những sự phát biểu đầu tiên của nhữngphong trào quốc gia ở Nhật Bản và ở Trung Hoa? Ai có thể tìm manh mối củanhững sự liên hệ giữa phe đối lập Đông Dương và Trung Hoa Quốc Dân Đảng,giữa phong trào quốc gia Việt Nam và phong trào quốc tế cộng sản? Chúng tachưa có được tất cả những dữ kiện cần thiết cho một sự nghiên cứu khoa học.Chúng ta mới chỉ có thể phác hoạ những nét chính của sự diễn biến mới đây »2.Ngày nay, câu trả lời cho giả thuyết mà Henri Brunschwig nêu đã được làm rõ vàtiếp tục được nghiên cứu ngày càng sâu sắc, kỹ lưỡng hơn dưới những góc nhìn đachiều. Thế nhưng phong trào quốc gia này diễn ra dựa trên những tiền đề lịch sửnào cũng là vấn đề đáng được quan tâm tìm hiểu và là chủ đề chính trong tham luậncủa chúng tôi.1Về vấn đề này, có tác giả gọi là “phong trào quốc gia”, “phong trào dân tộc”, phổ biến như trong chương trìnhgiáo khoa cho bậc THPT và Đại học thì gọi là “cuộc vận động yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản đầuthế kỷ XX.”2H. BRUNSCHWG, La colonisation française du pacte colonial à l’Union française (Công cuộc khai thácthuộc địa của Pháp từ điều ước thuộc địa đến khối Đông Pháp). Paris, Calmann-Lévy, 1949, tr. 194. Dẫn theoNguyễn Thế Anh. Việt Nam thời Pháp đô hộ. Lửa Thiêng xuất bản, 1970, tr. 112.Trường THPT Chuyên Thái Bình220HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VISau mấy chục năm đấu tranh vũ trang chống lại sự xâm lược và cai trị củangười Pháp mà chỉ toàn gặp thất bại đầu thế kỷ XX, giới sĩ phu yêu nước Việt Namnhận thức được những hạn chế của tổ chức chính trị và xã hội truyền thống, họ hiểurằng các thể chế chính trị xuất phát từ Nho giáo khó lòng đương đầu nổi với sự tiếntriển về tinh thần và kỹ thuật của Tây phương, giới trí thức nhận thấy cần phải cómột sự canh tân mới mong thoát ách đô hộ của người Pháp được Dưới tác độngcủa sự cai trị và khai thác thuộc địa của người Pháp cộng với sự biến chuyển trênhầu hết các lĩnh vực của xã hội Việt Nam và sự tác động của tình hình thế giới (nhấtlà những ảnh hưởng từ Trung Quốc và Nhật Bản) đã đưa đến những tiền đề mới đốivới phong trào dân tộc, làm cơ sở cho sự ra đời của cuộc vận động yêu nước theokhuynh hướng dân chủ tư sản những thập niên đầu thế kỷ XX. Đây là sự nối tiếpcủa phong trào quốc gia chống Pháp đòi độc lập dân tộc được khởi xướng bởi các sĩphu chịu ảnh hưởng của tư tưởng dân chủ tư sản, sau đó được tiếp tục phát triểndưới sự lãnh đạo và tổ chức của những nhà tư sản, tiểu tư sản đương thời.2. Mục đích nghiên cứuMục đích của tham luận trước tiên nhằm làm rõ nội dung của chủ đề nghiêncứu. Để giải quyết vấn đề đó, chúng tôi đi sâu trả lời một số các câu hỏi sau :1. Tiền đề của cuộc vận động yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản đầu thế kỷ XX ở Việt Namlà gì ?2. Những tiền đề đó đã được nảy sinh như thế nào ?3. Những tiền đề đó đã tác động và thúc đẩy phong trào quốc gia này diễn ra như thế nào ?Bên cạnh đó, tham luận tiến hành tập hợp các thành quả nghiên cứu nhằm mụcđích hệ thống hóa các quan điểm đã được nghiên cứu và trình bày trước đây. Đồngthời, chúng tôi muốn chia sẻ và trao đổi một số thông tin và nguồn tài liệu mớiTrường THPT Chuyên Thái Bình221HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VInhằm hoàn thiện hơn nội dung bài giảng phục vụ giảng dạy một nội dung quantrọng của lịch sử Việt Nam giai đoạn 1858 – 1918. Đây là một nội dung rất quantrọng của chương trình lịch sử lớp 11, đồng thời cũng là nội dung thường xuyênđược tập huấn, ra đề trong các kì thi học sinh giỏi.B. NỘI DUNG1. Điều kiện kinh tế:Sau khi bình định xong nước ta về mặt quân sự, thực dân Pháp tiến hành cuộckhai thác lần thứ nhất ở Việt Nam (từ năm 1897 đến trước Chiến tranh thế giới thứnhất) với mục đích chuẩn bị cơ sở cho nền thống trị thuộc địa lâu dài. Có thể nói từlâu Đông Dương, chủ yếu là Việt Nam được Pháp coi là thuộc địa quan trọng bậcnhất của Pháp. Vì vậy ngay sau khi dập tắt phong trào Cần Vương, thực dân Phápđã bắt tay ngay vào việc khai thác bóc lột kinh tế với những điểm nổi bật: Thứ nhấtlà việc đầu tư thiết kế cơ sở hạ tầng, từng bước mở mang công thương nghiệp; thứhai là chính sách cướp đoạt ruộng đất; thứ ba là chính sách thuế khóa bao gồm thuếtrực thu và thuế gián thu.Trường THPT Chuyên Thái Bình222HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VITrong bước đầu thiết lập chế độ thuộc địa và khai thác kinh tế, thực dân Phápcũng chú trọng cuộc xâm lăng về văn hóa, trong đó tập trung vào 3 mặt chủ yếusau: Thứ nhất là nhập cơ sở vật chất kĩ thuật in ấn, tạo điều kiện để văn minhphương Tây chế ngự dần, loại bỏ dần chữ Hán và Nho học; thứ hai là đạo tạo lớp tríthức mới Tây học, tầng lớp “thượng lưu trí thức”. Nhưng thực tế là không phải tấtcả các trí thức Tây học ấy đều phục vụ cho thực dân; ngược lại ngay từ đầu thế kỉXX đã xuất hiện những người trí thức yêu nước là đầu tàu trong cuộc tiếp xúc vănhóa Đông – Tây ở Việt Nam.Như vậy, vào những năm đầu thế kỉ XX, dưới tác động của chính sách khaithác ấy, nền kinh tế – xã hội Việt Nam có sự biến đổi. Nền kinh tế có tính chất tựnhiên, tự cấp, tự túc đã bị phá vỡ, mặc dù chưa tan rã hoàn toàn. Nền nông nghiệpcổ truyền còn chiếm ưu thế, nhưng một nền công thương nghiệp theo kiểu tư bản đãxuất hiện, thể hiện một cảnh quan mới, khác lạ ở Việt Nam và hơn hẳn chế độphong kiến. Quy mô cuộc khai thác lần thứ nhất tuy chưa lớn nhưng đã bước đầulàm cho cơ cấu kinh tế thay đổi, tác động đến nhận thức con người. Sự thay đổi vềkinh tế xã hội đã tạo ra một lớp người mới với nhận thức và hành động mới. Nhưvậy, cuộc khai thác thuộc địa lần một của thực dân Pháp cùng những chính sáchthống trị của chúng không chỉ đưa đến những thay đổi trong cơ cấu kinh tế mà cònkéo theo những sự chuyển biến về xã hội.2. Điều kiện xã hội:Trước khi thực dân Pháp tiến hành quá trình xâm lược và bình định Việt Namthì xã hội Việt Nam là một xã hội phong kiến. Nhưng cuộc khai thác thuộc địa lầnthứ nhất của tư bản Pháp cùng với những chính sách thống trị của chúng đã làmTrường THPT Chuyên Thái Bình223HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIthay đổi tính chất của xã hội Việt Nam. Xã hội Việt Nam thực sự trở thành một xãhội thuộc địa, một xã hội mà các yếu tố tư bản chủ nghĩa dưới dạng thực dân xen kẽvới những quan hệ phong kiến mà bọn thống trị đã cố sức duy trì. Trong bối cảnhấy, sự phân hóa các giai tầng xã hội diễn ra ngày càng mạnh mẽ.Với những giai cấp lực lượng xã hội vốn có đã có, sự thay đổi rõ rệt là giai cấpđịa chủ phong kiến. Họ đã mất vai trò thống trị có chủ quyền. Nói chung, họ đã trởthành chỗ dựa, thành tay sai cho chủ nghĩa thực dân. Sự tồn tại của giai cấp phongkiến nói chung, của ông vua chuyên chế nói riêng đã trở thành lực cản cho sự pháttriển của đất nước, “vua còn mà nước mất” như nội dung mà bài thơ của Ngô ĐứcKế đề cập:“Ai về địa phủ hỏi Gia Long,Khải Định thằng này phải cháu ông?Môt lễ tứ tuần vui lũ trẻ,Trăm gia ba chục khổ nhà nông.Mới rồi ngoài Bắc tai liền đến,Năm ngoái qua Tây ỉa vãi cùng!Bảo hộ trau giồi nên tượng gỗ:Vua thời còn đó, nước thời không!Nước thời không có, có vua chi?Có cũng như không, chả ích gì!Người vét đinh điền còn bạch địa,Ta khoe dụ chỉ tự đan trì!Cấp tiền nguyệt bổng vinh nào có,Ăn của quan trường, tệ lắm ri!Thọ lắm lại càng thêm nhục lắm,Nhỏ cu li, lớn cũng cu li!”- Thơ NGÔ ÐỨC KẾ, 1923(dẫn bởi NGUYỄN HIẾN LÊ,Trường THPT Chuyên Thái Bình224HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIĐông Kinh Nghĩa Thục. Saigon,Lá Bối, 1968, tr.124-125).Bên cạnh đó, sự thất bại của phong trào Cần Vương chống Pháp cuối XIX đãcho thấy sự bế tắc hoàn toàn của khuynh hướng cứu nước phong kiến. Những sĩphu phong kiến mang tư tưởng “trung quân ái quốc” với ngọn cờ phong kiến đãkhông còn đủ sức lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Vì vậy lịch sử ViệtNam lúc này đặt ra yêu cầu phải tìm kiếm một con đường cứu nước mớiTrong xã hội Việt Nam đã dần xuất hiện các lực lượng mới : giai cấp côngnhân, tầng lớp tư sản (trong đó có một bộ phận sĩ phu với những hoạt động kinh tếmới), tầng lớp tiểu tư sản thành thị. Giai cấp công nhân Việt Nam là giai cấp mớiđầu tiên ra đời trong cái nôi thuộc địa, thậm chí họ ra đời trước tư sản dân tộc. Tuynhiên họ còn quá non trẻ để đảm nhận vai trò lãnh đạo cách mạng vào đầu thế kỉXX. Tuy nhiên với những đặc tính chính trị xã hội thuận lợi, họ sẽ sớm khẳng địnhđược vai trò trong phong trào dân tộc. Tầng lớp tư sản và tiểu tư sản cũng đã hìnhthành đầu thế kỉ XX ở nước ta. Do quá trình đô thị hóa diễn ra chậm chạp và cácchính sách kinh tế xã hội chặt chẽ của thực dân nên lớp người này khó có điều kiệnđể phát triển. Như vậy các lực lượng xã hội mới còn quá non trẻ để đảm nhận vaitrò lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc ngay từ đầu thế kỉ XX. Vì thế, vaitrò ấy nằm trong tay các sĩ phu tư sản hóa.Là những trí thức của giai cấp phong kiến, xuất thân từ “cửa Khổng sân Trình”,mang nặng tư tưởng “trung quân”, nhưng đứng trước sự sụp đổ của triều đìnhphong kiến, lại là những người dân tha thiết yêu nước, họ thực sự khủng hoảng vềtinh thần:“Đêm sao đêm mãi tối mò mòĐêm đến bao giờ mới sáng choTrường THPT Chuyên Thái Bình225HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIĐàn trẻ u ơ chừng muốn dậyÔng già thúng thắng vẫn thường hoNgọn đèn giữ trộm khêu còn béTiếng cho nghi người vẫn cắn toHàng xóm bốn bề ai dậy chửaDậy thì lên tiếng gọi nhà Nho”(Đêm dài, Từ Diễn Đồng, 1966 – 1908)Chính lúc ấy, những biến chuyển lớn của thời cuộc mới đã làm các sĩ phu tưsản hóa bừng tỉnh. Việc thực dân thực dân Pháp thâu tóm được nước ta, sự thắnglợi của Nhật trong chiến tranh Nga – Nhật (1904 – 1905) khiến họ phải tự hỏi: Vănminh phương Tây có sức mạnh màu nhiệm gì mà khiến cho người Âu – Mĩ giàumạnh; Khiến cho Nhật Bản – một đất hẹp song do học tập, cải cách theo ngườiphương Tây mà thắng được cả Trung Hoa lẫn Nga? Với sư tiếp thu những luồng tưtưởng mới thì các sĩ phu tư sản hóa như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, LươngVăn Can, Nguyễn Quyền… sẽ là lực lượng đảm nhận lãnh đạo cuộc đấu tranh giảiphóng dân tộc theo khuynh hướng dân chủ tư sản ở Việt Nam đầu thế kỉ XX.3. Điều kiện tư tưởng tác động từ bên ngoài:Đầu thế kỉ XX, châu Á thức tỉnh, phong trào cách mạng dân chủ tư sản ở cácnước thuộc địa và nửa thuộc địa như Iran, Thổ Nhĩ Kì, Trung Quốc, Ấn Độ mangmột nội dung mới: Đấu tranh yêu nước giải phóng dân tộc kết hợp đấu tranh giànhquyền dân chủ. Đồng thời, mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam với thực dân Phápngày càng sâu sắc. Trước sự suy tàn của chế độ phong kiến và những yêu cầu mớicủa lịch sử, những người yêu nước Việt Nam đã ý thức được sự lỗi thời của thiếtchế cũ về mọi mặt. Họ nhận thấy rằng, quan niệm “Trung quân ái quốc” của thời kìCần Vương không thể là con đường cứu nước, cứu dân được nữa. Đây là nhữngtiền đề cho sự hình thành một khuynh hướng cách mạng mới. Sự chuyển biến củaTrường THPT Chuyên Thái Bình226HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIxã hội Việt Nam đã tác động đến nhận thức của con người và tạo cơ sở để tiếp nhậnnhững ảnh hưởng từ bên ngoài.Đối với tầng lớp sĩ phu tư sản hóa, trong điều kiện của sự xâm nhập ngày càngmạnh mẽ của văn minh phương Tây, họ ngày càng khao khát tiếp thu những luồngtư tưởng mới. Người thì tìm cách du học Trung Quốc, Nhật Bản; một số trí thứcCông giáo Nam kì thi tìm cách sang Pháp, có người thì tìm mua Tân thư, Tân vănvề đọc mở mang đầu óc… Các tác phẩm Tân thư, Tân văn này được đưa vào nướcta đã giới thiệu những tư tưởng dân chủ tư sản của phương Tây dưới lăng kính củacác nhà tư tưởng lập hiến. Các học thuyết về nhân đạo, dân quyền của những nhà tưtưởng trong trào lưu triết học ánh sáng Pháp thế kỉ XVIII cũng truyền bá vào ViệtNam, được các sĩ phu yêu nước tiến bộ tiếp thu nồng nhiệt. Trào lưu tư tưởng đó đãcổ vũ, hướng theo họ lí tưởng của cuộc Cách mạng Pháp (1789). Bên cạnh đó làảnh hưởng rất lớn từ những phong trào cải cách và cách mạng của Trung Quốc nhưcuộc vận động Duy Tân (1898) với sự xuất hiện Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêuđề xướng tư tưởng cải cách, quân chủ lập hiến; Cách mạng Tân Hợi (1911) với tưtưởng cộng hòa. giúp họ đoạn tuyệt những tư tưởng quân chủ bảo hoàng, chuyểnsang tư tưởng dân chủ cộng hòa. Mặt khác, hơn 30 năm sau duy tân, Nhật Bản đãtrở thành một nước tư bản hùng mạnh, nhất là sau chiến thắng vang dội của quânđội Nhật trong chiến tranh Nga – Nhật (1904-1905) càng củng cố niềm tin của cácsĩ phu yêu nước vào con đường cách mạng tư sản và họ đã dấy lên một cuộc vậnđộng yêu nước theo khuynh hướng này.Trường THPT Chuyên Thái Bình227HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIC. KẾT LUẬNTham luận « Phân tích về điều kiện nảy sinh khuynh hướng cứu nước dân chủ tưsản ở Việt Nam đầu thế kỉ XX khi giảng dạy lịch sử Việt Nam giai đoạn 1858 –1918 » được chúng tôi sử dụng để mở rộng kiến thức khi giảng dạy bài 37: Sựchuyển biến kinh tế, xã hội và tư tưởng ở Việt Nam đầu thể kỉ XX, sách giáo khoaLịch sử 11 Nâng cao. Bên cạnh đó chúng tôi sử dụng làm tài liệu khi giảng dạychuyên đề về “Những tiền đề của khuynh hướng cứu nước dân chủ tư sản ở ViệtNam đầu thế kỉ XX”, nhằm hướng học sinh đội tuyển trả lời được những vấn đềquan trọng như: Tiền đề của cuộc vận động yêu nước theo khuynh hướng dân chủtư sản đầu thế kỷ XX ở Việt Nam là gì ?; Những tiền đề đó đã được nảy sinh nhưthế nào ?; Những tiền đề đó đã tác động và thúc đẩy phong trào diễn ra như thếnào ?Những chuyển biến của xã hội Việt Nam hồi đầu thế kỷ XX đã tạo tiền đềthuận lợi cho sự tiếp thu các trào lưu tư tưởng tiên tiến từ bên ngoài. Sự hình thànhcác giai tầng xã hội mới trên cơ sở phân hóa các giai cấp trước đây đã làm xuất hiệnlực lượng xã hội tiếp nhận tư tưởng dân chủ tư sản và các lực lượng xã hội đôngđảo tham gia vào cuộc vận động yêu nước dân chủ tư sản này. Những vấn đề mớiđược đề cập trong các sách báo tiến bộ chính là yêu cầu của cải cách thể chế chínhtrị, tổ chức kinh tế, giáo dục xã hội là chất men kích thích, có tác dụng giải tỏanhững ràng buộc cũ trong suy nghĩ và hành động, hâm nóng bầu nhiệt huyết củanhững người yêu nước thức thời để bước vào thời kỳ mới Đây là một giai đoạn lịchsử ngắn ngủi, nhưng đã để lại rất nhiều tài liệu, mà chỉ mới có một phần được khaithác. Đối với giai đoạn này, còn bao nhiêu vấn đề chưa được giải thích, còn nhiềukhía cạnh phải đào sâu.Trường THPT Chuyên Thái Bình228HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIViệc làm rõ như những tiền đề của khuynh hướng cứu nước dân chủ tư sản ởViệt Nam đầu thế kỉ XX trong tham luận này góp phần làm rõ hơn một nội dungquan trọng của lịch sử Việt Nam giai đoạn 1858 – 1918. Qua đó giúp học sinh hiểuđược những tiền đề, điều kiện hình thành khuynh hướng cứu nước mới cũng nhưtìm ra được những nhân tố để lí giải cho ưu điểm và hạn chế của khuynh hướng đó.TƯ LIỆU THAM KHẢO1. Đinh Xuân Lâm (Ch.b), Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Đình Lễ (2001). Đạicương lịch sử Việt Nam, tập 2: 1858-1945. Nxb. Giáo dục.2. Hồ Tuấn Dung (2003). Chế độ thuế của thực dân Pháp ở Bắc Kỳ từ 1897 đến1945. Nxb CTQG.3. Ives Henry (1932). Kinh tế nông nghiệp Đông Dương (bản dịch 1992). PhòngTư liệu Khoa Lịch sử, Đại học KHXH-NV, Đại học Quốc gia Hà Nội.4. Nguyễn Công Bình (1959). Tìm hiểu giai cấp tư sản Việt Nam thời Phápthuộc. Nxb Văn – Sử – Địa.5. Nguyễn Khắc Đạm (1958). Những thủ đoạn bóc lột của tư bản Pháp ở ViệtNam. Nxb Văn – Sử – Địa.6. Nguyễn Khánh Toàn, Nguyễn Công Bình, Văn Tạo, Phạm Xuân Nam, BùiĐình Thanh (2004). Lịch sử Việt Nam), tập II (1858-1945). Nxb Khoa học Xãhội.7. Nguyễn Văn Khánh (2004). Cơ cấu kinh tế – xã hội Việt Nam thời thuộc địa(1858 – 1945) (In lần thứ 3, có sửa chữa và bổ sung). Đại học Quốc gia HàNội.Trường THPT Chuyên Thái Bình229HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI8. Phạm Đình Tân (1959). Chủ nghĩa đế quốc Pháp và tình hình công nghiệp ởViệt Nam dưới thời thuộc Pháp). Nxb Sự Thật.9. Tạ Thị Thúy, Ngô Văn Hòa, Vũ Huy Phúc (2007). Lịch sử Việt Nam, tập VIII(1919-1930). Nxb Khoa học Xã hội.10.Trịnh Văn Thảo (2014). Ba thế hệ trí thức người Việt (1862-1954). Nghiêncứu lịch sử xã hội. Từ Văn & NXB Thế giới.11.Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn (Ch.b) (2001). Đạicương lịch sử Việt Nam : Toàn tập : Từ thời nguyên thuỷ đến năm 2000 (Táibản lần thứ 4, có sửa chữa và bổ sung). Nxb Giáo dục.Trường THPT Chuyên Thái Bình230HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VISỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HƯNG YÊNTRƯỜNG THPT CHUYÊN HƯNG YÊNNGUYỄN THỊ HIỀNĐỀ TÀI KHOA HỌCCUỘC KHAI THÁC THUỘC ĐỊA LẦN THỨ I CỦA THỰCDÂN PHÁP (1897 – 1914) VÀ THỰC TRẠNG KINH TẾ – XÃHỘI VIỆT NAM TRƯỚC TÁC ĐỘNG KHAI THÁC THUỘCĐỊA CỦA THỰC DÂN PHÁP.Hưng Yên, tháng 8 năm 2013.A. PHẦN MỞ ĐẨU1. Lý do chọn đề tàiVào cuối thế kỷ XIX, khi những cuộc khởi nghĩa của phong trào CầnVương cuối cùng thất bị, cuộc xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp đã trảiqua gần 40 năm với những tổn thất nặng nề. Chính phủ Pháp nôn nóng đượcthấy kết quả của những cuộc viễn chinh tốn kém ấy. Những tên cai trị của nănglực như Đume, Bô, Xarô… được cử sang làm toàn quyền ở Đông Dương, nhằmnhanh chóng ổn định việc cai trị và bắt đầu tổ chức khai thác tài nguyên của xứnày để phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế và cho cuộc chiến tranh giành giậtthuộc địa của đế quốc Pháp. Từ 1897 đến 1914, thực dân Pháp đã thực hiệncuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất ở nước ta. Kinh tế – xã hội Việt Nam đã cóTrường THPT Chuyên Thái Bình231HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VInhững biến đổi quan trọng qua cuộc khai thác này. Sự biến đổi đó đã tạo nênnhững tiền đề quan trọng cho cuộc cách mạng giải phóng dân tộc ở Việt Namtrong những năm đầu thế kỷ XX.Các cuộc khai thác thuộc địa của chủ nghĩa tư bản đế quốc ở Việt Nam làmột trong những nội dung quan trọng trong khóa trình lịch sử ở nhà trường phổthông. Do vậy, nghiên cứu vấn đề này sẽ giúp tác giả củng cố kiến thức, bổsung kiến thức mới, góp phần mở rộng hiểu biết của bản thân thiết thực trongcông tác giảng dạy và nghiên cứu lịch sử.2. Lịch sử nghiên cứu vấn đềCác cuộc khai thác thuộc địa của chủ nghĩa tư bản đế quốc ở Việt Namtrong thời kỳ 1897 – 1945 nói chung và cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhấtcủa thực dân Pháp (1897 – 1914) nói riêng là một vấn đề có ý nghĩa khoa họclớn. Vì vậy, vấn đề này đã được nhiều học giả quan tâm, đề cập đến nhiều gócđộ khác nhau. Tiêu biểu là các công trình nghiên cứu sau:- “Lịch sử Việt Nam, tập II” do Nguyễn Khánh Toàn chủ biên (NXBKhoa học xã hội, Hà Nội, 1985) trong chương IV đã đề cập đến cuộc khaithác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp và sự biến chuyển của xãhội Việt Nam.- Đinh Xuân Lâm, Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Đình Lễ với cuốn “Đạicương lịch sử Việt Nam, tập II” (NXB Giáo dục, Hà Nội, 2000). ChươngIV của cuốn sách đã phân tích khá đầy đủ những biến đổi của xã hội ViệtNam đầu thế kỷ XX. Đây là một tài liệu bổ ích phục vụ cho việc giảngdạy và nghiên cứu lịch sử cận đại Việt Nam.- Nguyễn Văn Kiệm với cuốn “Lịch sử Việt Nam (đầu thế kỷ XX đến1918), quyển III, tập II” (NXB Giáo dục, Hà Nội, 1979), trong chương I,tác giả đã tập trung phân tích rõ những biến đổi của Việt Nam đầu thế kỷXX (đến 1918) trên tất cả các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội.- Cuốn “Cơ cấu kinh tế Việt Nam thời thuộc địa (1858 – 1945), (NXBĐại học Quốc gia Hà Nội, 2004) của tác giả Nguyễn Văn Khánh. TrongTrường THPT Chuyên Thái Bình232HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIchương II, tác giả đã làm rõ quá trình hình thành cơ cấu kinh tế – xã hộiViệt Nam đầu thế kỷ XX (1900 – 1918). Đây là một chuyên khảo làmsáng tỏ thực trạng và sự biến đổi cơ cấu kinh tế – xã hội Việt Nam thờithuộc địa. Tác phẩm cũng cung cấp những nhận định, đánh giá xác đángnhững ảnh hưởng tích cực và hạn chế của công cuộc khai thác thuộc địacủa chủ nghĩa thực dân Pháp trên đất nước ta trước đây.Ngoài ra, còn phải kể đến các công trình nghiên cứu sau:- Nguyễn Ngọc Cơ (chủ biên), Trương Công Huỳnh Kỳ, Nguyễn AnhDũng, Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến 1919, NXB Đại học sư phạm, HàNội, 2007.- Nguyễn Khắc Đạm, Những thủ đoạn bóc lột của tư bản Pháp ở ViệtNam, NXB Văn sử địa, Hà Nội, 1957.- Nguyễn Trí Dĩnh, Lịch sử kinh tế quốc dân, NXB Giáo dục, Hà Nội,1997.Nhìn chung, những tài liệu nói trên đã trình bày khá cụ thể ở khía cạnhnày hay khía cạnh khác có liên quan đến vấn đề. Những tài liệu trên là cơ sở bổích để tác giả tham khảo, cùng với những tài liệu khác, các trang web giúp tácgiả nghiên cứu vấn đề này một cách hệ thống và khoa học hơn.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứuThời gian: Đề tài đi sâu nghiên cứu về cuộc khai thác thuộc địa của thựcdân Pháp lần thứ I và ảnh hưởng của nó đến kinh tế – xã hội ở Việt Nam trongnhững thập niên đầu của thế kỉ XXNội dung: với phạm vi nghiên cứu của đề tài, nội dung chủ yếu là đi sâuvào việc tìm hiểu cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp (1897– 1914) và thực trạng kinh tế – xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX4. Phương pháp nghiên cứuĐể thực hiện đề tài này, tác giả đã có quá trình sưu tầm và tập hợp hệthống các tài liệu. Khi tiến hành nghiên cứu, tác giả đã sử dụng những phươngpháp sau: phương pháp lịch sử, phương pháp logic, phương pháp phân tích sosánh, tổng hợp để trình bày các sự kiện, vấn đề theo mối liên hệ có tính biệnchứng của lịch sử xã hội, nhằm đảm bảo tính hệ thống, chính xác và khoa học.5. Đóng góp của đề tài.- Tổng hợp, hệ thống lại các chính sách của thực dân Pháp trong cuộc khaithác thuộc địa lần thứ nhất (1897 – 1914). Trên cơ sở đó hiểu được bản chất và hệquả của những khai thác thuộc địa và thực dân Pháp áp dụng ở Việt Nam đầu thếTrường THPT Chuyên Thái Bình233HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIkỷ XX.- Qua việc tìm hiểu thực trạng kinh tế – xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX, rút rađươc nguyên nhân dẫn đến việc hình thành các mâu thuẫn cơ bản trong xã hội, làmtiền đề dẫn đến sự bùng nổ của phong trào yêu nước cách mạng Việt Nam đầu thếkỷ XX.Bổ sung tư liệu cần thiết cho việc nghiên cứu, tìm hiểu về lịch sử cận đạiViệt Nam6. Bố cục của đề tàiNgoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, nội dung đề tài gồm 2chươngChương I: Cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp (1897 –1914)Chương II: Thực trạng kinh tế – xã hội Việt Nam trước tác động khai thácthuộc địa của thực dân Pháp.B. PHẦN NỘI DUNGChương I: CUỘC KHAI THÁC THUỘC ĐỊA LẦN THỨ ICỦA THỰC DÂN PHÁP (1897 – 1914)1.Hoàn cảnh lịch sửNăm 1896, phong trào vũ trang khởi nghĩa Cần Vương đã lụi tàn dần vớisự thất bại của khởi nghĩa Hương Khê. Một số thổ hào địa phương nổi dậy ngaytừ khi thực dân Pháp mới đặt chân tới nước ta đến nay tuy vẫn còn cố gắng cầmcự, nhưng chỉ đóng khung trong phạm vi nhỏ hẹp trong vùng và đang trên conđường tan rã. Duy có cuộc khởi nghĩa của nông dân Yên Thế do Đề Thám lãnhđạo trong tình thế bao vây o ép nên vào tháng 12 – 1897 phải đình chiến với kẻthù. Nhìn chung, cuộc khởi nghĩa vũ trang chống Pháp của nhân dân ta đã bướcvào giai đoạn thoái trào và đi đến thất bại.Như vậy, về cơ bản, thực dân Pháp đã hoàn thành công cuộc bình địnhViệt Nam về mặt quân sự, và trong bối cảnh đó có thể tiến hành tăng cường vàcủng cố bộ máy chính trị, đồng thời tổ chức khai thác, bóc lột các nước ĐôngDương trên quy mô lớn, nhằm biến Đông Dương thành thuộc địa khai thác bậcnhất của chủ nghĩa đế quốc Pháp.2. Nội dung chương trình khai thác2.1.Kế hoạch khai thác thuộc địa của Pôn ĐumeNgày 22 tháng 3 năm 1897, Toàn quyền Đông Dương Pôn Đume gửi choBộ trưởng Bộ thuộc địa Pháp dự án chương trình hoạt động gồm các điểm cơbản sau:“1. Tổ chức một chính phủ chung cho toàn Đông Dương và tổ chức bộ máy caitrị hành chính riêng cho từng “xứ” thuộc Liên bang.Trường THPT Chuyên Thái Bình234HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI2. Sửa đổi lại chế độ tài chính, thiết lập một hệ thống thuế khóa mới sao chophù hợp với yêu cầu của ngân sách, nhưng phải dựa trên cơ sở xã hội cụ thể, vàphải chú ý khai thác phong tục tập quán của nhân dân Đông Dương.3. Chú ý xây dựng thiết bị lớn cho Đông Dương, như xây dựng hệ thống đườngsắt, đường bộ, sông đào, bến cảng rất cần thiết cho công cuộc khai thác.4. Đẩy mạnh nền sản xuất và thương mại bằng việc phát triển công cuộc thựcdân của người Pháp và lao động của người bản xứ.5. Bảo đảm phòng thủ Đông Dương bằng việc tái thiết lập những căn cứ hảiquân và phải tổ chức quân đội và hạm đội cho thật vững mạnh.6. Hoàn thành công cuộc bình định xứ Bắc Kỳ, đảm bảo an ninh vùng an ninhbiên giới Bắc Kỳ.7. Khuếch trương ảnh hưởng của nước Pháp, mở rộng quyền lợi của nước Phápở Viễn Đông, nhất là các nước thuộc địa lân cận.” [2, 98].Đume rất am hiểu tình hình Đông Dương vì đã từng là nghị sĩ giữ chứcThượng thư tài chính trong chính phủ Pháp và là báo cáo viên những dự án luậtthanh toán tạm thời và tổng thanh toán tài chính Bắc và Trung Kỳ. Chương trìnhkhai thác do Đume đặt ra để thi hành ở Đông Dương (chủ yếu là ở Việt Nam) từnhững năm đầu thế kỷ XX có mục đích tối thượng là biến gấp Đông Dươngthành một thuộc địa khai khẩn bậc nhất, đảm bảo lợi nhuận cao nhất cho đếquốc Pháp. Sênô trong cuốn “Đóng góp vào lịch sử dân tộc Việt Nam” đã đánhgiá cao Đume: “Chính ông đã đưa chế độ thuộc địa từ giai đoạn kinh nghiệmchủ nghĩa hầu như “thủ công” sang giai đoạn tổ chức hệ thống. Chính ông đãtạo dựng bộ máy thống nhất về bóc lột tài chính và đàn áp chính trị trong thựctế sẽ được duy trì nguyên vẹn đến tận 1945”. [2,98]2.2.Thời gian khai thác và mục đích của cuộc khai thácCuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp được tiến hànhngay sau khi phong trào Cần Vương thất bại (1897) đến chiến tranh thế giới thứnhất (1914).Mục đích của mà thực dân Pháp muốn hướng tới trong cuộc khai thác nàylà làm sao vơ vét, bóc lột tài nguyên khoáng sản, sức người, sức của ở thuộc địaViệt Nam một cách triệt để và hiệu quả nhất, phục vụ đắc lực cho nền kinh tếchính quốc Pháp, góp phần hỗ trợ cho cuộc chạy đua của Pháp trong thế giới tưbản.2.3.Vốn đầu tư và hướng đầu tư của thực dân PhápTư bản nước ngoài được đầu tư vào Việt Nam từ đầu thế kỷ XX chủ yếulà của Pháp. Từ năm 1896 đến 1914 có 514 triệu Frăng vàng được đầu tư dướihình thức tiền vốn của Nhà nước. Đó là theo số liệu của nhà kinh tế học MỹCallis, còn theo nguồn tư liệu chính thức của Pháp từ số đó là 424 triệu. Từ năm1888 đến 1920 có 500 triệu Frăng. [2,113]Tư bản thực dân Pháp đã bỏ vốn hoặc hùn vốn để đầu tư vào các ngànhcông nghiệp – xây dựng. Tuy nhiên, Pháp không chú trọng xây dựng côngnghiệp nặng mà chủ yếu tập trung khai thác mỏ, quặng, than. Đồng thời chú ýTrường THPT Chuyên Thái Bình235HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIđến phát triển công nghiệp nhẹ, nhưng không phát triển công nghiệp nhẹ toàndiện mà tập trung phát triển công nghiệp điện, nước, dệt, công nghiệp chế biếnlương thực thực phẩm (xay xát gạo, nấu rượu, đường) và phát triển công nghiệpdân dụng, sản xuất hàng tiêu dùng và sản xuất vật liệu xây dựng (gạch, ngói,một vài nhà máy xi măng công suất nhỏ), chủ yếu nhằm phục vụ cho ngườinước ngoài, đô thị, các công sở của Pháp, căn cứ quân sự.Quan sát quá trình vận động của nền kinh tế Đông Dương thời kỳ thuộcđịa, nhà kinh tế học Ch.Robequain vào năm 1939 đã khái quát thành ba chutrình với các nội dung khác nhau. Đó là chu trình xuất khẩu lúa gạo, bắt đầu từ1860; chu trình thứ hai bắt đầu từ 1897 với việc khai thác chiến lược phát triểncác ngành công nghiệp, khai mỏ và đồn điền; và cuối cùng là thời kỳ suy sụpkéo dài của nền kinh tế thuộc địa từ sau 1930. Như vậy, thời kỷ hoàng kim củanền kinh tế thuộc địa chính là 3 thập kỷ đầu của thế kỷ XX. Điều này được thểhiện trước hết ở việc gia tăng nhanh chóng tốc độ và số vốn đầu tư vào cácngành kinh tế của Việt Nam trong thời kỳ này.Trong đợt khai thác I đầu thế kỷ XX, riêng vốn đầu tư tư nhân ở ViệtNam và các nước trên bán đảo Đông Dương là 238 triệu Frăng vàng. Số vốn đóđược phận bố giữa các ngành như sau:Bảng tình hình vốn đầu tư của tư bản tư nhân Pháp ở Đông Dương(1903 – 1918)Khu vựcSố tiền (triệu Fr)Tỷ lệ ( %)Công nghiệp17774Nông nghiệp và khai2711thác rừngThương nghiệp3415Cộng238100[6,39]Theo tính toán của Robequain thì trong vòng 30 năm từ 1888 đến 1918,tổng số vốn đầu tư của tư bản tư nhân ở Việt Nam và Đông Dương là 492 triệuFrăng vàng, trong đó ngành mỏ chiếm trên một nửa tổng số vốn đầu tư.Bảng khối lượng và sự phân bố vốn của tư bản tư nhân trongcác ngành kinh tế Đông Dương (1888 – 1918)Khu vựcSố tiền (triệu Fr)Tỷ lệ (%)Mỏ24951Giao thông vận tải12826Trường THPT Chuyên Thái Bình236HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIThương mại7515Nông nghiệp408Cộng492100[6,40]Qua bảng thống kê trên ta thấy khối lượng vốn đầu tư vào Đông Dươngtăng nhanh vào đầu thế kỷ XX. Trong giai đoạn này, vốn đầu tư được tập trungchủ yếu vào hai ngành khai mỏ và giao thông vận tải (chiếm 77 % tổng số vốnđầu tư của các công ty tư bản tư nhân). Trong khi đó, nông nghiệp là ngành kinhtế truyền thống và cơ bản của Việt Nam thì lại không được chú ý đầu tư đúngmức.Nguyên nhân chính của tình trạng này là do mục đích lợi nhuận siêungạch của tư bản Pháp. Người Pháp hiểu rằng muốn tiến hành khai thác thuộcđịa và bóc lột các nguồn của cải vật chất nước ta, phải tạo dựng và chuẩn bị cơsở hạ tầng và các thiết bị phương tiện cần thiết. Vì vậy, từ đầu thế kỷ XX, Phápđặc biệt chú trọng đầu tư vốn vào ngành giao thông vận tải.Trong số các nguồn lợi của nước ta, mỏ là nguồn tài nguyên vừa đa dạng,vừa quý hiếm. Tập trung đầu tư vào khai thác mỏ Pháp vừa tốn ít vốn (đầu tư ít,thuê nhân công rẻ), lại vừa nhanh vừa thu lợi nhuận, và đạt được mức lãi cao.Đây là lí do lý giải vì sao vào đầu thế kỷ XX, cũng như trong suốt thời thuộcđịa, khai mỏ là ngành được tư bản Pháp rất chú trọng và đầu tư phát triển.Chương II. THỰC TRẠNG KINH TẾ – Xà HỘI VIỆT NAM TRƯỚCTÁCĐỘNG KHAI THÁC THUỘC ĐỊA CỦA THỰC DÂN PHÁPTrường THPT Chuyên Thái Bình237HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI1. Thực trạng kinh tếThông qua các hoạt động đầu tư vốn, mua sắm và nhập khẩu các trangthiết bị mới mà tư bản Pháp đã từng bước làm biến đổi thành phần và cơ cấucủa nền kinh tế Việt Nam. Vào đầu thế kỷ XX, một số ngành kinh tế mới dầnhình thành.1.1. Kinh tế nông nghiệpMặc dù là ngành kinh tế cơ bản và truyền thống của Việt Nam nhưngkhông được thực dân Pháp đầu tư phát triển đúng mức.Từ khi đến Việt Nam, thực dân Pháp tìm cách mở rộng diện tích để chiếmđất, lập đồn điền, tước đoạt ruộng đất của nông dân dưới mọi hình thức. Quátrình chiếm đoạt này là vô cùng trắng trợn, nhưng lại được “hợp pháp hóa” bằngnhững điều ước, nghị định, do sự câu kết chặt chẽ của đế quốc phong kiến đặtra. Năm 1897, triều đình Huế ký điều ước nhượng cho thực dân quyền khaikhần đất hoang. Ngày 1/5/1900, thực dân Pháp ra nghị định phủ nhận quyền sởhữu ruộng đất trong luật pháp phong kiến để dễ dàng cướp ruộng đất của nôngdân. “Đất hoang, đất vô chủ” thực chất là những ruộng đất màu mỡ của nôngdân bị thực dân Pháp đuổi đi để chiếm đoạt. Ở Nam Kỳ, chúng vét sông, đàomương, thu hút nông dân đến khai thác, rồi tư bản Pháp chiếm đoạt làm củariêng bằng hình thức mua lại của Nhà nước với giá rẻ mạt (80 đồng/1000 haruộng – tức là 192 Frăng năm 1900), hoặc được Nhà nước cấp không. Ở TrungKỳ và Bắc Kỳ, ruộng đất của nghĩa quân thời Cần Vương và văn thân, ruộng đấtcủa nông dân sơ tán đi nơi khác đều bị coi là “vô chủ” và bị chúng chiếm để lậpđồn điền, cả nương rẫy của nhân dân các dân tộc thiểu số cũng bị coi là đấthoang và bị cướp đoạt. [2,120]Vì thế, diện tích ruộng đất canh tác tăng lên nhanh chóng. Vào cuối thếkỷ XIX, diện tích canh tác trong cả nước mới có 2.640.000 ha thì đến năm 1913đã lên tới 3.130.000 ha. Khu vực tăng trưởng ruộng đất nhanh nhất là ở NamKỳ.[6,53]Trong nông nghiệp, tư bản Pháp tập trung vào hai lĩnh vực là vơ vét xuấtkhẩu lúa gạo và kinh doanh đồn điền. Số lượng và diện tích đồn điền, do đó,tăng lên nhanh chóng vào đầu thế kỷ XX. Năm 1900, diện tích đồn điền củangười Pháp là 322.000 ha, trong đó 78.000 ha ở Nam Kỳ và 98.000 ha ở BắcKỳ. Càng về sau, diện tích đồn điền ngay càng tăng do chính sách tự do cướpđoạt ruộng đất của thực dân Pháp.Ở Bắc Kỳ, nếu năm 1907, có 244 đồn điền thì đến năm 1918 đã có 476đồn điền của người Pháp với diện tích 417.650 ha. Theo nghiên cứu của Tạ ThịThúy, trong số 476 đồn điền này có 150 đồn điền loại nhỏ (dưới 50 ha), 312 đồnđiền lớn, chiếm 99,4% tổng số diện tích đồn điền, trung bình mỗi đồn điền là1.300 ha. Đặc biệt có 43 đồn điền rất lớn có diện tích từ 2000 ha đến trên 5000ha, trong đó có 20 đồn điền rộng đến 8000 ha.[6,54]Các đồn điền ở Bắc Kỳ phân bố ở các vùng đồng bằng, trung du và nhiềunhất là ở vùng Thượng du. Tại đồng bằng, các đồn điền kết hợp trồng lúa (làTrường THPT Chuyên Thái Bình238HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIchính) với các cây chè, cà phê, cao su. Ở miền trung du, cách thức canh táctrong các đồn điền là kết hợp giữa trồng trọt và chăn nuôi.Các chủ đồn điền thực hiện kinh doanh chủ yếu bằng cách phát canh thutô, hoặc sử dụng lao động của tá điền – một phương thức khai thác ruộng đấtcủa thời phong kiến, kỹ thuật canh tác vẫn hết sức lạc hậu, nông cụ thô sơ và ítđược cải tiến.Trên bình diện vĩ mô, công tác thủy nông còn rất hạn chế. Nạn úng lụt vàhạn hán diễn ra thường xuyên trên diện tích rộng ở nhiều vùng, gây hậu quả xấutới năng suất và sản lượng thu hoạch.Tuy nhiên, so với thời kỳ cuối thế kỷ XIX, năng suất lúa trung bình trêntoàn xứ Đông Dương đã tăng gấp 5 lần (từ 2,3 tạ/ha lên 10,7 tạ/ha). Vào thời kỳnày, sản xuất lúa trên đất Nam Kỳ đạt năng suất cao hơn so với Bắc và TrungKỳ (năm 1913, Nam Kỳ đạt 17 tạ/ha).Về sản lượng lúa, tính riêng đến năm 1913, cả nước thu hoạch được3818.000 tấn, trong đó có 1.286.804 tấn được đem đi xuất khẩu. Ngay Bắc Kỳlà nơi đất chật người đông, xưa nay được coi là khu vực thiếu lương thực trầmtrọng, có lúc phải nhập khẩu lương thực. Nhưng theo báo cáo của chính quyềnPháp, ngay từ những năm đầu thế kỷ XX này, Bắc Kỳ đã xuất khẩu qua cảngHải Phòng, mỗi ngày vài chục tấn gạo, nhất là vào những tháng sau vụ Đông –Xuân và Hè – Thu. Địa bàn xuất khẩu lúa gạo của Bắc Kỳ là Hồng Kông và mộtsố nước khác. Riêng tháng 12/1901, số lượng lúa gạo xuất khẩu từ cảng HảiPhòng, theo báo cáo gửi Thống sứ Bắc Kỳ là 25.043 tấn, ngày 5/5/1902, xuấtkhẩu sang Hồng Kông là 1.876 tấn. [6,55]Rõ ràng, nền nông nghiệp Việt Nam đầu thế kỷ XX đã có những bướcchuyển biến rõ rệt trên cả ba mặt: diện tích canh tác, năng suất và sản lượng thuhoạch. Tuy vậy, phương thức canh tác và kỹ thuật nông nghiệp còn hết sức lạchậu, thấp kém, và chưa có những biến đổi cơ bản so với nửa cuối thế kỷ XIX.1.2. Kinh tế công nghiệp và thủ công nghiệp1.2.1. Kinh tế công nghiệpNgay trong quá trình xâm lược Việt Nam, thực dân Pháp đã cho xây dựngmột số cơ sở công nghiệp chế biến nông sản, sửa chữa tàu, mở các công trườngkhai thác mỏ. Tuy nhiên, số vốn và quy mô hoạt động của các cơ sở kỹ nghệnày vào cuối thế kỷ XIX còn rất nhỏ bé.Sang đầu thế kỷ XX, do nhu cầu của cuộc khai thác thuộc địa, cũng đểnhư đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng trong nước, thực dân Pháp đã phải cho mởmang một số ngành kỹ nghệ, chủ yếu là công nghiệp nhẹ và công nghiệp chếbiến.Hướng phát triển của công nghiệp Việt Nam trong thời kỳ khai thác thuộcđịa được Pháp đặt ra là: “Sản xuất ở thuộc địa chỉ được giới hạn trong việccung cấp cho chính quốc nguyên liệu hay những vật phẩm gì cho nước Phápkhông có. Công nghiệp nếu có được khuyến khích thì cũng chỉ nhằm bổ sungcho công nghiệp chính quốc, chứ không được ảnh hưởng đến sự phát triển củaTrường THPT Chuyên Thái Bình239HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIcông nghiệp chính quốc” và “Nền công nghiệp chính quốc phải được côngnghiệp thuộc địa bổ sung chứ không bị nền công nghiệp này phá hoại. Nói cáchkhác, nền công nghiệp thuộc địa đẻ ra là để làm những cái mà công nghiệpPháp không làm được. Về tất cả các phương diện, kể cả về phương diện côngnghiệp, thuộc địa chỉ là những địa bàn hoạt động giúp cho nước Pháp có thểtriển khai hoạt động ra thế giới” [3,18]Vì vậy, hàng loạt các cơ sở kinh tế, nhà máy, xí nghiệp của tư bản Phápđã được thành lập. Năm 1903, xuất hiện 82 nhà máy, đến năm 1906 tăng lên200 nhà máy, xí nghiệp. Riêng ở Bắc Kỳ có 85 cơ sở kinh doanh, thu hút trên12000 công nhân làm việc[6,50]. Tiêu biểu như Công ty bông vải Bắc Kỳ, Côngty điện nước Đông Dương, Công ty rượu Đông Dương, Công ty rừng và diêmĐông Dương, Công ty kinh doanh xay gạo ở Bắc Kỳ, Công ty giấy…Tại Nam Kỳ, số lượng các nhà máy xay xát gạo tăng nhanh. Ngoài ra cònxuất hiện nhiều cơ sở nấu rượu ở Bình Tây, xưởng sửa chữa ô tô, nhà máy xàphòng, nhà máy in ở Sài Gòn – Chợ Lớn. Năm 1903, ở Sài Gòn – Chợ Lớn đãkhánh thành đường tàu điện đi Gò Vấp.Nghề dệt được đầu tư mở rộng sản xuất, trước tiên ở ba nhà máy dệt đặttại Nam Định, Hà Nội và Hải Phòng.Các nghề sản xuất xi măng, thuộc da, thuốc lá, sản xuất giấy, xưởng vũkhí, quân trang….cũng đẩy mạnh hoạt động. Ở Trung Kỳ, công nghiệp chậmphát triển. Đầu thế kỷ XX, bên cạnh các xưởng thủ công lớn, mới chỉ xuất hiệnNhà máy sửa chữa xe lửa Tràng Thi, nhà máy diêm Bến Thủy (ở Nghệ An). ỞBình Định, có nhà máy dệt Delignon. Ngoài ra còn có mỏ than ở Nông Sơn, mỏvàng ở Bồng Miêu (Quảng Nam)…Như vậy, các nhà máy, xí nghiệp của Pháp được lập ở Việt Nam trongthời gian này kinh doanh chủ yếu các ngành phục vụ đời sống và chế biến. Chođến chiến tranh thế giới thứ nhất, ở Việt Nam chưa có một nhà máy chế tạocông cụ nào. Công nghiệp luyện kim, then chốt của nền công nghiệp cũngkhông có. Hầu hết các nhà máy công nghiệp lớn đều nằm trong tay người Pháp.Những nhà máy này dùng nguyên liệu tại chỗ, thỏa mãn một phần nhu cầuthuộc địa, và xuất cảng được chút ít. Phần lớn hàng tiêu dùng phải nhập từ Phápsang. Những hàng nhập đều đắt và hiếm nên chỉ phục vụ người thành thị, chủyếu là người Pháp, các viên chức người Việt trong chính quyền thực dân và thịdân. Những người này chiếm rất ít trong dân số và đều là những người phi sảnxuất. Những người trực tiếp sản xuất như công nhân và nhất là nông dân rất xalạ với những cái gọi là văn minh như điện, nước máy… Đồ dùng để sản xuất củahọ trong hầm mỏ hay đồng ruộng chỉ là hàng thủ công. Nền công nghiệp gọi làmới ấy rõ ràng không phục vụ gì cho việc phát triển lực lượng sản xuất của xãhội.Trong các ngành công nghiệp xuất hiện ở Việt Nam đầu thế kỷ XX, khaimỏ vẫn là ngành được tư bản Pháp đặc biệt coi trọng. Cho đến trước chiến tranhthế giới thứ nhất, chính quyền thuộc địa đã cấp hàng trăm giấy phép đi tìm mỏ.Trường THPT Chuyên Thái Bình240HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VISố nhượng địa tính đến năm 1911 là 92 chiếc, chủ yếu tập trung ở Bắc Kỳ, vớidiện tích 60.000 ha. Riêng về than, sản lượng khai thác không ngừng được tănglên.Bảng tình hình sản lượng khai thác than vào thời kỳ đầu thế kỷ XXNămSản lượng (tấn)NămSản lượng (tấn)19012621908347190234619093841903301191046819042831911452190530919124361906311191350919073201914620[6,51]Như vậy, vào cuối thế kỷ XIX đến trước chiến tranh thế giới thứ nhất, sảnlượng than khai thác được tăng lên 2,5 lần, trung bình mỗi năm tăng 20.000 tấn.Tính đến năm 1918, thực dân Pháp đã khai thác gần 10 triệu tấn than các loại đểsử dụng và xuất khẩu kiếm lời. Lượng than xuất khẩu một phần đưa về Pháp, sốcòn lại được nhập sang Trung Quốc, Nhật Bản…Hoạt động khai thác than tậptrung trong tay các công ty như Công ty mỏ than Bắc Kỳ (thành lập năm 1888),Công ty than Kế Bào (lập 1901), Công ty than Tuyên Quang (thành lập năm1915), Công ty than Đông Triều (lập năm 1916)….Bên cạnh mỏ than, tư bản Pháp còn tổ chức khai thác nhiều mỏ than mỏkim loại khác, như mỏ thiếc ở Tĩnh Túc (Cao Bằng), các mỏ kẽm ở TuyênQuang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Cạn, mỏ than ở Sơn La, Thanh Hóa, mỏsắt ở Thái Nguyên, mỏ vàng ở Cao Bằng … Tổng giá trị công nghiệp khaikhoáng ở Đông Dương vào năm 1906 đạt 2 triệu đồng Đông Dương, đã tăng lên8 triệu vào năm 1916 [6,52].Có thể nói, khai mỏ là ngành công nghiệp hình thành sớm và lớn nhất củatư bản Pháp ở Việt Nam chẳng những về mặt giá trị kinh tế, mà cả về mặt phạmvi và quy mô hoạt động.Phương thức hoạt động của tư nhân Pháp ở Việt Nam là tận dụng nguồnnhân công rẻ mạt, sử dụng đến mức tối đa lao động thủ côn, kết hợp lao độngthủ công với lao động cơ giới, kết hợp với bóc lột tư bản chủ nghĩa với bóc lộttiền tư bản chủ nghĩa, sao cho chi phí sản xuất giảm xuống đến mức thấp nhấtđể thu lợi nhuận cao nhấtBên cạnh công nghiệp của Pháp, một lớp người bản xứ gồm thợ thủ côngkhá giả, nhà buôn, thầu khoán, một số nhà nho, một số quan lại đã đứng ra kinhdoanh hàng công nghiệp. Một số xí nghiệp nhỏ của người bản xứ ra đời. Nhưngngười Pháp đã chiếm lĩnh mọi địa bàn quan trọng, nên những xí nghiệp ấy chỉTrường THPT Chuyên Thái Bình241HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIcòn kinh doanh lấp chỗ trống. Vốn đầu tư của họ rất nhỏ bé nên kinh doanh hẹpvà phần lớn là thợ thủ công. Số công nhân trong các xí nghiệp này rất ít, có xínghiệp chỉ chỉ thuê độ 5,7 công nhân. Vậy mà thực dân Pháp cũng tìm cáchchèn ép họ, đến nỗi sau 20 năm của thời kì khai thác, số xí nghiệp của ngườiViệt chỉ đủ đếm trên đầu ngón tay, chiếm 1% so với các xí nghiệp của Pháp.Chỉ đến sau chiến tranh thế giới bùng nổ, thực dân Pháp vì muốn duy trì tìnhtrạng tương đối ổn định về kinh tế thuộc địa trong khi hàng Pháp không sangđược, buộc phải nới rộng sự chèn ép đối với các nhà kinh doanh người Việt, thìcác xí nghiệp công nghiệp của người Việt mới được mở mang thêm chút ít. Mộtvài xí nghiệp đã đạt được quy mô khá lớn.Trước chiến tranh, thấy xuất hiện ở Hà Nội nhiều công ty chuyên sảnxuất và bán các đồ sắt như Quảng Hưng long, Đông Thành Hưng… Năm 1906,một số quan lại hùn vốn lập công ty Nam phong chuyên sản xuất chiếu. Công tynày có từ 200 đến 300 khung cửi, một số lớn chiếu đã được đem đi xuất cảng[3,21]. Về ngành dệt, có các công ty Thái Bình, Đồng Ích. Về giao thông cócông ty đường biển Bạch Thái Bưởi có 3 tàu thủy chở khách chạy trên các tuyếnđường Nam Định – Hà Nội, Nam Định – Bến Thủy. Năm 1912, công ty này mởthêm đường chạy Nam Định – Hải Phòng. Về ngành gốm, năm 1906, ở BátTràng có chừng 20 lò sản xuất từ 20 vạn đến 40 vạn chén bát một năm. Ở TrungKỳ, ngành nước mắm được người Việt kinh doanh nhiều nhất. Ở ngành này, cócông ty Liên Thành (Phan Thiết) là lớn hơn cả. Ở Nam Kỳ, người Việt có mộtnhà máy xay ở Bình Tây, 1 nhà máy in, 3 xưởng làm xà phòng. Công nghiệpbản xứ ngoài một số hãng tạm gọi là xí nghiệp kể trên, còn phần lớn là xưởngthủ công nhỏ.Khi chiến tranh thế giới bùng nổ, hàng hóa của Pháp sụt hẳn xuống. Sựkìm hãm nền công nghiệp bản xứ nhất thời giảm đi. Các nhà kinh doanh ViệtNam có điều kiện thuận lợi để làm ăn. Các xí nghiệp có từ trước chiến tranh mởrộng thêm phạm vi và quy mô sản xuất, đồng thời xuất hiện nhiều xí nghiệpmới.Nguyễn Hữu Thu, trước chiến tranh chỉ là chủ một hãng xe cao su nhỏ ởSài Gòn, nay đã có gần một chục tầu và sà lúp chở khách chạy dọc Bắc Kỳ,Trung Kỳ và chạy đường Hải Phòng – Hồng Kông, trọng tải tổng cộng lên tớihơn 1000 tấn. Công ty Bạch Thái Bưởi từ 3 tầu chở khách, nay đã có 25 tàutrọng tải 4049 tấn và một xưởng đủ sửa chữa và sản xuất thêm các loại phụ tùngdo đốc công Nguyễn Văn Phúc rất thạo nghề điều khiển. Phạm Văn Phi cùngvới Tống Viết Hán nhân những năm chiến tranh lập công ty xe hơi chở hàng,chở khách kiêm sản xuất phụ tùng máy và sửa chữa xe. Tới năm 1918, công tynày đã có xe chạy khắp các đường ở Bắc Kỳ và chạy vào Trung Kỳ đến ĐôngHà. Ở các ngành khác, cũng xuất hiện nhiều nhà kinh doanh người Việt, thí dụ:xưởng sơn của Nguyễn Sơn Hà lập năm 1917 ở Hải Phòng, chất lượng của sơnnày tốt ngang sơn nước ngoài, xưởng thủy tinh Chương Mỹ, xưởng máy chaiHải Phòng, công ty tơ tằm Đông Lợi ở Kiến An, công ty xà phòng Quảng HưngTrường THPT Chuyên Thái Bình242HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VILong ở Hà Nội, nhà in Lê Văn Phúc, tức Đông Kinh ấn quán, nhà in Ngô TửHạ, Mạc Đình Tứ, Nguyễn Ngọc Xuân, các nhà máy xay ở Mỹ Tho, Rạch Giá,Gò Công, nhà máy rượu Bạc Liêu, công ty in ở phía Tây Rạch Giá, xưởng sửachữa xà lúp ở Bạc Liêu…Tuy nhiên, nếu so sánh với bộ phận công nghiệp do người Pháp nắm thìsố xí nghiệp của người Việt chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ cả về vốn đầu tư cũngnhư về số lượng. Vả lại sự buông lỏng này của người Pháp chỉ mang tính chấtnhất thời. Một vài năm sau khi chiến tranh kiến thúc, những xí nghiệp này bịphá sản hàng loạt và công nghiệp Việt Nam lại rơi vào tình trạng bị bóp nghẹt.Mặc dù vậy, cho đến hết chiến tranh thế giới thứ nhất, ở Việt Nam cũng đã xuấthiện thành phần kinh tế tư sản dân tộc, thể hiện một trong những sự biến đổiquan trọng của xã hội Việt Nam lúc đó.Như vậy, nền công nghiệp ở Việt Nam đầu thế kỷ XX hình thành chủ yếuở hai ngành là khai mỏ và công nghiệp chế biến. Một số công nghiệp cơ khí vàluyện kim cũng xuất hiện dưới hình thức các công trường xây dựng đường sắtvà đóng tàu, các nhà máy điện và tàu điện, nhà máy in ở các thành phố lớn. Mộtnền công nghiệp thuộc địa đã ra đời và ngày càng mở rộng vai trò của mìnhtrong nền kinh tế Việt Nam.Tuy nhiên khách quan mà nói, công nghiệp thựcdân của Pháp ở Việt Nam đầu thế kỷ XX rất nhỏ bé, què quặt, thiếu toàn diện đãkìm hãm sự phát triển của kinh tế Việt Nam và phá hoại nghiêm trọng tàinguyên phong phú của nước ta..1.2.2. Kinh t ế thủ công nghiệpMặc dù bị chèn ép bằng nhiều thủ đoạn của tư bản Pháp, thủ công nghiệptruyền thống của nước ta vẫn duy trì và phát triển. Thợ thủ công truyền thốngViệt Nam vẫn năng động, sáng tạo, sớm tiếp thu khoa học kỹ thuật và phươngthức sản xuất phương Tây để áp dụng vào sản xuất, tạo ra những sản phẩm thủcông có chất lượng cao.Trước kia, tại các đô thị lớn, những nhà buôn nhỏ và những thợ thủ côngcũng đã tập hợp khá đông thành những phường, từng hội. Khi Pháp sang, chúngđộc chiếm thị trường, hàng hóa của chúng tràn ngập khắp nơi nên các nghề thủcông, nghề phụ của nhân dân ta đều bị phá sản. Nhà máy sợi thành lập thì khungcửi ở nông thôn nghỉ việc. Bông sợi ngoại quốc nhập vào thì nghề bông bị bópnghẹt. Tư bản Pháp nắm độc quyền nấu rượu làm cho bao nhiêu người ở nôngthôn sống về nghề này phải bỏ nghề. Dân làm muối ven biển bị điêu đứng vì bịbắt bán rẻ cho nhà nước. Tuy nhiên cũng có ngành vẫn phát triển do nhân dânlao động không có khả năng mua hàng ngoại, hoặc có ý thức dùng hàng nội, tẩychay hàng ngoại. Chẳng hạn làng La Khê (Hà Đông) nơi dệt lụa nổi tiếng ở BắcKỳ năm 1884 – 1885 mới có khoảng 50 khung dệt với khoảng 100 thợ, năm1918 đã lên tới 500 – 600 khung dệt với khoảng 1000 đến 1200 thợ. Nghề dệtthủ công phát triển vì công nghiệp tơ sợi của Pháp đã cung cấp sợi cho hàng vạnkhung dệt ở Nam Định. Chúng cũng thu mua kén tằm của nông dân khiến nghềtầm tang phát triển.Trường THPT Chuyên Thái Bình243HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VICác nghề thợ bạc, vàng, thợ chạm sừng, ngà, gỗ quý, thêu, sơn, dệt chiếu,các nghề mới du nhập như đăng ten, dệt thảm len, đều có cơ hội phát triển vì tưbản Pháp vơ vét để xuất khẩu.Trong những năm chiến tranh, các xưởng thủ công cũng được dịp mọclên rất nhiều, gọi là các “hiệu”, kinh doanh hầu hết các ngành thủ công dândụng như giày, lụa, chiếu cói, thêu ren, khảm…1.3. Kinh tế th ư ơng nghiệpTrong thời kỳ này, thương nghiệp là ngành phát đạt và có bộ mặt sầm uấtnhất.Về nội thương, chủ yếu là vận chuyển và khai thác luồng hàng hóa giữacác vùng trong nước, chủ yếu buôn hàng của Pháp nhập về.Về ngoại thương, thuộc địa Đông Dương phải đặc biệt dành riêng cho thịtrường Pháp. Những nhà kinh doanh thương mại ở đây lúc đầu vấp phải sự cạnhtranh của thương nhân Hoa kiều và Ấn kiều. Nhưng đến đầu thế kỷ XX, thựcdân Pháp đã kiểm soát được hầu hết các ngành xuất nhập khẩu ở Đông Dương,đưa cán cân ngoại thương tăng lên nhanh chóng.Thông qua hai đạo luật hải quan vào các năm 1887 và 1892, hàng hóa củaPháp đã dần dần chiếm lĩnh thị trường Việt Nam. Đầu thế kỷ XX, quan hệ buônbán của Việt Nam và Đông Dương với bên ngoài không ngừng mở rộng, thểhiện qua bảng sau đây:Bảng tình hình nhập khẩu hàng hóa đầu thế kỷ XXNămXuất khẩu( triệu Fr)Nhập khẩu(triệu Fr)1899 – 19131914 – 1918237307206219Tổng số(triệu Fr)433526[6,56]Theo các tài liệu thì từ 1900 đến 1906 là thời kỳ nhập siêu, nhằm đưa cáctrang thiết bị phục vụ công cuộc khai thác thuộc địa của Pháp ở Việt Nam vàĐông Dương. Còn từ năm 1906 trở đi, cán cân ngoại thương của Việt Nam luônluôn nghiêng về phía xuất khẩu (xuất siêu). Về sản lượng hàng xuất khẩu, NamKỳ đứng đầu, chủ yếu là các sản phẩm nông nghiệp. Hàng xuất khẩu ở Bắc Kỳchủ yếu là than đá và các khoáng sản kim loại.Trong những năm đầu thế kỷ XX, gạo vẫn đứng đầu trong các mặt hàngxuất khẩu.Bảng cơ cấu hàng hóa xuất khẩu từ Đông Dương trong thời kỳ 1903 – 1917STTTên hàng hóaTỷ lệ %1Gạo và các sản phẩm từ gạo65,32Ngô2,9Trường THPT Chuyên Thái Bình244HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI3Cao su0,84Than2,15Cá khô3.76Hạt tiêu1,07Da thô1,2[6,57]Giá trị hàng hóa nhập khẩu tăng gần gấp hai lần trong vòng 13 năm từ1901 đến 1914. Hàng nhập khẩu vào Đông Dương chủ yếu là vải sợi, các đồsinh hoạt và thực phẩm.Vào thời kỳ trước và trong Đại chiến thế giới I, bạn hàng của Việt Namvà Đông Dương trước hết và chủ yếu là các nước ở Viễn Đông. Trong đó,Trung Quốc và Hồng Kông là hai nước tiêu thụ gạo chính của Việt Nam. Đổilại, Việt Nam nhập khẩu một khối lượng bông vải của Trung Quốc, qua đườngsắt Vân Nam. Ngoài hai nước nói trên, Việt Nam còn buôn bán với Nhật Bản,Philipin, Inđônêxia cũng như cả Mỹ và một số nước châu Âu.Đối với Pháp, quan hệ buôn bán, trao đổi hàng hóa không ngừng tăng lên.Trong những năm 1911 – 1920, tỷ lệ hàng hóa nhập khẩu của Pháp chiếm29,6% tổng hàng nhập của Đông Dương. Trong các mặt hàng xuất khẩu củaĐông Dương vào Pháp, gạo đứng vị trí hàng đầu. Trong thời kỳ 1909 – 1913,hàng năm Đông Dương, chủ yếu là Việt Nam xuất khẩu sang Pháp 250.000 tấngạo. Mặc dù khối lượng này chỉ bằng 1/4 sản lượng gạo của Đông Dương,nhưng cũng đã đáp ứng phần lớn nhu cầu của Pháp về gạo. Trong cơ cấu hànghóa Đông Dương xuất khẩu sang Pháp, sau gạo là đến cao su, ngô, hạt tiêu, chè.Riêng sản lượng chè Đông Dương xuất khẩu sang Pháp đạt trung bình 114 tấntrong những năm 1908 – 1912.Hầu hết các hoạt động buôn bán lớn đều do các Công ty Pháp đảm nhiệmnhư hãng Denis Frères, hãng Boy Landry, Poinsart Veyret, Decours Cabaus, vànhất là Liên đoàn thương mại Đông Dương và Châu Phi (L.U.C.I.A).Bằng độc quyền thương mại, tư bản Pháp đã đưa hàng hóa nhất là hàngtiêu dùng tràn vào nước ta, làm ngừng trệ, thậm chí phá sản nhiều nghề thủ côngtruyền thống. Mặt khác, nhiều mặt hàng mỹ nghệ có giá trị xuất khẩu như sơnmài, thêu ren, đăng ten, khảm trạm…lại bị tư bản Pháp và Hoa kiều đứng ra thumua với giá rẻ để bán kiếm lợi nhuận cao.Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng, thông qua hoạt động buôn bán,cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế, tư bản Pháp đã góp phần mởmang nền thương mại Việt Nam, tạo nên một phương pháp kinh doanh mới,hiện đại với các hình thức mở công ty, giao thiệp ngân hàng, hình thành cácdạng công ty cổ phần, công tư hợp tư, công ty vô danh..1.4.Tài chính, ngân hàng.Trường THPT Chuyên Thái Bình245HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIĐể đẩy mạnh đầu tư và phát triển kinh tế, phục vụ cho công cuộc khaithác thuộc địa, Đume đã thiết lập và hình thành hệ thống ngân hàng thống nhất.21/1/1875, Tổng thống Pháp đã đặt sắc lệnh thành lập Ngân hàng Đông Dươngvà đặt trụ sở của nó ở Pari. Hội đồng quản trị gồm nhiều ngân hàng lớn củaPháp như Địa ốc ngân hàng, Ngân hàng chiết khấu quốc gia Pari… Chỉ bốntháng sau khi thành lập, chi nhánh đầu tiên của Ngân hàng Đông Dương đượckhai trương ở Sài Gòn (19/4/1875). Tiếp theo đó, Ngân hàng Đông Dương bắtđầu thiết lập chi nhánh ở các tỉnh Hải Phòng (1885), Hà Nội (1886), Đà Nẵng(1891), rồi lần lượt các tỉnh khác như Nam Định, Vinh, Quy Nhơn, Đà Lạt…Khi mới thành lập, Ngân hàng Đông Dương mới chỉ có số vốn là 8 triệuFrăng. Đến năm 1900 số vốn đó đã lên tới 24 triệu Frăng năm 1920 đạt 72 triệuFrăng, năm 1946 là 157,2 triệu Frăng [6,42].Ngân hàng Đông Dương có ba chức năng: phát hành giấy bạc, trao đổibuôn bán và đầu tư tài chính.Ngoài ngân hàng Đông Dương và các chi nhánh của nó, tại các địaphương trong nước, thực dân Pháp còn thành lập hệ thống tổ chức Nông phốngân hàng và các Quỹ tín dụng tương trợ để cho nông dân vay vốn, góp phầnthúc đẩy kinh tế nông nghiệp.Về tiền tệ, khi Pháp xâm lược thì ở Việt Nam đang lưu hành tiền đồng,tiền kẽm cũ và đến 1878 mới chính thức phát hành Đồng bạc Đông Dương bằnggiấy. Dưới đồng có 5 giác (hào), 2 giác, 1 giác và tiền xu bằng đồng gồm 5 xu,1 xu, nửa xu. Bên cạnh đồng bạc Đông Dương, Pháp còn sử dụng đồng bạc MễTây Cơ nặng 27,073gr, thành sắc 0,902 có hình con cò. Ngoài ra, trên thị trườngViệt Nam thời kỳ này còn lưu hành đồng tiển Tây Ban Nha (đồng Reean) vàđồng Đô la Mỹ (đồng Quỷ Đầu). Tình trạng hổ lốn này trong việc sử dụng tiềntệ ở Việt Nam đã kéo dài cho đến những năm cuối thế kỷ XIX. Cho đến năm1895, Pháp mới đưa sang lưu hành đồng bạc Đông Dương sản xuất tại Pari đồngthời thu hẹp sự lưu thông của đồng bạc Mêxicô. Ngày 16/5/1900, chính phủPháp cho phép ngân hàng Đông Dương phát hành số sao phiếu nhiều gấp 3 lầnsố chuẩn bị kim.Cùng với việc xây dựng các tổ chức ngân hàng, Pháp còn thực hiện mộtchế độ thuế khóa hết sức nặng nề và chặt chẽ trên phạm vi cả nước. Theo quyđịnh của chính quyền Pháp, thuế được chia thành hai loại: thuế trực thu (gồmthuế đinh và thuế điền) do chính quyền các xứ thu và thuế gián thu (gồm nhiềuloại thuế khác nhau như thuế đoan, thuế trước bạ, thuế động sản lợi tức, thuếmỏ, thuế tiêu thu..). Mọi thứ thuế cũ có từ thời phong kiến trước khi Pháp tới,đều tăng vọt cộng thêm rất nhiều thứ thuế mới do Pháp đặt ra. “Trên chiếc lưngcao su của người An Nam, nhà nước tha hồ kéo dài mức thuế co dãn” [2,115].Thuế thân, thuế đinh đánh vào người dân từ 18 đến 60 tuổi, theo Nghịđịnh ngày 2/6/1897 ở Bắc Kỳ và đạo dụ ngày 14/8/1898 ở Trung Kỳ, tăng vọt từ50 xu lên 2,50 đồng ở Bắc Kỳ và 30 xu lên 2,30 đồng ở Trung Kỳ, tương đươngvới giá 1 tạ gạo lúc bấy giờ. Người chết cũng không được miễn thuế, ngườiTrường THPT Chuyên Thái Bình246HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIsống phải đóng thay. Nhà nước thực dân buộc từng làng phải nộp đủ mức thuếđã ấn định.Thuế ruộng (thuế điền) trước kia mỗi mẫu phải đóng 1 đồng thì từ năm1897 hạng nhất là 1,50 đồng, hạng nhì 1,10 đồng, hạng ba 0,80 đồng, không kểcác khoản phụ thu ngày một tăng. Việc phân loại các hạng mục ruộng lại theohướng có lợi cho bọn thực dân và cường hào địa phương. Mức thuế tăng nhưngdiện tích định cho đơn vị mẫu để thu thuế lại giảm, một mẫu Việt Nam theo quyđịnh từ thời Tự Đức là 4970m vuông, đến năm 1897 ở Bắc Kỳ chính quyền thựcdân quy định mỗi mẫu chỉ là 3600m vuông, thuế ruộng đột nhiên lại tăng lên cónơi gấp 2,5 lần.Ngoài ra, thuế gián thu có rất nhiều loại do thực dân Pháp tùy tiện đặt ra,đặc biệt là ba loại thuế muối, thuế rượu và thuế thuốc phiện. Ba loại thuế này đãchiếm 70% các nguồn thu tài chính của Nhà nước [6,43].Năm 1900, tổng số thuế gián thu của Đông Dương là 13.500 đồng thìriêng thuế muối, thuế thuốc phiện đã chiếm 11.050.000 đồng. Về rượu, mỗi nămCông ty Phoongten lãi khoảng 2 triệu Frăng, trong khi vốn của chúng bỏ ra banđầu chỉ có 3,5 triệu Frăng. Ở nước Pháp, nếu có một phòng hút thuốc phiện bịkhám xét, bỏ tù vì tội làm yếu chủng tộc Pháp. Ở Việt Nam thời đó, thuốc phiệnđược bán công khai, đem lại hàng năm 15 triệu Frăng tiền lãi cho Công ty thuốcphiện độc quyền Pháp. Khắp đất nước, hầu như chỗ nào cũng có đại lý Rươu,đại lý thuốc phiện mang tên “R.A” hoặc “R.O”, có lá cờ ba sắc của nước Pháptreo trước cửa. Cứ 1000 làng thì có đến 1500 đại lý rượu và thuốc phiên, Từnăm 1900 đến 1910, nhà nước thực dân thu được 77 triệu Frăng tiền lãi bánthuốc phiện [2;116].Ngoài ra còn có các tiệm hút, tiệm rượu và sòng bạc. Trước khi Phápchiếm, nhân dân Việt Nam phải nộp cho triều đình thuế mỗi năm khoảng 30triệu Frăng, đến thời Đume mỗi năm lên tới 90 triệu Frăng. [2,116]Dựa trên sự thống nhất về chế độ thuế khóa, với sự điều tiết của ngânhàng, thực dân Pháp đã có những quy định thu chi ngân sách cho từng xứ. Sovới Trung Kỳ, Bắc Kỳ và Nam Kỳ luôn có mức thu tài chính cao hơn cả.Bảng tình hình thu thuế các xứ ở Đông Dương (1899 – 1918)(đơn vị tính %)TổngThời kỳNam KỳBắc Kỳ Trung Kỳ Cao MiênLàosố1899 –10033321616319031904 –10031341716219081909 –10029361617219131914 – 1918 100263516202[6,43]Trường THPT Chuyên Thái Bình247HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VITất nhiên, trong một chừng mực nhất định, tỷ lệ thu nhập từ thuế khóanói trên đã phản ánh khối lượng và vốn đầu tư của Pháp và trình độ phát triểnkinh tế khác nhau giữa các khu vực trong toàn xứ Đông Dương vào thời kỳ này.1.5. Giao thông vận tảiSo với cuối thế kỷ XIX, hệ thống giao thông vận tải ở Việt Nam đầu thếkỷ XX có bước phát triển vượt bậc. Nhiều tuyến giao thông mới được đưa vàoxây dựng và khai thác, góp phần tạo nên một mạng lưới giao thông đồng bộ,hiện đại và hết sức tiện lợi so với trước kia.Việc mở mang giao thông vận tải là một việc đã được giới tư bản Phápcoi là một phương tiện vô cùng cần thiết cho việc vơ vét tài nguyên của ViệtNam. Đó cũng là một phương tiện để chúng nhanh chóng đưa quân đội tớinhững nơi cần thiết nhằm đàn áp các cuộc khởi nghĩa của quần chúng nhân dân.Việc mở mang giao thông vận tải còn giúp cho tư bản kỹ nghệ Pháp bán đượcnhiều thiết bị vận tải với giá cao, kể cả những thứ hàng tồn của chúng, tránhđược ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế trong những năm 1900 -1903,trong khi nhiều ngành công nghiệp ở Châu Âu, nhất là ngành luyện kim, bị thiệthại nặng.Với những tuyến đường sắt ngày càng kéo dài, và với những chiếc cầubắc qua những con sông lớn, thực dân Pháp hy vọng uy hiếp được tinh thần củanhân dan Việt Nam bằng kỹ thuật và máy móc: “Phải làm cho họ (người ViệtNam) thấy rằng, trên hành động, chúng ta thực sự là một giống người cao đẳngvà “những con quỷ lửa” của chúng ta trên đường sắt nhanh như chớp, thực sự lànguồn gốc của sự giàu có và thịnh vượng” [1, 97].1.5.1.Đường sắtĐây là hệ thống đường giao thông hiện đại, lần đầu tiên xuất hiện ở ViệtNam từ cuối thế kỷ XIX. Hai tuyến đường được khởi công xây dựng sớm nhấtlà tuyến Sài Gòn – Mỹ Tho và Hà Nội – Đồng Đăng.Tuyến Sài Gòn – Mỹ Tho chính thức được khởi công xây dựng từ 1881và hoàn thành vào năm 1883. Tuyến đường này dài 71km, rộng 1m, chi phí hết11 triệu Frăng.Đến năm 1890, trong điều kiện phải lo đối phó với phong trào khởi nghĩacủa nhân dân Việt Nam tại nhiều địa phương, thực dân Pháp vẫn cho xây dựngtuyến đường sắt đầu tiên trên đất Bắc Kỳ: tuyến Hà Nội – Đồng Đăng. Tuyếnnày chính thức đưa vào chạy tàu vào năm 1902, dài 163 km. Tổng chi phí hết 41triệu Frăng, trung bình 1km tốn 245.000 Frăng [6,44].Cho đến cuối cuộc chiến tranh thế giới I (1914 – 1918), tống số chiều dàiđường sắt được xây dựng là 1300km, gồm các tuyến sau đây:-Tuyến Hà Nội – Hải Phòng, khởi công xây dựng vào năm 1901, hoànthành năm 1902, dài 102km, tốn phí 20 triệu Frăng.-Tuyến Hà Nội – Lào Cai bắt đầu khởi công từ 1901 nhưng phải trải quaba giai đoạn xây dựng mới hoàn thành. Đoạn từ Hà Nội – Việt Trì làm từ 1901– 1903, Việt Trì – Yên Bái (từ 1903 – 1904) và Yên Bái – Lào Cai (từ nămTrường THPT Chuyên Thái Bình248HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI1904 – 1906). Toàn tuyến đường này dài 296km, chi phí hết 56 triệu Frăng,trung bình hết 200000Fr/km.-Tuyến Hà Nội – Sài Gòn là tuyến đường sắt dài nhất ở Việt Nam vàĐông Dương. Thời gian xây dựng tuyến đường xuyên Việt này phải qua nhiềugiai đoạn, kéo dài 36 năm mới hoàn thành. Trong thời kỳ từ đầu thế kỷ XX đếnchiến tranh thế giới thứ nhất mới xây dựng được 906km, với 3 đoạn đường sau:+ Đoạn Hà Nội – Vinh, khởi công và hoàn thành trong những năm1900 – 1905, dài 312km, tốn phí 43 triệu Fr.+Đoạn Đông Hà – Đà Nẵng, xây dựng trong những năm 1902 – 1908,dài 171km, chi phí hết 21 triệu Fr.+ Đoạn Nha Trang – Sài Gòn hoàn thành xây dựng trong thời kỷ 1901– 1913, tốn phí 69 triệu Frăng.Có thể nói, phần lớn chiều dài đường sắt, bao gồm các tuyến chính đều đãđược xây dựng vào 15 năm đầu của thế kỷ XX. Với hệ thống đường sắt đó, thựcdân Pháp cũng thu được nhiều lợi lớn. Thực lãi thu được năm 1912 chỉ riêngtuyến đường Hải Phòng – Vân Nam là 2.140.561 Frăng, đường Sài Gòn – MỹTho là 573.035 Frăng[1,97]. Đó là thực chất của cái mà chúng khoe khoang là“khai hóa văn minh” cho thuộc địa như Lênin đã từng lên án khi nói về chủnghĩa đế quốc: “Việc xây dựng con đường sắt tưởng chừng như một doanhnghiệp bình thường, tự nhiên, dân chủ, có tính chất khai hóa…Sự thật, nhữngmối liên hệ tư bản chủ nghĩa ràng buộc những doanh nghiệp ấy bằng muônnghìn chiếc lưới, với chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất nói chung, đã biến côngtrình ấy thành một công cụ áp bức một tỷ người (ở thuộc địa và nửa thuộc địa),nghĩa là hơn một nửa dân số thế giới trong các nước phụ thuộc, và những nô lệlàm thuê cho tư bản trong các nước “văn minh” [1,97].Tuy nhiên, ở một khía cạnh, sự xuất hiện của hệ thống đường sắt là mộtnét mới, một bước tiến trong quá trình hiện đại hóa và hoàn chỉnh mạng lướigiao thông Việt Nam.1.5.2.Đường bộCùng với đường sắt, hệ thống đường bộ, nhất là những tuyến đườnghuyết mạch xuyên Việt đã được gấp rút đầu tư xây dựng. Trong thời kỳ này,một số tuyến đường liên tỉnh cũng được hoàn thành, như tuyến Hà Nội – CaoBằng, Việt Trì – Tuyên Quang, Vinh – Sầm Nưa, Sài Gòn – Tây Ninh… Đếntrước chiến tranh thế giới thứ nhất, tổng số chiều dài đường bộ đã xây dựngđược là 20000km, và 14.000km đường dây điện thoại.Để phối hợp và tạo điều kiện thuận lợi cho các tuyến đường bộ và đườngsắt hoạt động, hàng trăm cây số cầu kiên cố (dài từ 100m trở lên) cũng đã đượcxây dựng. Tiêu biểu như các cầu Đò Lèn (160m), cầu Hàm Rồng 200m (ThanhHóa), cầu Ròn 300m (Quảng Bình), cầu Thạch Hãn 274m (Quảng Trị), cầuRằng 365m (Tuy Hòa – Phú Yên), cầu Bến Lức 550m (Long An), cầu Tân An133m (Long An). Đặc biệt chú ý là hai chiếc cầu có quy mô lớn nhất được xâydựng vào thời kỳ này là cầu Tràng Tiền (Huế), xây dựng năm 1901, và cầuTrường THPT Chuyên Thái Bình249HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VILong Biên (Hà Nội) hoàn thành vào năm 1902. Cầu Long Biên được chính thứckhởi công từ năm 1899 và hoàn thành xây dựng trong 3 năm, tốn phí 6 triệuFrăng. Cầu này lúc đó có tên là cầu P.Đume (tên của Toàn quyền Đông Dươnglúc đó) dài 2500m. Từ lúc đưa vào sử dụng năm 1922, cầu chủ có đường sắtchạy qua. Mãi đến năm 1924 mới cho làm thêm hai đường bên cạnh cho ngườivà xe thô sơ đi lại.Trong điều kiện kinh tế xã hội đầu thế kỷ XX, sự xuất hiện của hàng trămcây cầu bằng thép, xi măng ở các nơi, nhất là cầu Long Biên ở Hà Nội là một cốgắng lớn, thể hiện trình độ kỹ thuật của người phương Tây trên đất nước ta.1.5.3.Đường thủyVào đầu thế kỷ XX, hệ thống đường thủy (đường ven biển và đườngsông) cũng được chú trọng khai thông mở rộng với nhiều phương tiện vận tảimới như canô, tàu thủy chạy bằng hơi nước. Tuy nhiên, do công tác nạo vét,chỉnh dòng nên tàu thủy và xà lan lớn chỉ chạy được trên những con sông sâu vàtương đối rộng như sông Hồng, sông Đà, sông Đáy, sông Đuống ở Bắc Kỳ,sông Mã, sông Cả, sông Lam, sông Hương ở Trung Kỳ; sông Đồng Nai, sôngSài Gòn, sông Vàm Cỏ, sông Tiền Giang, sông Hậu Giang ở Nam Kỳ. Trên lãnhthổ miền Trung, do phần lớn các sông đều ngắn nên đường thủy không pháttriển bằng miền Bắc và miền Nam.Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại trên đất Nam Bộ, thực dân Phápđã cho đào thêm hàng ngàn km kênh rạch, đưa tổng số kênh đào ở miền Nam từ2500km dưới triều Nguyễn đến 5000km thời Pháp thuộc, trong đó có nhiềukênh rộng từ 18 đến 60m [6,48].Cũng từ đầu thế kỷ XX, thực dân Pháp đã đầu tư 8,2 triệu Frăng, để mởrộng các cảng cũ và xây dựng thêm các cảng mới, nhất là cảng Hải Phòng, ĐàNẵng, Cam Ranh, Sài Gòn. Cảng Sài Gòn được trang bị thêm nhiều máy móchiện đại, trờ thành một thương cảng lớn nhất Đông Dương, thu hút nhiều tàu bècủa Pháp và các nước khác.Hải Phòng là hải cảng đứng vị trí thứ hai về vận tải đường dài. Năm1872, đây chỉ là một làng chài nhỏ. Khi Pháp xâm lược Bắc Kỳ, cảng này trởthành một căn cứ tiếp tế cho đội quân viễn chinh. Mặc dù có những nhược điểm(khó vào, bảo dưỡng đắt, dễ bị lấp bùn) Hải Phòng vẫn là cảng lớn nhất Bắc Kỳ.Đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động vận tải tàu thủy ở Việt Namđầu thế kỷ XX là Công ty Pháp Les Chargurs Réunis. Nhưng từ khi chiến tranhthế giới I nổ ra, việc đi lại của các tàu thuyền Pháp gặp nhiều khó khăn. Nắmlấy cơ hội đó, một số tư sản Việt Nam đã tăng cường đầu tư mở rộng tuyến giaothông thủy. Tiêu biểu cho lớp tư sản đó là Nguyễn Hữu Thu và Bạch Thái Bưởi.Nguyễn Hữu Thu vốn là chủ một hãng xe tay nhỏ ở Sài Gòn, đã sắm sửađược gần một chục tàu lớn nhỏ, chở khách đi khắp các đường biển ở Sài Gòn –Đà Nẵng – Hải Phòng – Nam Định, thậm chí còn có tàu chạy sang tận Bắc Hải,Hồng Kông.Trường THPT Chuyên Thái Bình250HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIBạch Thái Bưởi là một nhà tư sản lớn, đã kinh doanh nhiều nhà khácnhau như làm thầu khoán, chủ hiệu cầm đồ nhưng lĩnh vực hoạt động có hiệuquả và thành công nhất là trong ngành kinh doanh vận tải đường thủy. Công tyGiang hải luân thuyền Bạch Thái của ông là hãng vận tải biển lớn nhất ViệtNam, nắm trong tay 30 tàu lớn nhỏ, chuyên chở hành khách và hàng hóa đikhắp các tuyến Hải Phòng – Sài Gòn, Hương Cảng, Hồng Kông. Trong hãngvận tải của ông thường có khoảng 1500 công nhân làm việc. Ngoài ra ông còntuyển công nhân để khai thác mỏ than ở Bí Chợ (Quảng Yên)Trong khi hệ thống đường giao thông huyết mạch, các tuyến đường thuộcđịa (quốc lộ) và đường hàng xứ (liên tỉnh) không ngừng được mở rộng và củngcố thì trái lại, mạng lưới đường liên huyện, liên xã và thôn vẫn chưa có chuyểnbiến gì đáng kể. Điều đó đã khiến cho tình hình nông nghiệp và xã hội nôngthôn tiếp tục trì trệ kéo dài.1.6. Những hệ quả về kinh tếChính sách khai thác của Pháp đầu thế kỷ XX đã làm cho nền kinh tế ViệtNam phụ thuộc hoàn toàn vào kinh tế chính quốc Pháp. Việt Nam thực sự trởthành thị trường tiêu thụ và là nơi bổ sung nguyên liệu cho công nghiệp Pháp.Bộ phận kinh tế thực dân mang nặng tính chất thương mại và độc quyền khôngnhững không giúp ích gì cho sự phát triển kinh tế ở nước ta mà còn làm cho nềnkinh tế nước ta kiệt quệ, phá hủy nghiêm trọng tài nguyên nước ta. Kinh tế tưsản dân tộc cũng mang nặng tính chất thương mại, lại phụ thuộc chặt chẽ vàokinh tế Pháp nên không có sức đột phá mạnh để giải phóng lực lượng sản xuất.Kinh tế nông nghiệp tuy bị lôi cuốn vào kinh tế hàng hóa bởi việc xuất cảng gạonhưng không có điều kiện tích lũy vì nông dân phải đóng thuế quá nặng nề nênvẫn còn ở nguyên tình trạng lạc hậu. Quan hệ sản xuất và bóc lột phong kiếncòn tồn tại nguyên vẹn. Nền kinh tế phụ thuộc, què quặt, phiến diện ấy đượcphản ánh khá rõ trong cuộc sống quá khổ cực của nhân dân ta. Becna, tác giảcuốn “Đông Dương, sai lầm và nguy hiểm” xuất bản năm 1901 đã viết rằng: “Aiđã qua xứ Đông Dương đều sửng sốt về sự khốn cùng tột độ của dân chúng.Hầu hết nhà ở đều là những túp lều gỗ vách đất, lợp lá…..và những mảnh giấyvàng, đỏ viết chữ nho, lay lắt trên tường, vài vật trang trí bằng gỗ, đôi khi bằngđồng bày biện trên bàn thờ là dấu tích của một sự trù phú đã mất” [3,29].Chính sách khai thác thuộc địa Việt Nam của thực dân Pháp rõ ràng là mộtchính sách cướp bóc trắng trợn của chủ nghĩa đế quốc bằng phương pháp bóclột tư bản chủ nghĩa kết hợp chặt chẽ với các hình thức bóc lột dã man thờitrung cổ tạo thành một nền kinh tế thuộc địa nửa phong kiến điển hình.Tuy nhiên ở một khía cạnh nào đó có thể khẳng định rằng, đầu thế kỷ XXvới sự ra đời và phát triển của một loạt các nhân tố kinh tế mới, tư bản chủnghĩa, các ngành và các thành phần kinh tế có sự thay đổi theo hướng mới, tiếnbộ.Nền kinh tế nông nghiệp không còn giữ vị trí độc tôn như trước nữa màđã bắt đầu có sự biến đổi. Quyền tư hữu và mua bán ruộng đất được công nhậnTrường THPT Chuyên Thái Bình251HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIvà một loạt các thay đổi khác đã tạo điều kiện thúc đẩy quá trình tư hữu hóaruộng đất và tập trung ruộng đất. Bắt đầu xuất hiện những đại địa chủ với hàngtrăm hecta ruộng đất trong tay, các hộ nông dân đã trở thành các gia đình tiểunông, các làng xã chuyển biến mạnh mẽ hơn thành các làng tiểu nông tư hữu.Trong một số vùng nông thôn, bên cạnh những mảnh ruộng con manh mún đãxuất hiện những đồn điền rộng lớn thẳng cánh cò bay. Và bên cạnh cây lúa đãxuất hiện cây chè, cây cà phê, cao su, thầu dầu, đậu, lạc…Sản xuất nông nghiệpkhông còn bị đóng kín, dừng lại ở việc cung cấp lương thực cho cộng đồng màlần đầu tiên lương thực trở thành hàng hóa và là mặt hàng xuất khẩu quan trọng,chủ yếu. Lượng gạo và nông sản xuất khẩu ngày càng tăng. Kinh tế nôngnghiệp, nhất là ở Nam Bộ, bắt đầu bị thu hút ngày càng mạnh vào guồng máysản xuất hàng hóa. Đây là một bước chuyển quan trọng, hướng nông nghiệp vàonền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa.Thủ công nghiệp sau một thời gian chững lại trước sức ép của hàng hóaPháp giờ lại phát triển mạnh mẽ hơn, đã có một số ngành tách ra khỏi nôngnghiệp để trở thành ngành sản xuất hàng hóa phục vụ nhu cầu tiêu dùng nội địacủa nhân dân lao động và gần một bộ phận quan trọng để xuất khẩu.Ngành thương nghiệp có những bước tiến nhanh chóng hơn bao giờ hết,nhất là ngoại thương, tạo điều kiện thúc đẩy toàn bộ nền sản xuất phát triển vàbắt đầu đưa Việt Nam hòa nhập vào thị trường thế giới.Nền công nghiệp hiện đại đã thực sự ra đời, và bắt đầu có sự lớn mạnh ởmột số ngành nhất định, chủ yếu là các ngành xây dựng cơ sở hạ tậng phục vụcho công cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, ngành khai mỏ, chế biếnnông sản xuất khẩu và sản xuất hàng tiêu dùng.Trên cơ sở những cơ cấu kinh tế mới trên đây, các giai tầng xã hội mới vànhững quan hệ sản xuất mới cũng xuất hiện và ngày càng mở rộng.2. Những chuyển biến về xã hộiSự chuyển biến của nền kinh tế và tình hình chính trị thời kỷ này đã tácđộng một cách trực tiếp đến xã hội Việt Nam, làm xuất hiện các giai tầng mới.Về dân số, tính đến năm 1913, cả nước có 14.165.000 người trong đó BắcKỳ là 6.000.000 người, Trung Kỳ là 5.000.000 người, Nam Kỳ gồm có3.165.000 người. Trong vòng 33 năm, dân số Việt Nam tăng 3.365.000 người.Trên toàn lãnh thổ Đông Dương, có 16.400.000 người, số người Pháp là 23.700người [6,66].Dân Pháp chủ yếu sống ở Việt Nam, nhất là các đô thị lớn như HàNội, Hải Phòng, Sài Gòn – Chợ Lớn, trong đó phần đông là binh lính, cảnh sát,công chức.2.1. Những giai cấp cũ bị phân hóa2.1.1.Địa chủĐược thực dân Pháp giúp đỡ, ưu thế về kinh tế và chính trị của địa chủViệt Nam tăng lên. Một số người kinh doanh công thương nghiệp xuất thân từđịa chủ vẫn cố giữ lất một phần ruộng đất để phát canh thu tô. Một số ít khác, đềphòng công việc kinh doanh bấp bênh, cũng mua một số ít ruộng đất cho phátTrường THPT Chuyên Thái Bình252HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIcanh thu tô. Như vậy, ngoài địa chủ Pháp, địa chủ Nhà thờ, địa chủ quan lại, địachủ thường còn có các địa chủ kiêm công thương. Địa chủ phong kiến ViệtNam phát triển hơn trước và trở thành chỗ dựa vững chắc cho thực dân Pháptrong công cuộc khai thác thuộc địa và duy trì trật tự xã hội có lợi cho chúng.Trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, bên cạnh sự tồn tại của một bộphận địa chủ còn xuất hiện một tầng lớp mới. Đó là tầng lớp phú nông – một đạidiện cho thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa ở nông thôn. Lực lượng này cótiền đề và phôi thai từ cuối thế kỷ XIX và bắt đầu phát triển thành một tầng lớpxã hội nhỏ vào đầu thế kỷ XX. Họ khấm khá lên nhờ việc buôn bán và cho vaylãi, rồi mua ruộng đất và thuê mướn nhân công canh tác để kiếm lời. Mặc dùtiềm lực kinh tế chưa lớn, song phú nông cũng là một thế lực đáng kể trongnông thôn.2.1.2. Nông dân và thợ thủ công2.1.2.1.Nông dânNông thôn Việt Nam đầu thế kỷ XX, từ sự điêu tàn sau chiến tranh xâmlược và bình định của thực dân Pháp, đã chuyển sang thời kỳ bọn thực dân cholà “ổn định và phát triển” nhưng chính là thời kỳ đau khổ mới đối với nhân dânlao động Việt Nam.Đau khổ ấy bắt đầu từ nạn cướp đoạt ruộng đất do bọn thực dân phongkiến gây nên từ cuối thế kỷ XIX, nay càng trầm trọng. Đume sang, nạn chiếmhữu ruộng đất diễn ra một cách khủng khiếp trong toàn quốc. Từ điều ước năm1884 đến tháng 10 năm 1897 của triều đình Huế nhượng cho bọn thực dânquyền khai thác đất hoang, đến nghị định 1/5/1900 phủ nhận quyền sở hữuruộng đất trong luật pháp phong kiến càng giúp cho tư bản Pháp và bè lũ tay sai,trắng trợn cướp đoạt ruộng đất của nông dân trên quy mô lớn. Không chỉ bọnđịa chủ thực dân cướp đất mà cả bọn tay sai phong kiến “có công” giúp thựcdân Pháp đánh chiếm Việt Nam, đàn áp các cuộc khởi nghĩa của nông dân, cũngđược phân thêm ruộng đất như tri huyện Lê Quang Quyền ở Bà Rịa, tri huyệnĐoàn Tiên Sanh ở Tây Ninh, đốc phủ sứ Trần Bá Lộc ở Cái Bè, ở Nam Kỳ vànhững tên đại Việt gian như Hoàng Cao Khải, Lê Hoan, Nguyễn Thân ở Bắc vàTrung Kỳ…Nạn cướp đoạt ruộng đất không phải chỉ diễn ra một lần mà liên tiếp songsong với sự bần cùng hóa người nông dân. Thêm vào đó, nạn sưu thuế ngày mộtnặng, nạn cho vay lãi và cầm cố vẫn duy trì càng làm cho nông dân xơ xác, cuốicùng còn mảnh đất, mảnh vườn nào cũng bị tước đoạt. Thực dân Pháp lại khôngchú ý đến việc đắp và bảo vệ đê điều, nạn vỡ đê, lụt lội xảy ra liên miên vàonhững năm 1904, 1911, 1913. Trong hoàn cảnh đó, đời sống nông dân ngày mộtđiêu đứng.Thực dân Pháp sau khi chiếm ruộng đất của nông dân để lập đồn điềnnông nghiệp vẫn áp dụng chế độ bóc lột phong kiến cũ phát canh thu tô đối vớicác tá điền, giống hệt các địa chủ Việt vì chúng nhận thấy đó là cách làm ăn đỡTrường THPT Chuyên Thái Bình253HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VItốn kém, chắc ăn và nhiều lời nhất. Đây cũng là một nguyên nhân khiến nôngdân khốn cùng, điêu đứng.Như vậy, có thể thấy, sưu thuế, phu phen, tạp dịch, cũng như bão lũ, hạnhán liên tiếp xảy ra đều là một trong những nguyên nhân làm cho người nôngdân mất ruộng và bần cùng hóa trên một quy mô lớn: “Lợi dụng lúc mất mùa,nhà Chung cho nông dân vay tiền và bắt họ cầm ruộng. Tiền lãi quá cao làmcho nông dân không sao trả hết nợ, nên buộc phải bán đứt số ruộng đã cầmtrước cho nhà Chung” [1,106]. Chế độ ruộng công cũng bị bọn địa chủ cườnghào lũng đoạn. Chúng tranh phần ruộng tốt, gian lận công điền cho con em hoặctay chân của chúng, gạt những người cùng đinh không có thế lực ra ngoài.Trong số nông dân phá sản, một số đã bỏ làng ra thành thị hay các trungtâm kinh tế của tư bản Pháp kiếm ăn. Nhưng một số không nhỏ ở lại nông thônbiến thành những bần cố nông, mảnh đất cắm rùi không có, sẵn sàng bán sứclao động của họ với những điều kiện rẻ mạt.2.1.2.2.Thợ thủ côngThợ thủ công cũng bị chính sách độc chiếm thị trường của thực dân Phápbóp nghẹt. Trừ một số nghề mỹ nghệ ở các đô thị có điều kiện phát triển, nóichung các nghề thủ công và nghề phụ nông thôn đều bị đình trệ. Trước mắt, họcòn lại mấy con đường: ở lại làm tá điền cho bọn ăn cướp đất, hay ra thành phố,các khu công nghiệp, vùng mỏ làm thuê, nếu cùng đường đành vào làm côngtrong các đồn điềnCuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp càng đẩy mạnh bao nhiêu thìquá trình bần cùng hóa và phá sản của nông dân và thợ thủ công ở nông thôncàng mạnh mẽ và nhanh chóng bấy nhiêu.2.2. Những giai cấp, tầng lớp mới ra đời2.2.1.Giai cấp công nhânCông thương nghiệp phát triển đã dẫn đén sự nảy sinh lớp người làm thuêăn lương, trong số họ có một số đã trở thành những người vô sản công nghiệphiện đại. Khác với phương Tây, công nhân Việt Nam chủ yếu xuất thân từnhững nông dân còn gắn bó nhiều với ruộng đất. Họ trở thành công nhân bằngnhiều con đường khác nhau.Một số bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất phải tự mò đến hầm mỏ, xínghiệp kiếm công việc làm, hoặc thông qua bọn cai thầu mộ phu mới có việclàm. Một số khác là ‘công nhân theo mùa”. Họ tranh thủ tháng ba ngày tám rahầm mỏ làm thuê kiếm thêm ít đồng lương để bổ sung cho thu hoạch nôngnghiệp vốn rất thấp kém. Số khác là những “phu” hay những công nhân bịcưỡng bức, số người này thực dân cấu kết với phong kiến bắt các làng xã phảigiao đủ số quy định để làm đường sắt, đường bộ, công sở… có cả một số “tùnhân” cũng bị đẩy đi làm.Suốt thời kỳ từ năm 1897 đến chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ(1914), những công trình lớn như đặt đường xe lửa, vét sông, đào kênh, làmđường, bắc cầu đã được tiến hành khắp Bắc – Trung – Nam, huy động một sốTrường THPT Chuyên Thái Bình254HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIcông nhân khá đông. Đồng thời, một số lớn các ngành công nghiêp của tư bảnPháp cũng được phát triển, như nhà máy xay, rượu, xà phòng, diêm, dệt, giấy…còn có những xưởng sửa chữa ô tô, đóng tàu, sửa chữa xe lửa, làm cầu cống,xưởng làm và chữa vũ khí cũng nối tiếp nhau được thành lập và hoạt động vàothời kỳ này. Đặc biệt nhất là ngành khai mỏ, số mỏ khai thêm từ 1910 trở đingày càng nhiều ở khắp nơi và đủ loại:Bảng số công nhân khai mỏ (1904 – 1914)(đơn vị : người)NămSố công nhânNămSố công nhân1904400019121200019089000191415000.191016000[2,124]Nhà nhà máy dệt ở Hà Nội, Nam Định và Hải Phòng năm 1910 đã có1800 công nhân. Nhà máy xi măng Hải Phòng có 1500 công nhân. Bốn nhà máyrượu lớn của Pháp ở Hà Nội, Nam Định, Hải Dương, Chợ Lớn có 1200 côngnhân. Nhà máy Ba Son, Sài Gòn có tới trên 1000 công nhân. Các nhà máy gạo ởSài Gòn, Chợ Lớn có 3000 công nhân. Các đồn điền trồng cà phê, chè, cao su,tuy mới ở thời kỳ thí nghiệm nhưng đã có một số lượng công nhân đáng kể.Như vậy, những lớp công nhân này đã có những nét chung cơ bản, trướchết là tính tập trung ngày càng mạnh trong quá trình phát triển về số lượng.Năm 1906, số công nhân thường xuyên làm việc trong 200 xí nghiệp củatư bản Pháp ở Đông Dương là 55000 người [2,124]. Họ là cốt lõi đầu tiên củagiai cấp công nhân công nghiệp Việt Nam, trong đó đã có một số đạt trình độchuyên môn nhất định, biểu hiện rõ tính chất của giai cấp vô sản công nghiệphiện đại. Năm 1906, ở Nam Kỳ có 25000 công nhân, trong đó có 900 công nhânchuyên môn. Ở Trung Kỳ có 4500 công nhân, trong đó có 100 công nhânchuyên môn. Ở Bắc Kỳ có 20000 công nhân, trong đó có 800 công nhân chuyênmôn [2,124].Còn tổng số các nhà máy, xí nghiệp trong toàn quốc, năm 1906 là 200nhà máy với tổng công suất 26000 mã lực, riêng Bắc Kỳ đã có 85 nhà máy. Sốlượng công nhân ngày một tăng, năm 1909 tổng số công nhân toàn quốc đã lêntới 55000 người. Riêng công nhân của Bắc Kỳ năm 1908 là 15308, năm 1912 là17050 người [2,124].Nói chung mức độ tập trung ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ cao, còn Nam Kỳ tuytổng số công nhân nhiều hơn, nhưng cũng phân tán hơn. Tuy có tập trung,nhưng cũng chỉ diễn ra trong công nhân công nghiệp. Đối với công nhân nôngnghiệp, đây mới chỉ là bước đầu, vị trí các đồn điền nông nghiệp so với cácngành khác vẫn còn kém, cà phê, chè, cao su chỉ mới bước đầu được xuất khẩu.Các đồn điền kinh doanh theo lối tư bản chủ nghĩa còn gặp nhiều khó khăn, vìthiếu nhân công. Năm 1909, Pháp mới chỉ bắt được 90 gia đình với 328 ngườitừ Thái Bình vào Nam. Một số đồn điền vì vậy phải bỏ dở hay chỉ khai thác cầmTrường THPT Chuyên Thái Bình255HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIchừng. Dù vậy, đến đầu thế kỷ XX, tầng lớp công nhân nông nghiệp đồn điềncũng bắt đầu thành hình, tuy rằng số lượng còn ít.Ngoài ra, còn nhiều công nhân tập trung hơn như công nhân vận tải, côngnhân khuân vác ở các bến tàu Sài Gòn, Hải Phòng, Đà Nẵng, Quy Nhơn, BếnThủy, Hồng Gai ngày càng phát triển. Cũng phải kể đến những người thợ, viênchức phụ trách các công ty thương mại lớn nhỏ. Đó là chưa kể đến số công nhânlẻ tẻ và công nhân các xưởng nhỏ, số công nhân làm trên hàng vạn chiếc thuyềnxuôi ngược trên những con sông rạch chằng chịt như mạng nhện khắp Bắc –Nam.Công trường đường sắt Hải Phòng – Vân Nam từ 1898 – 1913 đã huyđộng đến 6 vạn người, hầu hết là các phu bắt ở các địa phương về làm, trả tiềncông nhật. Các công trình giao thông công chính khác thường xuyên huy độngtới 30 vạn công nhân lao động.Như vậy là đến thời kỳ này, ba miền Bắc – Trung – Nam, vùng nào cũngcó công nhân công nghiệp tập trung làm nòng cốt cho số công nhân lẻ tẻ khác.Họ Họ sớm có tinh thần đoàn kết đấu tranh chống áp bức, bóc lột. Họ đã đứnglên đấu tranh bằng nhiều hình thức: bỏ trốn tập thể, công khai bỏ việc, đấu tranhbạo lực phối hợp với các phong trào yêu nước, đưa đơn tố cáo, cử đại biểu đikhiếu tố, mít tinh trước văn phòng chủ mỏ, phát động đình công, bãi công làhình thức đấu tranh mới chưa từng có trong lịch sử Việt Nam.Chỉ trong 2 năm 1904 – 1905 đã có 10 cuộc đấu tranh: Ngày 20/10/1904,công nhân lán Bắc Ninh trên công trường đường sắt Yên Bái gửi đơn lên Tổngđốc Bắc Ninh tố cáo về việc bắt công nhân làm khoán. Tháng 11/1904, côngnhân công trường đường sắt Lào Cai cử đại biểu trực tiếp lên đồn điền khiếu tốvề việc bạc đãi công nhân. Tháng 12/1904, công nhân lán Hải Dương gửi đơncho công sứ Hải Dương tố cáo việc thực dân và tay sai chửi bới, đánh đập thậmtệ công nhân.Năm 1906, công nhân mới làm việc ở mỏ Hà Tu nghỉ việc đấu tranh đòichủ trả tiền đi đường, công nhân cũ đã giúp đỡ nên cuộc đấu tranh thắng lợi.Năm 1908, công nhân mỏ thiếc Tĩnh Túc (Cao Bằng) bỏ việc, phản đốichủ trả lương quá chậm.Ngày 1/5/1909, nữ công nhân nhà máy chai Nam Định bỏ việc, phản đốichủ Pháp khám xét nữ công nhân. Cũng năm 1909, công nhân làm đường Hà Tu– Cẩm Phả đấu tranh đòi tăng lương, đốt lán, đốt dụng cụ.Đặc biệt tháng 5 – 1909, 200 công nhân viên chức hãng Liên hiệpThương mại Đông Dương bãi công. Cuộc bãi công ở hãng này đã bắt đầu xuấthiện yếu tố đấu tranh chính trị.Năm 1912, công nhân Ba Son kết hợp với bãi khóa của học sinh trườngBách Nghệ Sài Gòn có Tôn Đức Thắng tham gia. Học sinh trường Bách Nghệbãi khóa phản đối việc giám đốc bắt họ làm việc quá nhiều và bắt học sinh nhốtvào xà lim. Để phá cuộc bãi khóa, chính quyền thực dân bắt những người cầmđầu và điều công nhân Ba Son sang làm thay. Nhưng công nhân không chịuTrường THPT Chuyên Thái Bình256HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIlàm, chúng bắt cả công nhân Ba Son đã dám chống đối lại. Toàn thể công nhânBa Son bãi công đòi thả những người bị bắt. Thực dân Pháp phải nhượng bộ.Với số lượng phát triển cao, với chất lượng biểu hiện rõ ở tính tập trung(lao động trong guồng máy tư bản chủ nghĩa với kỹ thuật hiện đại), có tinh thầnđoàn kết đấu tranh chống kẻ thù chung, công nhân Việt Nam đã có những điềukiện cần và đủ để hình thành một giai cấp. Tuy vậy, vì chưa có lý luận tiên tiếnsoi đường, họ chưa quan niệm được mình là một giai cấp riêng, có quyền lợi vànguyện vọng riêng, chưa nhận thức được rõ vị trí và vai trò của mình trong lịchsử xã hội, giai cấp công nhân tuy đã ra đời, nhưng mới ở giai đoạn “tự phát”Sự ra đời của giai cấp công nhân Việt Nam trước giai cấp tư sản dân tộclà một đặc điểm lịch sử quy định những nét đặc thù của sự phát triển sau nàycủa cách mạng Việt Nam.2.2.2.Tầng lớp tư sảnCuối thế kỷ XIX, đô thị Việt Nam nằm trong guồng máy của phươngthức khai thác bóc lột tư bản chủ nghĩa nên đã phát triển theo kiểu đô thị côngthương nghiệp, không còn mang nặng tính chất trung tâm hành chính văn hóanhư trước nữa. Hà Nội năm 1899 đã có 73 nhà công thương Việt Nam gồm có60 nhà buôn, 12 chủ xưởng và một thầu khoán. Hải Phòng năm 1893 có 41 nhàcông thương Việt Nam gồm 27 nhà buôn, 5 nhà thầu khoán, 8 hiệu may, 1 hiệugiặt. Sài Gòn năm 1896 có 366 nhà công thương Việt Nam, gồm 26 hiệu kimhoàn, 15 hiệu đồng hồ, 24 hiệu may, 113 hiệu buôn. Chợ Lớn năm 1896 có 306nhà công thương Việt Nam, gồm có 10 hiệu kim hoàn, 15 xưởng đóng thuyền,16 nhà máy dệt, 74 nhà buôn.[2,127]Cùng với sự phát triển này, tầng lớp tư sản đầu tiên đã xuất hiện, tuy chưađông về số lượng và có nguồn gốc xuất thân khác nhau. Xuất hiện sớm nhất làmột số tư sản mại bản đứng ra bao thầu các bộ phận kinh doanh của Pháp nhưthầu làm cầu đường, trại lính, đồn bốt, phà, một đoạn xe lửa, nhận cung cấp,tiếp tế lương thực, nguyên liệu cho Pháp hay đứng ra làm đại lý phân phối hànghóa của chúng trong nhân dân. Quyền lợi của bọn này gắn chặt với quyền lợicủa thực dân. Đinh Tráng, Đinh Hòe làm thầu khoán đã sử dụng tới 500 phu.Đầu thế kỷ XX, Bùi Huy Tín vào những năm 1903 – 1906 chuyên cung cấp “tàvẹt” đường sắt cho Pháp. Có người đã góp cổ phần với Pháp như Lê Phát Antrong công ty Đờlinhông đệt lụa ở Phú Phong (Bình Định), hoặc một số tư sảnViệt Nam đã góp cổ phần vào công ty nông nghiệp Việt – Pháp ở miền TâyNam Kỳ.Cũng có bộ phận kinh doanh riêng biệt, nhằm phát triển theo một hướngđộc lập. Họ trước cũng làm cho Pháp, nhưng sau khi có vốn tương đối thì táchra làm kinh doanh riêng như Nguyễn Hữu Thu, Bạch Thái Bưởi, Đào HuốngMai…Bùi Huy Tín từ chỗ là thầu khoán đã đứng ra mở nhà in. Trần Huỳnh Kýchuyển sang chung cổ phần với Ngân hàng Việt Nam, Đỗ Hữu Thục, TrươngHoàng Tĩnh mở nhà máy rượu Văn Điển.Trường THPT Chuyên Thái Bình257HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIMột số xuất thân từ địa chủ giàu có cũng chuyển một số vốn sang kinhdoanh công thương nghiệp với ý thức chống lai độc quyền của thực dân Pháp.Trương Văn Bền, địa địa chủ có 17000 ha là chủ một xí nghiệp xà phòng, sửdụng 700 công nhân [2,127].Một số quan lại cáo quan về kinh donh công thương nghiệp với ý thứcphát triển kinh tế dân tộc. Nghiêm Xuân Quảng, nguyên Án sát Lạng Sơn thànhlập Công ty Quảng Hợp Ích buôn vải lụa, mở xưởng dệt ở Hà Nội. Một số quanchức về hưu ở Thái Bình mở Công ty Nam Phong chuyên dệt chiếu bán trựctiếp cho lái buôn nước ngoài.Một số đã có ý thức hùn vốn thành lập những công ti lớn để có thể cạnhtranh với Pháp và ngoại kiều. Ở Quảng Nam có Quảng Nam hiệp thương công tiphát triển từ năm 1906 – 1907, vốn chừng 20 vạn đồng, thu mua lâm thổ sản ởnông thôn chở đi Hà Nội, Sài Gòn, Hồng Kông bán, rồi lại mua hàng ở các nơiđó về. Ở Phan Thiết, có công ti nước mắm Liên Thành đặt nhiều chi nhánhtrong cả nước. Công tu Phượng Lâu (Thanh Hóa) chuyên buôn tơ lụa, năm 1907phát triển thêm nhiều chi nhánh ở Huế, Vinh, Hà Tĩnh.Cũng có một số nhà hoạt động yêu nước chuyển sang kinh doanh thươngnghiệp để hỗ trợ cho công tác chính trị.Ở Nghệ An, Đặng Nguyên Cẩn, Ngô Đức Kế mở “Chiêu Dương thươngquán”. Ở Hà Tĩnh, Lê Văn Huân mở “hội buôn Mộng Hanh”. Ở Hà Nội,Nguyễn Quyền mở hiệu Hồng Tân Hưng, Hoàng Tăng Bí lập công ty ĐôngThành Xương… Những cơ sở này vì ít vốn, cổ phần nhỏ nên quy mô kinh doanhkhông phát triển mạnh.Vì bị thực dân Pháp chèn ép nặng nề, tư sản Việt Nam phát triển chậm vềmọi mặt, chưa đủ điều kiện để hình thành giai cấp. Nhưng sự phát triển kinh tếtư bản chủ nghĩa nói chung là cơ sở thuận lợi để tiếp thu các trào lưu tư tưởng từngoài vào.2.2.3.Tầng lớp tiểu tư sảnCùng ra đời với tầng lớp tư sản là tầng lớp tiểu tư sản, có trước và đônghơn tầng lớp tư sản. Đó là những nhà tiểu công nghệ, tiểu thương, những ngườilàm việc trong các sở hay tư, những người làm nghề tự do, học sinh các trường.Lớp tiểu thương khá đông đảo đã đứng ra làm trung gian giữa người sảnxuất và những người tiêu thụ. Lớp công chức, trí thức và những người làm cácdịch vụ cũng ngày càng tăng. Số lượng giáo viên, học sinh so với trước kia tănglên. Năm 1913, số học sinh tiểu học trường công ở Bắc Kỳ là 34292 người, ởTrung Kỳ là 15051, Ở Nam Kỳ là 48131, tổng cộng là 97474 người. Số giáoviên người Việt là 502 người.Tuy đời sống vật chất của những người này so với các tầng lớp khác cóphần khá hơn đôi chút, nhưng họ cũng bị chèn ép rất nhiều về mặt chuyên mônlẫn chính trị, thấm sâu nỗi nhục của người mất nước.2.3. Hệ quả về sự biến đổi xã hộiTrường THPT Chuyên Thái Bình258HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VITrong quá trình phát triển của chế độ thuộc địa, cùng với sự biến đổi củanền kinh tế Việt Nam, các mối quan hệ xã hội cũng liên tục phát triển, biến đổikhông ngừng.Mối quan hệ truyền thống giữa địa chủ và nông dân đã mất đi vai trò độctôn trong xã hội và bản thân nó cũng nảy sinh những khía cạnh mới, phức tạphơn, đa dạng hơn trước. Một số nông dân bị bần cùng hóa đã quay trở về vai tròthấp kém của người tá điền, phụ thuộc hoàn toàn vào giai cấp địa chủ, trở thànhnhững người vô sản thôn quê, một nguồn nhân công chính bổ sung cho nhu cầuphát triển của công nghiệp. Số người này ngày càng tăng thêm theo đà cướpđoạt ruộng đất của thực dân Pháp và sự phân hóa sản xuất trong nông thôn. Cácnăm đói kém mất mùa là những năm số người bị vô sản hóa nhiều hẳn lên, trongkhi công thương nghiệp phát triển tương đối hạn chế. Đời sống của tầng lớp nàycũng vì thế, đã thấp kém lại càng đói khổ, bấp bênh hơn.Quan hệ giữa tư sản (nước ngoài và Việt Nam) và vô sản là mối quan hệxã hội mới nảy sinh, song ngày càng trở nên tiêu biểu. Mối quan hệ giữa hai lựclượng xã hội này đã và sẽ có ảnh hưởng to lớn đến các giai tầng khác trong xãhội. Sự xuất hiện và trưởng thành đồng thời của hai giai tầng xã hội này sẽ dẫnđến cuộc đấu tranh giữa hai khuynh hướng cách mạng chủ yếu trong lòng xã hộiViệt Nam. Đây cũng là trung tâm điểm phản ánh mâu thuẫn mới, rất cơ bản củaxã hội Việt Nam dưới thời thuộc địa.Các tầng lớp xã hội, các quan hệ xã hội lúc bắt đầu biến đông khôngngừng, phá vỡ mô hình cứng nhắc của xã hội cũ, tạo nền tảng cho một cấu trúcxã hội mới.Trong xã hội Việt Nam lúc này, nhân tố kinh tế bắt đầu trở thành mộtthước đo giá trị để chi phối các quan hệ xã hội, xác định thành phần giai cấp, vịtrí xã hội của mỗi thành viên. Song bên cạnh đó, vẫn còn tồn tại một thước đogiá trị khác rất quan trọng là thành phần dân tộc. Người Pháp, từ viên Tây Đoancho đến Toàn quyền Đông Dương đều được ưu đãi và kính trọng đối xử. Tất cảcác nhà kinh doanh Pháp đều được ưu tiên về mọi mặt. Chính quyền thuộc địaluôn luôn khích lệ, tạo điều kiện cho họ và chèn ép, kìm hãm người bản xứ. Sựđối xử bất bình đẳng ấy diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi và trong mọi lĩnh vực. Bất cứngười Pháp nào cũng có giá trị ngang bằng và hơn hẳn một người Việt Nam, dùngười Pháp kia chỉ là một viên chức, còn người Việt Nam là một nhà tư sản haymột kỹ sư.Sự tồn tại đồng thời hai phương thức sản xuất phong kiến và tư bản vớinhững lực lượng xã hội đại diện cho hai phương thức sản xuất ấy: địa chủ vànông dân, tư sản và vô sản là biểu hiện tính chất đặc thù của xã hội Việt Namthời Pháp thuộc. Đó cũng là cơ sở xã hội để hình thành một cuộc cách mạng dântộc, dân chủ vì độc lập, tự do của đất nước, vì sự phát triển và tiến bộ xã hội.Nói tóm lại, có thể xem xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XXvề căn bản vẫn là xã hội nông dân, trong đó nông dân tiểu tư hữu chiếm đại đasố. Cùng với sự chuyển biến của giai cấp nông dân, của giai cấp địa chủ, là sựTrường THPT Chuyên Thái Bình259HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIxuất hiện tầng lớp phú nông – lực lượng đại diện cho sự phát triển của chủnghĩa tư bản trong nông thôn. Đồng thời, cũng ngày càng có nhiều nông dân bịbần cùng hóa, phải bỏ quê hương ra đi, đến các thành thị, hầm mỏ và đồn điềnbán sức lao động để kiếm sống. Những người này đã bổ sung cho lực lượng củagiai cấp vô sản ngày càng thêm đông đảo.Tầng lớp tiểu tư sản ngày càng đông và liên tục bị phân hóa, một số ít ỏitrong tầng lớp ấy bao gồm các tiểu thương, tiểu chủ đã trở thành tư sản, kinhdoanh nhiều lĩnh vực khác nhau…Các quan hệ xã hội, quan hệ dân tộc, giai cấpđan xen và trở nên cực kỳ phức tạp. Ngay trong giai cấp tư sản, gồm có cảngười Việt, người Pháp và người Hoa. Trong giai cấp công nhân còn có cảngười Việt, người Miên, người Hoa, người Lào, người Ấn Độ… Hoạt động kinhdoanh của tư sản Việt Nam đa dạng, bao gồm cả công nghiệp, thương nghiệp vànông nghiệp.Tất cả các tầng lớp giai cấp, các mối quan hệ ấy luôn luôn vận động, biếnđổi trong bối cảnh chung của xã hội thuộc địa. Sự phát triển kinh tế càng nhanh,càng mạnh, thì sự phân hóa xã hội càng sâu sắc và gay gắt, đó cũng chính là quyluật phát triển của mọi chế độ xã hội.C. PHẦN KẾT LUẬNTrong cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất, thực dân Pháp đã không từmột thủ đoạn nào để bóc lột nhân dân ta, thu lợi nhuận tối đa, thẳng tay tướcđoạt và bần cùng hóa nông dân, chiếm đoạt tài nguyên thiên nhiên, nắm cácmạch máu kinh tế ở Việt Nam, nắm độc quyền trong công nghiệp khai khoángvà công nghiệp cất chế rượu, kìm hãm công nghiệp nặng, hạn chế công nghiệpnhẹ, độc chiếm thị trường Việt Nam, tăng cường cho vay nặng lãi, đồng hóalãnh thổ Việt Nam vào trong toàn bộ lãnh thổ của đế quốc Pháp và biến ViệtNam thành khâu khăng khít trong sợi dây chuyền của kinh tế tư bản chủ nghĩa.Chính sách khai thác của thực dân Pháp đã làm cho kinh tế nước tachuyển biến chậm chạp, trì trệ và không triệt để: nông nghiệp hết sức lạc hâu,công nghiệp nhỏ bé, què quặt, thủ công nghiệp bị chèn ép, giao thông vận tảithấp kém, thương nghiệp bị Pháp nắm độc quyền, tài chính, tiền tệ bị phụ thuộc.Bên cạnh kinh tế, xã hội Việtà Nam đã có những chuyển biến mới, mâu thuẫngiai cấp, mâu thuẫn giữa công nhân với tư bản, nông dân với địa chủ, mâu thuẫngiữa dân tộc Việt Nam và thực dân Pháp xâm lược ngày càng trở nên gay gắt,quyết liệt hơn.Ở một khía cạnh khác, ta có thể thấy quy mô, mức độ cũng như phạm viảnh hưởng của các nhân tố mới chưa lớn, nhưng chúng chưa đủ sức để tạo ranhững chuyển biến thực sự căn bản trong kết cấu kinh tế cũng như cấu trúc xãhội. Kết quả của quá trình tư bản hóa vào thời kỳ này là sự ra đời và phát triểncủa một số ngành kinh tế và lực lượng xã hội mới, và sự chuyển biến theo xuhướng mới của những thành tố cũ, từ đó làm chuyển động mô hình kinh tế – xãhội cổ truyền, hướng nó đi dần vào một quỹ đạo mới tiến bộ hơn: quỹ đạo sảnTrường THPT Chuyên Thái Bình260HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIxuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa. Trên thực tế, các lực lượng sản xuất – xã hội cũvẫn tồn tại và giữ một vai trò quan trọng. Lúc này, trong xã hội Việt Nam, đangdiễn ra cuộc cọ xát gay go giữa cái cũ và cái mới.Thời kỳ này, đất nước ta đã thoát ra khỏi phần nào sự kiềm tỏa của triềuđình Huế – đại diện cho quan hệ sản xuất lỗi thời – nhưng lại rơi vào sự quỹ đạochi phối không kém phần hà khắc của chính quyền thực dân. Trong quá trìnhthống trị, thực dân Pháp – dù chỉ là một công cụ vô thức của lịch sử đã tạo ranhững cơ sở, những điều kiện thuận lợi cho việc du nhập và phát triển một nềnsản xuất mới tiến bộ hơn: đó là phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, tạo ranhững chuyến biến thực sự trong kết cấu kinh tế và cấu trúc xã hội Việt Nam.Song cũng chính từ đây, ngay từ đầu, vì mục tiêu của chủ nghĩa thực dân, vì lợinhuận, thực dân Pháp cũng đã có những chính sách hết sức phản động, côngkhai và ngấm ngầm hạn chế sự phát triển của xã hội Việt Nam, cố tình duy trìchế độ phong kiến. Vì vậy, hai phương thức này song song tồn tại và cùng pháttriển trong lòng xã hội, kìm hãm, thậm chí phá hoại sự phát triển theo quy luậttất yếu của lịch sử. Đó là bản chất hai mặt mà chính sách “khai hóa văn minh”mà chủ nghĩa thực dân đem lại và đó cũng là một nghịch lý của lịch sử cận đạiViệt Nam, đồng thời cũng là những hạn chế của công cuộc tư bản hóa của ngườiPháp trên đất nước ta hồi đầu thế kỷ XX..MỘT VÀÍ Ý KIẾN ĐỀ XUẤT TỚI HỘI THẢO KHOA HỌC CÁC TRƯỜNG THPTCHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI VÀ ĐỒNG BẰNG BẮC BỘMột trong những đặc thù của trường THPT Chuyên là phát hiện, bồidưỡng những học sinh say mê, có năng khiếu và trình độ học tập tốt để tham dựcác kì thi học sinh giỏi, dự thi vào các trường chuyên nghiệp đạt được kết quảcao. Song để đạt được mục tiêu giáo dục đó cần phải có sự cố gắng nỗ lực rấtTrường THPT Chuyên Thái Bình261HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIcao của thầy và trò và phải có một hệ thống tài liệu đạt chuẩn làm cơ sở địnhhướng cho thầy và trò. Trong khuôn khổ của chủ đề thảo luận ở hội thảo khoahọc các trường THPT Chuyên khu vực Duyên hải và Đồng bằng bắc bộ lần thứVII – năm 2013, dưới đây tôi xin đề xuất một vài ý kiến sau:1- Trong chương trình sách giáo khoa lịch sử lớp 11 – Nâng cao, phầnLịch sử Việt Nam từ 1858 đến 1918, nội dung trình bày ngắn gọn, khái quát.Tôi xin đề xuất, sau cuộc hội thảo này Ban tổ chức sẽ tập hợp những chuyên đềchất lượng tốt thành tập san để làm tài liệu dạy – học, bồi dưỡng học sinh giỏi.2- Trong cuộc hội thảo, nên thảo luận để lập một kế hoạch thống nhất chodạy phần “Lịch sử Việt Nam cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX.”3 –Các kì hội thảo sau này tiếp tục đề ra chuyên đề cụ thể thuộc cácchuyên ngành LSVN, LSTG, Phương pháp dạy học để các thày cô nghiên cứu,thảo luận rút kinh nghiệm. Sau đó Ban tổ chức tập hợp thành các tập san chuyênngành để làm tài liệu chuyên môn cho việc giảng dạy khối chuyên.Với tấm lòng nhiệt huyết nghề nghiệp và mong muốn kết quả dạy vàhọc lịch sử đạt kết quả cao hơn nữa, tôi xin mạnh dạn đề xuất 3 ý kiến trên. Rấtmong Ban tổ chức xem xét. Xin trân trọng cảm ơn!.Hưng Yên, tháng 8 năm 2013.TÀI LIỆU THAM KHẢO1. Nguyễn Khánh Toàn (chủ biên), Lịch sử Việt Nam, tập II, NXB Khoahọc xã hội, Hà Nội, 1985.2. Đinh Xuân Lâm (chủ biên), Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Đình Lễ, Đạicương lịch sử Việt Nam, tập II, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2000.3. Nguyễn Văn Kiệm, Lịch sử Việt Nam (đầu thế kỷ XX đến 1918), quyểnIII, tập II, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1979.4. Nguyễn Khắc Đạm, Những thủ đoạn bóc lột của tư bản Pháp ở ViệtNam, NXB Văn sử địa, Hà Nội, 1957.5. Nguyễn Trí Dĩnh, Lịch sử kinh tế quốc dân, NXB Giáo dục, Hà Nội,1997.6. Nguyễn Văn Khánh, Cơ cấu kinh tế Việt Nam thời thuộc địa (1858 –1945), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2004.Trường THPT Chuyên Thái Bình262HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI7. Nguyễn Ngọc Cơ (chủ biên), Trương Công Huỳnh Kỳ, Nguyễn AnhDũng, Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến 1919, NXB Đại học sư phạm, HàNội, 2007.PHỤ LỤCẢnh chụp bảng kim loại khắc thời gian khởi công, thời gian hoàn thành vàtên tác giả ở trên đầu cầu Long Biên phía Hà NộiTrường THPT Chuyên Thái Bình263HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VICầu Long BiênGa Hà NộiTrường THPT Chuyên Thái Bình264HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VITuyến đường xe lửa Sài Gòn – Mỹ ThoNông dân Việt Nam thời Pháp thuộcTrường THPT Chuyên Thái Bình265HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VICông nhân cạo mủ cao suTrường THPT Chuyên Thái BìnhCông nhân khai mỏ266HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIÂM MƯU, THỦ ĐOẠN, QUÁ TRÌNH XÂM LƯỢC VIỆT NAMCỦA THỰC DÂN PHÁPNgười thực hiện: Giáo viên Doãn Thị Hồng NhungTrường: THPT Chuyên Hạ LongCuối thếkỉXIX, Việt Nam từmột quốc gia đ ộc lập, thống nhấtdo triều đ ình phong kiến nhà Nguyễn đ ứng đ ầu sớm trởthành một nướcthuộc đ ịa nửa phong kiến, dưới ách thống trịcủa thực dân Pháp. Việc xâmlược Việt Nam của thực dân dân Pháp đ ã đ ược chính phủ Pháp ấp ủ, nuôidưỡng từrất lâu (từnăm 1624), tuy nhiên phải đ ến những năm 1858 Phápmới có đ ầy đ ủ các đ iều kiện đ ể tiến hành một cuộc chiến tranh xâmlược bằng vũ khí và quân đ ội. Với chiến thuật “vết dầu loang”, hay cònđ ược gọi là chiến thuật “lấn dần từng bước”, Pháp đ ã thực hiện thànhcông âm mưu, thủđ oạn ấy của mình.I. BỐ I CẢ NH CHUNGSự ra đời, xác lập và phát triển TBCN trên thế giới vào thế kỉ XVIII –XIX đã đặt ra nhu cầu cấp bách về thị trường, nguyên liệu và nhân công cho sảnxuất. Đặc biệt những thành quả của cuộc cách mạng công nghiệp với nhữngmáy móc tinh xảo về giao thông vận tải và kĩ thuật quân sự đã hỗ trợ rất nhiềucho các nước tư bản phương Tây thực hiện các cuộc chiến tranh xâm lược thuộcđịa. Để thỏa mãn nhu cầu về thị trường và nguyên liệu, ngay từ thế kỉ XVIII cácnước tư bản phương Tây đã ồ ạt kéo sang phương Đông, thực hiện chính sách“ngoại giao pháo hạm” với khu vực này.Con đường sang phương Đông, tìm đến phương Đông đã được mở rộngtừ thế kỉ XV – XVI nhờ các cuộc phát kiến địa lý, bởi lẽ phương Đông vốn làvùng đất giàu có về tài nguyên nhiên liệu, dân số đông vừa là nguồn nhân cônglao động rẻ mạt, vừa là thị trường tiêu thụ rộng lớn. Bên cạnh đó trong thời giannày, các quốc gia phương Đông vẫn tồn tại chế độ phong kiến lạc hậu, lỗi thời:kinh tế kém phát triển, xã hội bất ổn định. Lợi dụng tình trạng trên các nước tưbản phương Tây lần lượt xâm lược các nước phương Đông và biến các nướcphương Đông trở thành thuộc địa của mình, như Ấn Độ trở thành thuộc địa củathực dân Anh, Trung Quốc bị các nước thực dân Âu – Mĩ chia nhau xâu xé,…Như vậy, cho đến giữa thế kỉ XIX – trước khi thực dân Pháp nổ súng xâm lược,Việt Nam là một quốc gia độc lập, có chủ quyền nhưng khó có thể tránh khỏi sựnhòm ngó, xâm lược của các nước tư bản phương Tây trong khi nhiều nướcxung quanh đã rơi vào nanh vuốt của các này.Vì sao các nước tư bản phương Tây, nhất là Pháp muốn xâm lược ViệtNam? Việt Nam nằm ở một vị trí chiến lược quan trọng: là cửa ngõ đi xuốngcác nước Đông Nam Á, lại nằm trên con đường từ Ấn Độ, Indonexia đến TrungTrường THPT Chuyên Thái Bình267HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIQuốc, Nhật Bản, có thể lấy Việt Nam làm bàn đạp tấn công Trung Quốc. Ngoàira Việt Nam còn là một vùng đất giàu tài nguyên thiên nhiên, thị trường tiêu thụrộng lớn, nguồn nhân lực dồi dào, trong khi đó chế độ phong kiến Việt Namđang rơi vào tình trạng khủng hoảng và suy yếu. Với những nguyên nhân đó,Việt Nam hứa hẹn trở thành một thuộc địa giàu có và lý tưởng với các nước tưbản. Vì vậy ngay từ rất sớm (thế kỉ XVI),Việt Nam đã sớm bị các nước tư bảnnhư Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh… nhòm ngó.Thế kỉ XVI, các tàu buôn và giáo sĩ Bồ Đào Nha đã thường xuyên lui tớiViệt Nam. Hội An là thương cảng quan trọng mà các lái buôn Bồ Đào Nhathường cập bến. Thế kỉ XVII, Hà Lan phát triển vượt Bồ Đào Nha, họ đặtthương điếm ở Hội An – Quảng Nam (1636), phố Hiến – Hưng Yên (1637). Lợidụng mâu thuẫn giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh – Nguyễn trong những năm1642 – 1643, Hà Lan mấy lần đưa hạm đội phối hợp với quân Trịnh, đặt nhữngbước đi đầu tiên cho ý đồ xâm lược Việt Nam của mình. Tuy nhiên uy thế trênmặt biển của Hà Lan chẳng bao lâu bị Anh đánh bại. Anh lập thương điếm ởPhố Hiến, Thăng Long. Năm 1702 Anh âm mưu chiếm Côn Lôn để khống chếcon đường hàng hải từ Ấn Độ sang Thái Bình Dương. Trong cuộc chạy đua này,Pháp cũng không ngừng đẩy mạnh những hoạt động của mình.Những nguyên nhân nào thôi thúc Pháp xâm lược Việt Nam?Do nhu cầu về thị trường và nguyên liệu. Vào những năm 50 – 60 củaTK XIX, Pháp hoàn thành xong cuộc cách mạng công nghiệp sau hơn một nửathế kỉ. Bộ mặt các ngành kinh tế, giao thông vận tải, ngoại thương của Phápphát triển nhanh chóng. Nhằm đẩy mạnh hơn nữa tốc độ phát triển các ngànhcông nghiệp nói riêng, nền kinh tế nói chung, Pháp rất cần thuộc địa để giảiquyết các vấn đề thị trường và nguyên liệu.Do thuộc địa của Pháp không còn nhiều. Bản thân Pháp ngay từ thế kỉXVI đã sớm tiến hành những cuộc chiến tranh xâm lược thuộc địa, đến thế kỉXVII người Pháp đã hiện diện trên khắp thế giới. Tuy nhiên sau một loạt thấtbại trong những cuộc chiến tranh với các nước tư bản khác, Pháp mất dần thuộcđịa và vị thế của mình. Trước hết phải kể đến cuộc tranh giành quyền thừa kếngôi vua ở Tây Ban Nha (1701 – 1714) mà kết quả là hai hiệp ước 1713 – 1714đã buộc Pháp phải trao cho Anh phần lớn thuộc địa của mình ở Bắc Mĩ. Nhữnghiệp ước này đã chấm dứt bá quyền của Pháp ở châu Ân, đồng thời đánh dấu sựra đời của một trung tâm quyền lực mới – nước Anh. Tiếp đó phải kể đến trongcuộc chiến tranh Pháp – Phổ, Anh đã lợi dụng tấn công các thuộc địa của Phápở Bắc Mĩ và Ấn Độ, đồng thời kết quả của cuộc chiến này cũng làm Pháp mấtCa-na-đa, thung lũng Ô-hi-ô, toàn bộ bờ trái sông Mi-xi-xi-pi. Tuy nhiên sựkiện có ý nghĩa quyết định đối với việc thu nhỏ thuộc địa của Pháp nhất đó là sựthất bại của Na-pô-lê-ông (5 – 1814), buộc Pháp phải kí vào văn kiện kết thúchội nghị Viên. Theo đó, Pháp bị Anh chiếm hầu hết các thuộc địa. Diện tíchthuộc địa của Pháp chỉ còn vào khoảng 96.020 km2.Trường THPT Chuyên Thái Bình268HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIMâu thuẫn giữa sự phát triển của nền kinh tế tư bản với sự thiếu thốn vềthị trường, nguyên liệu cũng như tham vọng muốn giành lại những vị trí đã mấttrong cuộc chạy đua với Anh, hơn bao giờ hết nước Pháp mong muốn tiến hànhnhững cuộc chiến tranh xâm lược thuộc địa. Chính vì vậy, việc Pháp tiến hànhcác cuộc chiến tranh xâm lược thuộc địa trong đó có chiến tranh xâm lược ViệtNam lúc này có thể coi là một điều tất yếu.II. ÂM MƯ U VÀTHỦ ĐOẠ N XÂM LƯ Ợ C VIỆ T NAM CỦ A THỰ C DÂNPHÁP1. Âm mư u xâm lư ợ c Việ t Nam củ a thự c dân Pháp.Ngay từ rất sớm người Pháp đã sớm nhận thức được vị trí chiến lược, khảnăng thuộc địa tiềm tàng của Việt Nam. Năm 1645 giáo sĩ Pháp A-lếch-xăng đờRốt sau 21 năm truyền đạo ở Việt Nam đã trở về Pháp, mang theo một tấm bảnđồ Việt Nam với những nhận xét về nước ta như sau: “Đây là một vị trí cần phảichiếm lấy và chiếm được vị trí này thì thương nhân châu Âu sẽ tìm được mộtnguồn lợi nhuận và tài nguyên dồi dào”. Năm 1753, một giáo sĩ đã chuyển sangnghề buôn là Xanh Phan từng ở nước ta 8 năm cũng đã trình lên Chính phủPháp một bức thư, yêu cầu lập căn cứ ở bắc Việt Nam vì “Vương quốc này làmột trong những nước mạnh nhất Đông Ấn… Thủ đô Kẻ Chợ rộng lớn như Pari… thuyền bè chen chúc dưới bến quá sức tưởng tượng. Dân số của vươngquốc này đông vô kể, có nhiều thị trấn lên tới 4 – 5 vạn hay 10 vạn dân. Xứ nàycó nhiều sông ngòi, kênh đào, thuyền bè đi lại dễ dàng, đất đai màu mỡ”. Trongkhi đó Việt Nam lại nằm kề Trung Quốc, và là cửa ngõ của khu vực Đông NamÁ, do đó Pháp không thể nào vắng mặt tại một đất nước giàu tiềm năng như vậyđược. Vì vậy Pháp sớm có ý thức xâm lược Việt Nam bằng mọi cách, nhằmchiếm được mảnh đất giàu có về tài nguyên thiên nhiên, đồng thời có cơ hộivươn tay đến nhiều vùng đất khác trong khu vực Châu Á, cạnh tranh với cácnước thực dân phương Tây, nâng cao uy thế nước Pháp.2. Thủ đ oạ n xâm lư ợ c Việ t Nam củ a thự c dân Pháp.Âm mưu xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp có từ rất lâu, để thựchiện âm mưu ấy Pháp đã tiến hành những bước đi rất cẩn trọng và đầy chiếnlược. Đó chính là thủ đoạn xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp. Có thể lấynăm 1624 làm mốc đánh dấu mở đầu cho quá trình thực hiện âm mưu xâm lượcViệt Nam của Pháp với vai trò to lớn của giáo sĩ A-lếch-xăng Đờ rốt và kết thúcvào năm 1884 với bản hiệp ước Ba-tơ-nốt. Như vậy quá trình xâm lược ViệtNam được Pháp tiến hành trong vòng 260 năm (1624-1884), được chia làm 3giai đoạn, mỗi giai đoạn Pháp lại có những thủ đoạn riêng. Trong đó Pháp sửdụng 3 nhân vật được xem như 3 con át chủ bài cho những nước đi của mình,đó là: giáo sĩ, thương nhân và binh lính. Mỗi bước đi của Pháp là sự tận dụng tốiđa các hoạt động của những con át chủ bài này để mở đường cho việc xâm lược.Giai đoạn một: 1624 – 1664, Pháp sử dụng các giáo sĩ như những chúngựa đi tiên phong mở đường cho việc thực hiện âm mưu của mình. Trong cuộcTrường THPT Chuyên Thái Bình269HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIchạy đua xâm chiếm đất đai này, thực dân Pháp đã sử dụng con bài Thiên chúagiáo như một công cụ hữu hiệu. Giáo sĩ A-lếch-xăng Đờ rốt là người đặt nềnmóng cho các hoạt động của người Pháp ở Việt Nam. Mặc dù những giáo sĩngười Pháp không phải là những giáo sĩ đầu tiên đến Việt Nam nhưng họ lại lànhững người bám sâu và bền chặt nhất với các giáo dân. Tiêu biểu trong số đóphải nhắc đến giáo sĩ A-lếch-xăng Đờ rốt – một người đã có hơn 30 năm hoạtđộng ở Đông Dương trong đó có 21 năm ở Việt Nam, đã đi hết xứ Đàng Trongvà Đàng Ngoài. Trong quá trình đi truyền đạo, ông đã học tiếng Việt, là cha cốnước ngoài đầu tiên dùng Tiếng Việt để truyền đạo. Vì vậy ông đã chinh phụcđược một lượng lớn các con chiên. Ngoài ra vào năm 1651 A-lếch-xăng Đờ rốtvề Pháp, ông cho xuất bản 3 cuốn sách: Từ điển Việt – Bồ la tinh, Hành trìnhtruyền đạo , Lịch sử xứ Đàng Ngoài, những cuốn sách trên đã đem về cho Phápnguồn thông tin quý báu về tình hình Việt Nam, về bản đồ Việt Nam, về đờisống người Việt để có thể dễ thâm nhập. Do vậy ông đã đệ trình lên Giáohoàng La Mã dự án thành lập các tòa Giám mục ở Viến Đông và hệ thống cônggiáo bản xứ và kêu gọi những người giàu có ở Pháp lập ra công ty Đông ẤnPháp ở Việt Nam. 1664, Hội truyền giáo nước ngoài được thành lập, công tyĐông Ấn Pháp ra đời.Giai đoạn 2: 1664 – 1858, Pháp sử dụng kết hợp vai trò đắc của hai nhânvật giáo sĩ và thương nhân. Giám mục Pa-luy là người cổ vũ tích cực cho ngànhhàng hải Pháp và thúc đẩy cho quá trình thành lập công ty Đông Ấn của Pháp.Năm 1669 viên Giám mục Pê-rít đã đến miền Bắc Việt Nam dưới danh nghĩa lànhân viên của công ty này, còn Giám mục Be-tơ-na thì xin chúa Nguyễn cho lậpthương diếm ở Đàng Trong. Những hoạt động tích cực của công ty Đông Ấn đãtạo điều kiện cho giáo sĩ và thương nhân dựa vào nhau mà sống và hoạt động,thông thường “giáo sĩ đi trước mở đường cho thương nhân theo sau. Cờ chúamở rộng đến đâu, thương nhân đến đấy mở các thương điếm buôn bán”. Thựctế, đằng sau những hoạt động về tôn giáo và kinh tế ấy của giáo sĩ và thươngnhân là mục địch làm nội gián dò la tình hình, làm tình báo dọn đường cho cáchoạt động can thiệp về mặt quân sự sau này. Đặc biệt hai nhân vật trên còn cómột nhiệm vụ quan trọng là tìm cách khoét sâu mâu thuẫn lương – giáo. Chúngtrực tiếp đứng sau những vụ khởi loạn chống đối triều đình, xúi giục gây ranhững vụ xung đột lương – giáo, ép buộc một số con chiên nhẹ dạ cả tin làmviệc cho chúng, xúi giáo dân vi phạm luật lệ. Đặc biệt trên vùng đất từ sôngGianh trở ra Bắc thế lực Công giáo nhất là Công giáo do cha cố Pháp cầm đầuđã ra sức hoạt động gây mầm chia rẽ nội bộ dân tộc nhằm phá vỡ khối đại đoànkết dân tộc. Đây chính là thủ đoạn, là con bài chính trị của thực dân Pháp nhàbuôn khoác áo tu sĩ và theo sau là đội quân xâm lược.Giai đoạn 3: 1858 – 1884: nổi lên vai trò của lính xâm lược. Khi nhữnghoạt động của giáo sĩ và thương nhân ngày càng trở nên trắng trợn, triều đìnhnhà Nguyễn hết sức lo sợ, đã liên tiếp ban hành các chỉ dụ cấm đạo năm 1825,1833, 1851 và đóng cửa chặt các hải cảng nhằm hạn chế hoạt động của các giáoTrường THPT Chuyên Thái Bình270HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIsĩ và thương nhân. Dù chính sách này được thực hiện do có những lý do của nó:để ngăn cản những hoạt động gián điệp, khiêu khích trắng trợn của cha cốnhưng những chính sách đó đã để lại hậu quả nặng nề: làm cho thế nước suyyếu, tạo điều kiện, duyên cớ để Pháp xâm lược Việt Nam. Vậy là triều đình nhàNguyễn đã rơi vào cái bẫy của thực dân Pháp. Do đó khi tàu chiến của Phápnhiều lần cập bến xin thông thương với ta nhưng bị cự tuyệt, thực dân Pháp đãcho tàu chiến nổ súng xâm lược nước ta (1/9/1858) với cái cớ trả thù triều đìnhHuế không nhận quốc thư, làm nhục quốc thể Pháp, bênh vực đạo Thiên chúađang bị khủng bố ở Việt Nam. Đến lúc này có thể coi vai trò của giáo sĩ vàthương nhân dân đã hoàn tất, nhường đường cho đội quân tinh nhuệ hiếu chiếncủa Pháp tiến hàng xâm lược bằng quân sự – lực lượng cuối cùng quyết định tớisố phận của nhân dân Việt Nam.Thực tế Pháp đã có cơ hội xâm lược Việt Nam từ rất sớm thông qua ảnhhưởng và vai trò của giám mục Bá Đa Lộc khi giúp đỡ Nguyễn Ánh, gây lòngtin cho Nguyễn Ánh về việc Pháp sẽ hỗ trợ quân đội cho Nguyễn Ánh dẹp quânphiến loạn Tây Sơn, giành lại vương triều. Nguyễn Ánh đã giao ấn tín và contrai mình là hoàng tử Cảnh cho Bá Đa Lộc sang Pháp cầu viện, tuy nhiên tiếcrằng những biến động tại nước Pháp năm 1789 đã làm chậm lại quá trình xâmlược Việt Nam của Pháp, làm cho bản hiệp ước Véc-xai được ký kết giữa vuaLui XVI với Bá Đa Lộc đại diện thay mặt cho Nguyễn Ánh không thực hiệnđược. Rồi cuộc cách mạng 1848 tại Pháp lại một lần nữa làm cho kế hoạch xâmlược lại Việt Nam của Pháp bị bỏ ngỏ. Phải đến năm 1852 khi Na-pô-lê-ông IIIlên nắm quyền, quá trình xâm chiếm Việt Nam mới được đẩy mạnh thêm mộtbước, đặc biệt vào tháng 7 – 1857 Na-pô-lê-ông quyết định sử dụng đến vai tròcủa lực lượng binh lính Pháp, can thiệp vũ trang vào Việt Nam.III. QUÁTRÌNH XÂM LƯ Ợ C VIỆ T NAM CỦ A THỰ C DÂN PHÁP1. Từ mặ t trậ n ĐàNẵ ng đ ế n Gia Đị nh:Không phải ngẫu nhiên Pháp chọn Đà Nẵng làm điểm tấn công đầu tiêncủa mình. Đà Nẵng vốn là một cảng nước sâu, kín gió và rộng nên rất thuận lợicho tàu chiến của Pháp có thể ra vào dễ dàng, Đà Nẵng lại có hậu phươngQuảng Nam – Quảng Ngãi giàu có và đông dân, có thể giúp chúng thực hiện kếhoạch “lấy chiến tranh nuôi chiến tranh”, Đà Nẵng lại có một vị trí chiến lượcquan trọng: có đường bộ sang Lào và Campuchia, là “cổ họng” của kinh thànhHuế, cách Huế 100km, nên có thể dùng Đà Nẵng làm bàn đạp tấn công kinh đôHuế kết thúc nhanh chóng công cuộc xâm lược Việt Nam, bên cạnh đó lựclượng giáo dân ở đây đông, có thể trông chờ sự ủng hộ và làm nội ứng choPháp. Vì vậy Pháp muốn thực hiện kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh, chiếm ĐàNẵng làm căn cứ, bàn đạp để đánh thọc sâu vào kinh thành Huế, buộc triều đìnhnhà Nguyễn phải đầu hàng nhanh chóng. Do đó ngày 31/8/1958 liên quân Pháp– Tây Ba Nha dàn trận trước cửa biển Đà Nẵng với khoảng 3000 quân bố tríTrường THPT Chuyên Thái Bình271HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VItrên 14 tàu chiến, trang bị vũ khí hiện đại tấn công vào bán đảo Sơn Trà. Trongbối cảnh ấy triều đình nhà Nguyễn đã cử Nguyễn Tri Phương làm Tổng chỉ huymặt trận Quảng Nam chống giặc. Với chủ trương “phòng ngự”, Nguyễn TriPhương đã huy động nhân dân đắp lũy ngăn không cho giặc tiến sâu vào nộiđịa, mặt khác tổ chức cho dân lùi sâu vào nội địa, làm “vườn không nhà trống”nhằm mục đích không cho địch bắt lính, không nộp lương thực thực phẩm chochúng. Kết quả: sau 5 tháng chiến đấu Pháp bị giam chân tại chỗ trong khi đótình hình ngày càng khó khăn: không hợp khí học, thuốc men thiếu thốn, việctiếp tế lương thực khó khăn. Vì vậy Pháp buộc phải thay đổi kế hoạch chuyển từmặt trận Đà Nẵng vào Gia Định.2. Pháp đ ánh chiế m Gia Đị nh và6 tỉ nh Nam Kì.Bị thất bại trong kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh, Giơ-nuy-y phải lựachọn một trong 2 phương án: hoặc đánh ra Bắc hoặc đưa quân vào Nam? Thựctế việc đánh ra Bắc trong thời gian này là một việc làm quá phiêu lưu với Pháp,trong khi đó vùng đất Gia Định lại là nơi lắm của nhiều người, nếu chiếm đượcGia Định thực dân Pháp có thể duy trì lương thực tại chỗ cho chiến tranh và cắtđứt nguồn tiếp tế của triều đình. Bên cạnh đó Gia Định có đặc điểm chiến lượcvề vị trí là từ Gia Định có thể làm bàn đạp để đánh 3 tỉnh miền Tây Nam Kì,Campuchia và mở rộng ra 3 nước Đông Dương, có thể ngược sông Mê Konglên Tây Nam Trung Quốc. Vì vậy ngày 16/2/1859 tàu chiến của Pháp đậu sátthành Gia Định, sáng sớm 17/2 Pháp tập trung hỏa lực bắn thành Gia Định, đếntrưa thành Gia Định bị quân Pháp chiếm. Tuy nhiên sau khi chiếm được thành,thực dân Pháp lại liên tiếp gặp khó khăn khi phải chống chọi lại với thế trận“thiên la địa võng” của quân dân ta, ngoài ra trên chiến trường Italia và TrungQuốc, Pháp bị sa lầy buộc phải đưa quân ở Đà Nẵng và Gia Định sang TrungQuốc tham chiến, điều đó khiến cho quân Pháp ở Gia Định chỉ còn 1000 tên trảidài trên một chiến tuyến dài 10km. Đây có thể được xem là cơ hội tuyệt vời chonhà Nguyễn trong việc đánh bật quân Pháp ra khỏi bờ cõi nước ta, nhưngNguyễn Tri Phương sau khi được nhận làm tổng chỉ huy mặt trận Gia Định lạithực hiện chiến thuật “án binh bất động”, xây dựng đại đồn Chí Hòa thành mộthệ thống phòng thủ kiên cố. Sự sai lầm này của Nguyễn Tri Phương khôngnhững không đuổi được ngót 1000 tên địch mà ngược lại còn biến đại đồn ChíHòa thành cái rọ 3 cây số vuông nhốt hàng ngàn binh lính của ta, chuẩn bị làmmồi cho đại bác của Pháp. Do đó, sau khi kết thúc chiến sự ở Trung Quốc, toànbộ hải quân và lục quân của Pháp kéo về Việt Nam, ngày 23/2/1861 thực dânPháp đã tấn công vào đại đồn Chí Hòa. Đại đồn thất thủ, thừa thắng Pháp lầnlượt chiếm các tỉnh Nam Kì: Gia Định, Định Tường, Biên Hòa, Vĩnh Long. Tráingược với tư tưởng “thủ để hòa” của triều đình nhà Nguyễn, cuộc đấu tranh củanhân dân ta vẫn diễn ra một cách mạnh mẽ làm cho Pháp rơi vào khó khăn vềmọi mặt. Trong lúc phong trào đấu tranh đang lên, xuất phát từ những toan tínhnhỏ nhen, đầu tháng 5/1862 Tự Đức xin nghị hòa với giặc, để đến 5/6/1862triều đình Huế kí với Pháp hiệp ước Nhâm Tuất (12 điều khoản) với nội dung:Trường THPT Chuyên Thái Bình272HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIcắt 3 tỉnh miền Đông Nam Kì cho Pháp và đảo Côn Lôn, bồi thường 20 triệuquan, mở các cửa biển Đà Nẵng, Ba Lạt, Quảng Yên cho thương nhân Pháp vàTây Ba Nha vào tự do buôn bán. Đây là điều ước xâm lược của thực dân Pháp,là hàng ước bán nước của triều đình, cho thấy sự đớn hèn, bạc nhược của triềuđình nhà Nguyễn.Sau hiệp ước Nhâm Tuất 1862, triều đình nhà Nguyễn ngày càng đi sâuvào con đường đối lập với nhân dân, huy động lực lượng đàn áp phong tràokháng chiến của nhân dân và muốn lấy lại 3 tỉnh đã mất bằng thương lượng.Trong khi đó, về phía Pháp lại ráo riết chuẩn bị xâm lược nốt 3 tỉnh miền TâyNam Kì. Lấy cớ triều đình Huế vẫn ngấm ngầm ủng hộ phong trào kháng chiếnở tỉnh miền Đông Nam Kì, ngày 20/6/1867 quân Pháp kéo đến thành VĩnhLong. Đại diện quân triều đình ở miền Tây là Phan Thanh Giản đã giao tỉnhVĩnh Long cho Pháp, sau đó còn viết thư cho quann quân 2 tỉnh An Giang, HàTiên nộp thành “để tránh khỏi mọi sự đổ máu vô ích”. Như vậy trong vòng 5ngày (từ ngày 20 đến ngày 24/6/1867) quân Pháp chiếm gọn 3 tỉnh miền Tâymà không tốn một mũi tên viên đạn nào.3. Pháp đ ánh chiế m Bắ c Kì, nhànư ớ c phong kiế n Nguyễ n đ ầ u hàng.Từ sau khi Pháp chiếm 6 tỉnh Nam Kì, triều đình Huế không có một biệnpháp nào để chấn chỉnh kinh tế, củng cố quốc phòng nhằm đưa đất nước thoátkhỏi tình trạng hiểm nghèo. Trái lại vẫn thi hành những chính sách thiển cận,khước từ mọi đề nghị cải cách khiến cho đất nước ngày càng lún sâu vào khủnghoảng. Bên cạnh đó nhà Nguyễn vấn ngoan cố theo đuổi chủ trương dùngthương thuyết để chuộc lại đất. Chính những điều đó càng tạo điều kiện chothực dân Pháp thực hiện ý đồ đánh chiếm ra Bắc kỳ. Bắc Kỳ là vùng đất cónhiều tài nguyên quan trọng như sắt, thiếc, đồng, ngoài ra nếu chiếm được BắcKỳ sẽ chiếm được một đường giao thông quan trọng là sông Hồng – con đườngchiến lược để thâm nhập thị trường Nam Trung Hoa, vì vậy Pháp đã có một sốhành động dạo đầu như: đưa quân đánh chiếm một số nơi ở miền Băc và miềnTrung, tung gián điệp đội lốt giáo sĩ và thương nhân, tiếp tay cho tên lái buônĐuy-puy của Pháp ngang ngược ở Bắc Kỳ. Ngày 20/11/1873 thực dân Phápđánh chiếm thành Hà Nội lần thứ nhất, thành Hà Nội thất thủ nhanh chóng,trong vòng một tháng Pháp chiếm rộng ra các tỉnh xung quanh như Hưng Yên,Phủ Lý, Hải Dương, Ninh Bình, Nam Định. Tuy nhiên đi tới đâu Pháp cũng vấpphải sức chiến đấu quyết liệt của nhân dân các địa phương sôi nổi tự độngchống giắc. Đặc biệt là trận Cầu Giấy 21/12/1874 đã làm cho quân Pháp hoangmang, lo sợ, dao động. Đây là cơ hội thuận lợi để triều đình nhà Nguyễn đánhđuổi quân giặc, tiếc thay triều đình nhà Nguyễn đã để bỏ lỡ cơ hội này, vẫn theođuổi chủ trương nghị hòa dùng thương thuyết để chuộc lại đất. Vì thế ngày15/3/1874 triều đình nhà Nguyễn đã kí với Pháp bản hiệp ước Giáp Tuất với 22điều khoản. Có thể thấy, với bản hiệp ước này triều đình đã bán rẻ quyền lợi,chủ quyền của dân tộc, đi sâu một bước vào con đường thỏa hiệp đầu hàngPháp, tạo điều kiện cho Pháp quay trở lại chiếm hẳn Hà Nội khi thời cơ đến. DoTrường THPT Chuyên Thái Bình273HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIđó vào đầu năm 1882 trước những yêu cầu cấp thiết về thị trường, nhân công vànguyên liệu, thực dân Pháp đã viện cớ triều đình Huế không thi hành đúng cácđiều khoản của hiệp ước 1874, ngăn trở người Pháp đi lại buôn bán trên sôngHồng, cấm và giết những người theo đạo Thiên chúa giáo để đưa quân ra Bắc.Ngày 25/4/1882 Pháp nổ súng tấn công thành Hà Nội lần II. Dù vấp phải cuộckháng chiến của nhân dân ta, đặc biệt là trận Cầu Giấy lần II nhưng trước tháiđộ bạc nhược và ảo tưởng của triều đình nhà Nguyễn, thực dân Pháp nhanhchóng vượt qua được những khó khăn ban đầu để xúc tiến quá trình tiêu diệthoàn toàn nhà Nguyễn bằng việc đánh vào cửa biển Thuận An – cổ họng củakinh thành Huế. 5 ngày sau khi quân Pháp chiếm được nhanh chóng cửa biểnThuận An, triều đình nhà Nguyễn đã phải kí với Pháp hiệp ước Hác-măng(25/8/1883), tiếp theo đó dựa trên thế mạnh quân sự, Pháp lại tiếp tục buộc triềuđình nhà Nguyễn kí thêm hiệp ước Pa-tơ-nốt (6/6/1884) với 19 điều khoản. Cảhai bản hiệp ước 1883 và 1884 cơ bản đã biến Việt Nam từ một quốc gia độclập trở thành một nước thuộc địa nửa phong kiến. Có thể nói đến đây Pháp đãhoàn thành xong quá trình thực hiện âm mưu xâm lược Việt Nam của mình.Như vậy, với âm mưu và thủ đoạn xâm lược Việt Nam đã được lên kếhoạch bài bản, sau các chiến sự tại mặt trận Đà Nẵng, Gia Định, tại các tỉnhNam Kỳ và Bắc Kì, trước sự đớn hèn và rệu rã của nhà Nguyễn, thực dân Phápcuối cùng đã có cơ hội hoàn thành âm mưu xâm lược Việt Nam của mình bằngbản hiệp ước Pa-tơ-nốt (1884) – bản hiệp ước đánh dấu sự thất bại hoàn toàncủa nhà Nguyễn trong việc bảo vệ độc lập chủ quyền của dân tộc – bản hiệp ướcđánh dấu mốc Việt Nam từ một quốc gia độc lập trở thành một nước thuộc địanửa phong kiến.Trường THPT Chuyên Thái Bình274HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIHỒ CHÍ MINH – NGƯỜI ĐƯỢC LỊCH SỬ LỰA CHỌNTRONG VIỆC TÌM RA CON ĐƯỜNG CỨU NƯỚC CHO VIỆT NAM.Nguyễn Vũ – Tổ Lịch Sử, Trường THPT Chuyên Quốc Học HuếI. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀIMỗi quốc gia, dân tộc trong tiến trình phát triển đều phải lựa chọn chomình một con đường đi phù hợp. Sự lựa chọn con đường phát triển của đất nướctrong mỗi thời kỳ lịch sử thường gắn với tên tuổi của một vĩ nhân, một anh hùnglỗi lạc của dân tộc. Hồ Chí Minh cũng là một vĩ nhân như vậy. Người đã cócông lớn trong việc tìm ra con đường giải phóng dân tộc khỏi sự thống trị củachủ nghĩa thực dân. Quá trình tìm đường cứu nước, giải phóng dân tộc củaNgười bắt đầu với sự kiện đầy tính biểu tượng – rời bến cảng Nhà Rồng sangphương Tây vào ngày 5 – 6 – 1911 trên con tàu buôn mang tên Đô đốcLatouche Tréville. Ngày 05 – 6 – 1911 là một mốc đặc biệt quan trọng, khôngchỉ trong cuộc đời một con người, mà còn đối với lịch sử của cả một dân tộc, đólà sự kiện người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành rời Tổ quốc hướng tớiphương Tây, trước hết là nước Pháp tìm đường cứu nước.Đó là chuyến ra đi thếkỷ, là khởi nguồn của những biến đổi không chỉ trong nhận thức của Người màcòn là điểm bắt đầu cho quá trình lựa chọn con đường cứu nước mới, giải phóngdân tộc Việt Nam.Vậy vì sao lịch sử lại lựa chọn Hồ Chí Minh là người tìm ra con đường cứunước chứ không phải người nào khác! Đó là câu hỏi chúng ta phải trả lời.II. PHẦN NỘI DUNG1. Xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX – thời kỳ của nhữngbiến động lịch sử sâu sắc:Dưới ách thống trị của thực dân Pháp, nền độc lập của dân tộc ta bị xâmphạm, quyền lợi sống còn của đại bộ phận nhân dân ta bị chà đạp. Chính vì thếmà mâu thuẫn cơ bản nhất trong xã hội Việt Nam là: mâu thuẫn giữa một bên làtoàn thể dân tộc Việt Nam với bên kia là thực dân Pháp xâm lược ngày càng trởnên gay gắt.Như một phản ứng tự nhiên, đặc biệt khi gắn với chiều dài lịch sử hàngnghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, từ 1858 đến những năm cuối thếkỷ XIX, cả dân tộc Việt Nam phải đương đầu với họa xâm lược của thực dânPháp, các cuộc đấu tranh của nhân dân ta đã nổ ra và lan rộng khắp cả nước vớitất cả tinh thần anh dũng: từ cuộc khởi nghĩa của Trương Định, Nguyễn TrungTrực,… ở miền Nam; Trần Tấn, Đặng Như Mai, Nguyễn Xuân Ôn, Phan ĐìnhPhùng,… ở miền Trung, đến Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Ngọc Bích ở miềnBắc. Các cuộc nổi dậy đều được thúc đẩy bởi tinh thần yêu nước nhiệt thành vàchí căm thù giặc sôi sục, trên thực tế các phong trào đấu tranh này đã khiến thựcdân Pháp không thể thực hiện được âm mưu đánh nhanh thắng nhanh, nhưngcuối cùng đều lần lượt thất bại vì chưa có một đường lối kháng chiến đúng đắn.Trường THPT Chuyên Thái Bình275HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VICuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX làđặc điểm lớn nhất của phong trào yêu nước, đã chứng tỏ sự bất lực của hệ tưtưởng phong kiến và tư tưởng trước nhiệm vụ lịch sử của dân tộc.Những năm 60, 70 của thế kỷ XIX, bắt đầu hé mở một hướng mới của conđường cứu nước, khác hẳn những con đường đấu tranh giải phóng đất nước khỏiách thống trị ngoại bang mà dân tộc ta đã tiến hành. Đó là những ý tưởng mớiđược đề xuất trong các bản điều trần của các nhà nho yêu nước được tiếp xúcvới văn hóa, chính trị Phương Tây và Nhật Bản trong buổi đầu canh tân đấtnước. Nội dung chủ yếu của những ý tưởng mới đó là mở rộng cửa đất nước đểđón nhận thành tựu văn minh Phương Tây, kết hợp với văn hóa dân tộc, xâydựng nền kinh tế, văn hóa, giáo dục và khoa học kỹ thuật theo hướng tư bản chủnghĩa, tạo lập một nền quốc phòng vững mạnh.Tiếng nói của con đường cứu nước bằng cải cách như một luồng gió mớivượt lên sự bảo thủ, trì trệ của chế độ phong kiến lấy Nho giáo là nền tảng tưtưởng. Tuy vậy, tiếng nói đó chưa đủ mạnh để có thể tạo ra sự thay đổi và đã bịrơi vào lãng quên, không được triều đình Huế tiếp nhận và thực thi.Để giải quyết mâu thuẫn trên, cách mạng Việt Nam phải đi theo con đườngnào? Phải chọn con đường nào để cứu nước, giành lại độc lập tự do đích thực.Yêu cầu khách quan đòi hỏi phải giải quyết là như vậy, nhưng lịch sử phongtrào chống Pháp từ những năm đầu thế kỷ XX trở về trước chưa có lời giải thỏađáng. Các phong trào yêu nước dấy lên mạnh mẽ khắp nơi: từ phong trào CầnVương, Văn Thân đến cuộc khởi nghĩa của nghĩa quân Yên Thế, từ phong tràoĐông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, Duy Tân đến phong trào chống thuế ở TrungKỳ và rất nhiều các cuộc đấu tranh quần chúng dấy lên hết đợt này đến đợt khácnhưng tất cả đều thất bại.Một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự thất bại của các phongtrào đó là do những nhà yêu nước cách mạng – những người đứng đầu đã khôngnhận thức được đúng và đầy đủ những yêu cầu cấp bách của lịch sử nước ta vàocuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, không phân tích một cách toàn diện những biếnđộng của xã hội Việt Nam cũng như thế giới vào thời điểm bản lề của lịch sử:Giai cấp phong kiến với hệ tư tưởng phong kiến dựa trên nền tảng Nho giáo đãhết vai trò và đã quá lỗi thời, còn giai cấp tư sản với hệ tư tưởng tư sản đãkhông còn phù hợp với thời đại, đang tỏ rõ sự yếu ớt, bất lực, không đủ nănglực để tập hợp toàn thể dân tộc trong cuộc đấu tranh chống ách áp bức nô dịchcủa chủ nghĩa thực dân, không biết gắn phong trào yêu nước của dân tộc mìnhvới cuộc đấu tranh của các dân tộc khác có cùng chung cảnh ngộ bị áp bức, bóclột và nô dịch.2. Nhận thức và quyết định hướng đi đúng đắnThất bại của cuộc đấu tranh yêu nước chống Pháp của nhân dân ta cuối thếkỷ XIX, đầu thế kỷ XX đặt ra nhiều vấn đề phải giải quyết như: đi theo conđường nào, do lực lượng nào lãnh đạo để đưa công cuộc giải phóng đi đến thắnglợi?Trường THPT Chuyên Thái Bình276HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VILịch sử đặt ra nhu cầu bức thiết phải có một hệ tư tưởng mới, một đườnglối mới đủ sức soi sáng, dẫn dắt con đường đấu tranh cứu nước, giải phóng dântộc đi tới thắng lợi. Nhiệm vụ lịch sử đó đặt lên vai thế hệ thanh niên lớpNguyễn Tất Thành.Theo Nguyễn Tất Thành, con đường của Hoàng Hoa Thám, vì tư tưởngphong kiến lỗi thời của nó, không thể dẫn tới thắng lợi. Con đường cầu việnNhật Bản của Phan Bội Châu thì chẳng khác gì việc “đuổi hổ cửa trước, rướcbeo cửa sau”. Còn con đường của Phan Chu Trinh chẳng qua chỉ là sự “xin giặcrủ lòng thương”.Vượt qua những hạn chế trên của các bậc tiền bối, với tấm lòng yêu nước,thương dân sâu sắc và sự trăn trở về vận mệnh dân tộc, Nguyễn Tất Thành đãsớm nhận thấy con đường do những người đi trước mở ra sẽ không giải phóngđược dân tộc.Bởi vậy, mặc dù rất kính mến, trân trọng thế hệ cha anh, nhưng NguyễnTất Thành đã không thể đi theo con đường của họ. Người muốn đi tìm một conđường cứu nước mới. Đó chính là bước ngoặt, một sự lựa chọn lịch sử có ýnghĩa rất quan trọng, mở đầu cho quá trình tìm đường cứu nước của Nguyễn TấtThành.Sau khi không chấp nhận con đường cứu nước cũ, vấn đề rất quyết địnhđối với Nguyễn Tất Thành lúc đó là chọn hướng đi nào?Người không đi Trung Quốc, đi Nhật, mà ý tưởng của Người là hướng vềTây Âu, trước hết là nước Pháp. Tại sao lại như vậy? Năm 1923, tại Mátxcơva,khi trả lời phỏng vấn của phóng viên Tạp chí “Ngọn lửa nhỏ”, Người đã giảithích quyết định về sự lựa chọn của mình như sau: “Vào trạc tuổi 13, lần đầutiên tôi được nghe những từ ngữ tiếng Pháp: tự do, bình đẳng, bác ái – đối vớichúng tôi lúc ấy, mọi người da trắng được coi là người Pháp – thế là tôi muốnlàm quen với văn minh Pháp, tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những từ ấy”.Rõ ràng, ý nghĩ tìm hiểu về nước Pháp đã xuất hiện rất sớm ở Nguyễn TấtThành. Cái lý do hấp dẫn để Người muốn tìm hiểu về nước Pháp đó là nhữngtruyền thống tự do, bình đẳng, bác ái và nền văn minh của chính quốc, đồngthời đó cũng là nơi đẻ ra mọi chế độ thực dân thối nát và cực kỳ tàn bạo nhưchính Người đã thấy trên đất nước mình. Nguyễn Tất Thành muốn hiểu chođược cái nghịch đề văn minh – dã man mà chính nước Pháp vĩ đại đã sản sinh ranó. Như vậy, theo Nguyễn Tất Thành: muốn tìm được con đường cứu nước thìtrước hết phải hiểu thật đúng, thật đầy đủ về những kẻ đang cướp nước mình.Muốn đánh đổ được chủ nghĩa thực dân để giải phóng cho đồng bào thì trướchết phải hiểu cho được cái gốc rễ, cái bản chất của chủ nghĩa thực dân. Sự khácbiệt của Nguyễn Tất Thành so với tất cả những người Việt Nam đi sang nướcPháp lúc bấy giờ chính là ở chỗ đó.Từ chỗ xác định rõ động cơ, mục đích, hướng đi như vậy, Nguyễn TấtThành đã chọn một cách đi riêng cho mình.Trường THPT Chuyên Thái Bình277HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VICó được cách lựa chọn trên, phải chăng vì Nguyễn Tất Thành hội đủ nhữngđiều kiện để lịch sử lựa chọn là người tìm ra con đường cứu nước cho ViệtNam? Những điều kiện đó là gì?Thứ nhất: Gia đìnhChủ tịch Hồ Chí Minh (lúc nhỏ tên là Nguyễn Sinh Cung khi đi học làNguyễn Tất Thành, trong nhiều năm hoạt động cách mạng lấy tên là Nguyễn ÁiQuốc và nhiều bí danh, bút danh khác) sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890 ở KimLiêm huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, mất ngày 2 tháng 9 năm 1969 tại Hà Nội.Người sinh ra trong một gia đình nhà Nho yêu nước, Cha là Phó bảng NguyễnSinh Sắc, Mẹ là Hoàng Thị Loan, đó là nền tảng đầu tiên khởi đầu lòng yêunước.Thứ hai: Quê hươngSinh ra và lớn lên ở một địa phương có truyền thống yêu nước, truyềnthống anh dũng chống ngoại xâm. Trong lịch sử, Nghệ An đã từng là đất tiếncủa người Việt trong quá trình mở nước, là tiền đồn, lại có lúc là hậu phương, làcăn cứ cho nhiều cuộc chiến tranh giữ nước. Từ thế kỷ thứ VIII, trong đêmtrường Bắc thuộc, nhân dân xứ Nghệ đã khởi nghĩa chống lại nhà Đường, xâythành Vạn An, lập nên triều đình, tôn Mai Thúc Loan làm Hoàng đế. Thời nhàLý (thế kỷ XI – XII), Nghệ An là phên dậu của nhà nước Đại Việt, nhờ có côngchăm lo vỗ về của Uy Minh Vương Lý Nhật Quang mà đất đai được khai phá,dân tình no ấm, không chỉ ngăn chặn được giặc ngoài mà còn là điểm tựa quantrọng cho sự hưng thịnh và phát triển của đất nước. Thời nhà Trần (thế kỷ XIII XIV), xứ Nghệ là hậu cứ quan trọng, đóng góp nhiều sức người, sức của cho balần chiến thắng giặc Nguyên Mông ở phương Bắc và là tiền đồn ngăn chặn giặcphương Nam, mở mang bờ cõi. Nghệ An là chiến địa của nhà Hồ và nhà HậuTrần chống giặc Minh những năm đầu thế kỷ XV. Đặc biệt, trong cuộc khángchiến chống giặc Minh của Lê Lợi(1418 – 1428), đất này đã trở thành chiếntrường quyết định bước ngoặt dẫn đến thắng lợi của quân dân Đại Việt. Dướithời Nguyễn Huệ – Quang Trung, Nghệ An là chỗ dựa vững chắc nhất, cungcấp nhân tài vật lực cho ông tổ chức đánh thắng 29 vạn quân Thanh, đặt nềntảng cho công cuộc thống nhất đất nước. Trong suốt hơn một trăm năm chốngcác thế lực xâm lược phương Tây, từ giữa thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX,người Nghệ An luôn luôn sát cánh với đồng bào cả nước và tiên phong chiếnđấu vì nền độc lập dân tộc. Rất nhiều người con ưu tú của Nghệ An đã trở thànhnhững ngôi sao sáng trong công cuộc cứu nước vĩ đại đó như Phan Bội Châu,Trần Tấn, Đặng Như Mai, Nguyễn Xuân Ôn, Lê Doãn Nhã, Đặng Nguyên Cẩn,Đặng Thúc Hứa, Lê Hồng Sơn, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai…quêhương chính là nơi để Nguyễn Sinh Cung hình thành lòng yêu nước .Thứ ba: Nơi học tập và trưởng thànhThời gian hơn 10 năm Bác Hồ sống ở Huế cùng những người thân tronggia đình, tương đương với thời gian Người sống ở quê nhà Nghệ An, chỉ kém15 năm Người sống ở thủ đô Hà Nội. Mười năm so với cuộc đời 79 mùa xuânTrường THPT Chuyên Thái Bình278HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIcủa Bác Hồ không phải là dài, nhưng đây lại là thời gian đặc biệt có ý nghĩa đốivới nhận thức khởi đầu của một con người, đúng như cố Thủ tướng Phạm VănĐồng đã nhận định “Thời gian ở Huế là thời gian Nguyễn Tất Thành lớn lên vàbắt đầu đi học, những năm tháng đó là thời gian cực kỳ quan trọng đối với sựhình thành con người Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh”.Khoảng thời gian trưởng thành và học tập ở Kinh đô đất nước (Huế), nơihội tụ tinh hoa của dân tộc, nơi tập trung những người tài giỏi bậc nhất đất nướctrong thời bấy giờ là khoảng thời gian tạo điều kiện cho Người có được nhữngnhận thức quan trọng về tình cảnh đất nước, vận mệnh đất nước. Từ đó hun đúctrong tâm trí Nguyễn Tất Thành ý thức phải tìm cách giải phóng đất nước, giảiphóng nhân dân khỏi lầm than, nô lệ. Chính nơi đây là cơ sở hình thành tưtưởng tìm đường cứu nước của Người.Sau khi vào Huế, Nguyễn Tất Thành và anh trai thi đỗ vào trường QuốcHọc – thời đó có tên gọi trong dân gian là “Trường Địa Đàng” (thành lập chínhthức từ năm 1896 theo chỉ dụ của vua Thành Thái). Bao giờ cũng ngồi bàn cuối,ăn mặc rất quê, nói tiếng Nghệ cực nặng, học rất giỏi và hay đưa ra những câuhỏi “khiêu khích” chế độ thống trị – đó là dấu ấn của Nguyễn Tất Thành. Quansát và phân tích, suy nghĩ và hỏi trong một môi trường “may mắn” vì các thầygiáo của Nguyễn Tất Thành như GS Lê Văn Miên, Hoàng Thông là nhữngngười nổi tiếng về quan điểm chống Pháp. Không ít lần NTT đã chỉ trích chínhquyền công khai trước đám đông và một trong những đề tài Nguyễn Tất Thànhhay nói là đòi giảm thuế cho nông dân, mà theo Nguyễn Tất Thành là quá nặng.Mùa thu năm 1907, vua Thành Thái buộc phải thoái vị (1889-1907) đểnhường ngôi cho vua Duy Tân, 8 tuổi. Niên hiệu Duy Tân gợi nhớ đến cuộccách mạng Meiji (1868) – mà không ít nhà sử học ngày nay cứ khăng khăngrằng đó không phải là cách mạng, chỉ gọi là cải cách Minh Trị Duy Tân. DuyTân, có nghĩa là “hiện đại hóa” và cũng có nghĩa là kích thích sự đấu tranh.Khởi đầu là phong trào cắt tóc ngắn do Nguyễn Quyền – sĩ phu của trườngĐông Kinh Nghĩa Thục phát động. Ngày 11 tháng 3 năm 1908, nhiều nông dânở Quảng Nam đã kéo về thủ phủ Hội An để đòi giảm bớt lao dịch và thuế. Đầutháng Năm, phong trào chống thuế lan đến Huế, đánh dấu bằng cuộc đấu tranhcủa nông dân làng Công Lương. Nhân dân Công Lương đã bắt tri huyện nhốtvào cũi tre, áp giải hắn đến dinh khâm sứ Leveque. Cuộc nổi dậy của nhân dânThừa Thiên Huế đã nhanh chóng phát triển mạnh mẽ thành một đợt sóng mớicủa lòng yêu nước.Ngày 9-5-1908. Khi đang cùng với đám đông học sinh đứng bên bờ sôngHương quan sát cuộc biểu tình của nông dân tràn vào thành phố Huế, NguyễnTất Thành bất ngờ túm lấy cổ áo của hai người bạn và yêu cầu họ cùng vớimình tham gia vào đoàn biểu tình để phiên dịch cho nông dân. Trên đường đi,Nguyễn Tất Thành đã lật ngược cái mũ nan đang đội trên đầu ra ý cần phải phábỏ hiện trạng. Mặc dù Leveque đã đồng ý thương thuyết nhưng thực dân Phápvẫn đàn áp cuộc biểu tình một cách dã man, rất nhiều người chết và bị thương.Trường THPT Chuyên Thái Bình279HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VINgày hôm sau (10-5-1908), vào lúc 9h sáng, khi Nguyễn Tất Thành đanghọc tiết thứ ba thì một toán cảnh sát đến tận phòng học và viên đội trưởng đãtuyên bố rằng người có hành vi quấy rối là Nguyễn Tất Thành phải thôi học. Đólà lần cuối cùng Nguyễn Tất Thành được chính thức ngồi trong một lớp học.Nguyễn Tất Thành chỉ tham gia phong trào chống thuế đúng một lần nhưngđó là lần quyết định, bước ngoặt của cả cuộc đời anh. Chính xác, không phải từSài Gòn, mà chính là Huế, đã đưa Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước.Huế là nơi đã nuôi dưỡng tâm hồn và trí tuệ của anh. 11 tuổi, trên đất Huế,Nguyễn Tất Thành biết được thế nào là nỗi đau mất mẹ. 18 tuổi, cũng từ Huế,Nguyễn Tất Thành biết rõ con đường phải đi, sẽ đi và cái đích phải đến. Cuộcthương lượng với khâm sứ Leveque cho Nguyễn Tất Thành thấy rõ một điều:Mọi cuộc đấu tranh nửa vời, thiếu đường lối đúng đắn, thiếu sự lãnh đạo thốngnhất chỉ là sự tuyệt vọng của thành công và nhận thức. Lòng dũng cảm, nếukhông được đặt đúng chỗ, đúng lúc, tất yếu sẽ biến thành sự vô ích của mụcđích. Sức mạnh của “cuộc cách mạng nông dân” – như về sau Hồ Chí Minh đãviết (HCM TT, T 8, tr. 569) là to lớn; nhưng nó chỉ trở thành thế lực một khi cótổ chức chặt chẽ, có đường hướng đấu tranh đúng đắn, rõ ràng. Hơn ai hết,Nguyễn Tất Thành hiểu rõ việc thương lượng với kẻ thù là vô ích và lòng dũngcảm của sự không hiểu biết là vô nghĩa như thế nào! (Hà Văn Thịnh, TCSH – số228, 02 – 2008)Trong vòng mười năm, từ năm 1911 đến năm 1920, Người đã tận dụng mọicơ hội để được đến nhiều nơi trên thế giới. Bàn chân của Người đã từng in dấutrên nhiều nước thuộc các đại lục Âu, Á, Phi, Mỹ. Đặc biệt Người đã dừng chânkhảo sát khá lâu ở ba nước đế quốc lớn nhất thời đó là Mỹ, Anh và Pháp.Với những chuyến đi, những cuộc khảo nghiệm đó, Người đã bổ sung đượccho mình những kiến thức vô cùng phong phú với một tầm nhìn hết sức rộnglớn và bao quát. Người đã nhìn thấy giai cấp tư sản ở thế kỷ này không còn làgiai cấp tiến bộ của thời đại nữa và con đường cách mạng tư sản không phải làcon đường chúng ta nên đi. Còn về các dân tộc thuộc địa và về chủ nghĩa thựcdân, Người rút ra kết luận gần như một chân lý bất hủ: ở đâu bọn đế quốc, thựcdân cũng tàn bạo, độc ác; ở đâu những người lao động cũng bị bóc lột, áp bứcnặng nề và “dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giốngngười bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái làthật mà thôi: tình hữu ái vô sản”. (Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đờihoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1970, tr.10.)Trên cở sở những nhận thức căn bản đó, điều mong muốn tìm cho đượccon đường cứu nước đúng đắn càng thôi thúc, giục giã Nguyễn Tất Thành.Người móc nối liên hệ, trao đổi thư từ với cụ Phan Chu Trinh và một số ngườiViệt Nam yêu nước khác đang sống ở Pháp. Người đã tham gia vào các hoạtđộng chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học, nghệ thuật rất đa dạng. Tham gia vàonhiều tổ chức khác nhau như: Hội những người An Nam yêu nước ở Pháp, tổchức lao động hải ngoại – một tổ chức bí mật của những người lao động từ cácTrường THPT Chuyên Thái Bình280HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIthuộc địa khác nhau đang sống ở nước Anh. Đặc biệt, khoảng đầu năm 1919,Người gia nhập tổ chức tiến bộ nhất ở Pháp lúc bấy giờ là Đảng Xã hội Pháp một chính đảng nhân danh đại biểu cho giai cấp công nhân mà lúc đó phần nàoquan tâm đến quyền lợi của những người lao động, phần nào đồng tình với cuộcđấu tranh của các dân tộc bị áp bức.Từ đây, Nguyễn Tất Thành đã thực sự bước vào cuộc chiến đấu với tư cáchmột nhà hoạt động cách mạng chuyên nghiệp. Người không còn dừng lại ở việcquan sát hay suy ngẫm riêng mình, mà đã thực sự đi vào hoạt động, vào tổ chức,hòa mình vào phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và quần chúng laođộng ngày càng rộng lớn hơn.3. Những kết quảBằng những hoạt động sôi nổi như vậy, Nguyễn Tất Thành đã nhanh chóngnắm bắt được thời cuộc, trên cơ sở đó có sự lựa chọn và định hướng đúng đắncho bản thân và cho dân tộc.Bước ngoặt của sự lựa chọn đó trước hết là ảnh hưởng vang dội của cuộcCách mạng Tháng Mười Nga năm 1917. Tuy lúc đầu chưa hiểu biết đầy đủ, sâusắc về sự kiện vĩ đại này, song vốn có sự nhạy cảm về chính trị, lại có thực tiễncuộc sống của nhân dân bị áp bức và việc ấp ủ, nung nấu nhiều ý tưởng, mongước giải phóng dân tộc, Người đã nhận thấy đây là biến cố lớn “có một sức lôicuốn kỳ diệu”, và ảnh hưởng của nó được Người ví “tựa như Người đi đườngđang khát mà có nước uống, đang đói có cơm ăn”. (Trần Dân Tiên: Những mẩuchuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1970, tr.11.)Nếu trước năm 1911, Nguyễn Tất Thành mới nhận thức được sự bế tắc củacon đường cứu nước cũ, tình trạng đất nước như “trong đêm tối không có đườngra”, thì giờ đây, Nguyễn Tất Thành đã thấy bùng lên một hy vọng về công cuộcđấu tranh giải phóng dân tộc theo con đường mới, nhất định sẽ đưa lại thắng lợi.Dần dần về sau trong hoạt động thực tiễn và nhận thức lý luận, Người hiểu rõhơn về Cách mạng Tháng Mười, về Chủ nghĩa Lê-nin, về con đường Cáchmạng Tháng Mười đã vạch ra cho các dân tộc bị áp bức đấu tranh để tự giảiphóng.Sự kiện thứ hai dẫn đến bước ngoặt của sự lựa chọn của Người đó là khiNgười đọc “Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộcđịa” của V. I. Lê-nin vào năm 1920 đăng trên báo “Nhân đạo” của Đảng Xã hộiPháp. Bản Luận cương đã thu hút sự chú ý đặc biệt của Người và qua lăng kínhcủa chủ nghĩa yêu nước chân chính, Người đã tìm thấy ở đó con đường đúngđắn để giải phóng đất nước khỏi ách thực dân.Sau này, khi nhắc đến sự kiện này, Người đã viết: “Luận cương của Lê-ninlàm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừngđến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nóitrước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ! Đây là cái cầnthiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!”. Từ đó tôi hoàn toànTrường THPT Chuyên Thái Bình281HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VItin theo Lê-nin, tin theo Quốc tế III” (Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đờihoạt động của Hồ Chủ tịch, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1970, tr.12).Như vậy là cùng với ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười, sự tiếp nhậntư tưởng của V.I. Lê-nin đã dẫn đến sự chuyển biến về chất trong nhận thứccũng như trong hành động của Nguyễn Ái Quốc, quyết định việc Người đứng vềphía V.I. Lê-nin và Quốc tế Cộng sản.Sự kiện thứ ba, thể hiện sự khẳng định về sự lựa chọn của Nguyễn Ái Quốcđó là quyết định bỏ phiếu tán thành Quốc tế III và tham gia sáng lập Đảng Cộngsản Pháp tại Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháp (tháng 12-1920). Việc bỏphiếu tán thành Quốc tế Cộng sản, tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp vàtrở thành đảng viên Đảng Cộng sản Pháp đã đánh dấu một bước ngoặt quyếtđịnh trong cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Ái Quốc và cũng là sự khởi đầumột bước ngoặt căn bản trong lịch sử và sự nghiệp cách mạng của dân tộc ViệtNam. Từ đây, lịch sử cách mạng Việt Nam đã chấm dứt sự khủng hoảng vềđường lối, đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân ta vào quỹ đạo cáchmạng vô sản trên thế giới trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là chủ nghĩathực dân, đế quốc, và đi tới thắng lợi cuối cùng là độc lập dân tộc, chủ nghĩa xãhội và chủ nghĩa cộng sản. Trong thắng lợi chung đó, lịch sử dân tộc ta mãi mãighi nhận công lao và vai trò to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, với sự lựa chọncon đường cứu nước đúng đắn – sự lựa chọn lịch sử, đáp ứng những yêu cầu,đòi hỏi đặt ra của cách mạng Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX.III. NHỮNG KIẾN NGHỊVấn đề tìm đường cứu nước của Nguyễn Ái Quốc đã được nhiều tài liệu đềcập đến nhiều, song chúng ta thường đề cập đến một nội dung cứng nhắc là:Nguyễn Ái Quốc đã “đi từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Quốc tế vô sản”để tìm ra con đường cứu nước. Mặt khác, các tài liệu đều phê bình một cáchphiếm diện những hoạt động cứu nước của các bậc tiền bối như Hoàng HoaThám, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh mà không chỉ rõ lý do vì sao họ khôngthể tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn, dẫu nhiệt huyết của họ có thừa!Vậy nên việc đề cập đến tiểu sử Nguyễn Ái Quốc, đặc biệt nổi lên ba vấnđề như đề tài đề cập, trong đó vấn đề thời gian trưởng thành tại Huế có vị trí vôcùng quan trọng trong nhận thức của Nguyễn Ái Quốc về phương pháp tiếp cậncon đường cứu nước cho dân tộc. Đó là cách tiếp cận mới của đề tài.Một kiến nghị thứ hai, thông qua đề tài tác giả muốn đề cập đến cách ra đềthi ở cấp độ Học sinh giỏi tầm Quốc gia trong môn Lịch sử: Nên chăng cần cóđề thi để học sinh thể hiện tư duy của mình trong nhận thức lịch sử, thay vìnhững đề thi mang tính chất tái hiện như các đề thi Học sinh giỏi Quốc gia trongnhững năm gần đây.Ví dụ: Với đề tài trên, bản thân đề xuất câu hỏi của đề thi học sinh giỏi bộmôn Lịch sử như sau:Trường THPT Chuyên Thái Bình282HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIDựa trên những cơ sở nào lịch sử Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷXX lại lựa chọn Nguyễn Ái Quốc là người tìm ra con đường cứu nước cho ViệtNam?Trường THPT Chuyên Thái Bình283HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VICHUYÊN ĐỀ:VIỆC LỰA CHỌN CON ĐƯỜNG CỨU NƯỚC Ở VIỆT NAMTRONG GIAI ĐOẠN CUỐI THẾ KỶ XIX – ĐẦU THẾ KỶ XX.Trần Thị Thu HuyềnTHPT Chuyên Thái BìnhA/ Đặt vấn đề.Trong quá trình giảng dạy giai đoạn lịch sử Việt Nam từ 1858 – 1919, tôithấy rằng đây là một giai đoạn lịch sử rất phong phú, có nhiều nội dung hay vànó thể hiện rõ cả bước chuyển biến giữa cái cũ và cái mới trong nhiều vấn đềnhư: việc lựa chọn con đường cứu nước mới, việc lựa chọn giai cấp lãnh đạomới, những hình thức và phương pháp đấu tranh mới…Trong khuôn khổ báo cáohội thảo lần này, tôi xin lựa chọn báo cáo chuyên đề: Việc lựa chọn con đườngcứu nước ở Việt Nam trong giai đoạn cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX, nhằmchia sẻ cho giáo viên và học sinh bộ môn lịch sử nói chung, đặc biệt là giáo viêndạy đội tuyển và học sinh dự thi HSG quốc gia môn lịch sử nói riêng những vấnđề cơ bản về nội dung lịch sử quan trọng này.Mục đích của tôi khi lựa chọn vấn đề này để giảng dạy cho học sinh là:- Trước tiên là giúp các em hệ thống lại kiến thức về giai đoạn lịch sửcuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX với những nội dung sau:+ Hoàn cảnh Việt Nam trước nguy cơ xâm lược của thực dân Pháp.+ Quá trình xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp và cuộc kháng chiếncủa nhân dân ta.+ Các phong trào đấu tranh cứu nước cuối thế kỉ XIX theo hệ tư tưởngphong kiến như phong trào Cần Vương hay cuộc khởi nghĩa nông dân YênThế…+ Phong trào đấu tranh yêu nước đầu thế kỉ XX với những hoạt động tiêubiểu của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh…+ Những hoạt động cứu nước đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc.Trường THPT Chuyên Thái Bình284HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI- Thứ hai, qua chuyên đề tôi muốn học sinh nhận thức được về tinh thầnyêu nước, đấu tranh bất khuất, không ngại hi sinh gian khổ của nhân dân ta.Giúp học sinh thấy được rằng muốn gặt hái được thành công phải nỗ lực hếtmình, phải trải qua nhiều thử nghiệm, nhiều khó khăn thậm chí là cả thất bại. Từđó học sinh thêm trân trọng những kết quả mà cha ông ta đã tạo lập được và cóý thức phát huy những thành quả đó.- Thứ ba, để học sinh thấy được rằng con đường cách mạng Xã hội chủnghĩa mà ta đã lựa chọn và đi theo là hoàn toàn phù hợp với lịch sử Việt Nam. Họcsinh sẽ nhận thức được rằng tuy hiện nay quá trình xây dựng CNXH ở nước ta còngặp nhiều khó khăn nhưng chúng ta sẽ vượt qua để phát triển và khẳng định vị trícủa mình trong khu vực cũng như trên thế giới.Chuyên đề gồm 3 chương:Chương I: Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược củanhân dân Việt Nam (1858 – 1884).Chương II: Con đường cứu nước giải phóng dân tộc cuối thế kỉ XIX(1884 – 1896).Chương III: Con đường cứu nước giải phóng dân tộc những nămđầu thế kỉ XX.B/ Nội dung.Chương I: Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược củanhân dân Việt Nam (1858 – 1884).I. Tình hình Việt Nam trước nguy cơ xâm lược của thực dân Pháp.Từ nửa sau thế kỉ XIX, các nước tư bản phương Tây đã chuyển sang giaiđoạn đế quốc chủ nghĩa, ngày càng ráo riết tìm kiếm thị trường ở các nướcphương Đông. Những vùng đất chưa bị thôn tính, trong đó có Việt Nam, đều bịđe doạ nghiêm trọng.Trường THPT Chuyên Thái Bình285HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIĐúng vào lúc đó, chế độ phong kiến Việt Nam đang bị khủng hoảng trầmtrọng về tất cả các mặt:Về chính trị, dựa vào sự ủng hộ của tập đoàn địa chủ miền Nam và sự giúpđỡ quân sự của tư bản Pháp, Nguyễn Ánh đã đánh bại triều Tây Sơn để lên ngôihoàng đế với niên hiệu Gia Long (1802). Sau Nguyễn Ánh, các vua kế tiếp (MinhMạng, Thiệu Trị, Tự Đức) ra sức xây dựng và tăng cường chế độ quân chủchuyên chế nhằm duy trì quyền thống trị lâu dài của dòng họ. Mọi quyền hànhđều tập trung vào tay vua, các quan lại chỉ thừa hành lệnh vua. Nhà nước mangnặng tính bảo thủ, lo ngại đổi mới, đã gạt bỏ nhiều đề nghị cải cách duy tân củamột số quan lại, sĩ phu yêu nước tiến bộ.Các vua triều Nguyễn khi lên cầm quyền đều có ý thức nắm các hoạt động vănhoá để tuyên truyền tư tưởng Nho giáo, trên cơ sở đó củng cố trật tự phong kiến,bảo vệ chính quyền chuyên chế.Về kinh tế, nông nghiệp ngày càng bi đát. Ruộng đất phần lớn tập trungtrong tay quan lại, địa chủ. Nông dân chỉ được phần đất nhỏ và xấu, năng suấtthấp, đời sống do đó rất cực khổ. Đó còn chưa kể đến tô cao thuế nặng, phuphen tạp dịch, thiên tai lũ lụt làm mất mùa…Công, thương nghiệp cũng ngày càng bế tắc. Các công trường sản xuất,cả những thợ giỏi ở địa phương đều do triều đình nắm giữ, sử dụng. Triều đìnhgiữ độc quyền khai mỏ trong cả nước, khai thác theo lối thủ công nên năng suấtthấp. Đối với một số mỏ cho Hoa kiều hoặc người Việt khai thác thì đánh thuếrất nặng, lại còn độc quyền thu mua các kim loại khai thác được theo giá ấnđịnh.Các ngành nghề thủ công truyền thống trong nhân dân không có điều kiệnphát triển. Do đời sống nhân dân đói khổ nên sức mua thấp, thị trường trongnước hầu như tê liệt, trong khi đó ngoại thương bị ngăn cấm. Tình hình đó làmảnh hưởng nghiêm trọng đến ngành thương nghiệp.Trường THPT Chuyên Thái Bình286HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIVề xã hội, kể từ năm 1802 Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế, nhà Nguyễnđã đối lập gay gắt với nhân dân. Triều đình Nguyễn thi hành nhiều chính sáchbảo thủ và phản động trên tất cả các mặt, làm cho mâu thuẫn xã hội thêm gaygắt, dẫn đến bùng nổ quyết liệt các cuộc đấu tranh của nông dân và các tầng lớpnhân dân khác. Tuy nhiên, triều đình đã dập tắt các phong trào đấu tranh đótrong biển máu.Rõ ràng trước nguy cơ xâm lược của tư bản Pháp, chính sách của triềuNguyễn đã làm cho đất nước, nhân dân ta “sức mòn, lực kiệt”, nội bộ chia rẽsâu sắc, đặt dân tộc ta vào thế bất lợi trước cuộc xâm lược vũ trang của thực dânPháp.II. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1858 – 1884).1. Chống Pháp đánh chiếm Đà Nẵng và các tỉnh Nam Kì (1858 – 1867).Ngày 1/9/1858, thực dân Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng, mở đầu cuộcchiến tranh xâm lược Việt Nam. Kế hoạch của chúng là đánh chiếm và dùng ĐàNẵng làm bàn đạp đánh kinh thành Huế buộc triều đình phải nhanh chóng đầuhàng. Nhưng vừa đổ bộ lên bán đảo Sơn Trà, quân Pháp đã vấp phải sức khángcự của quân đội triều đình do Nguyễn Tri Phương chỉ huy, cùng với đó là nhữngđội quân nông dân kéo tới phối hợp với quân triều đình đánh giặc. Sau 5 thángbị giam chân tại chỗ, khó khăn ngày thêm chồng chất, quân Pháp đã phải vàoNam, mở mặt trận mới ở Gia Định (2/1859).Trưa ngày 17/2/1859, quân Pháp chiếm được thành Gia Định. Tháng3/1860, Nguyễn Tri Phương được điều động từ Đà Nẵng vào chỉ huy mặt trậnGia Định. Ông huy động quân dân gấp rút xây dựng một hệ thống phòng ngựkiên cố, lấy đại đồn Chí Hoà làm đại bản doanh, tập trung quân sĩ, vũ khí vàlương thực đề phòng giặc đánh rộng ra.Cuối tháng 2/1861, sau khi cùng các nước tư bản phương Tây can thiệpvũ trang vào Trung Quốc, quân Pháp đã quay về Gia Định, dồn sức tấn công đạiđồn Chí Hoà. Quân triều đình không trụ nổi trước hoả lực của địch, Nguyễn TriTrường THPT Chuyên Thái Bình287HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIPhương ra lệnh cho quân lính bỏ đại đồn, rút về phía sau cố thủ (25/2/1861).Thừa thắng, Pháp chiếm luôn Định Tường, Biên Hoà và Vĩnh Long. Trước tìnhhình đó, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta vẫn diễn ra mạnh mẽtiêu biểu như nghĩa quân của Nguyễn Trung Trực đốt cháy tàu Pháp trên sôngNhật Tảo, nghĩa quân của Trương Định ở Gò Công…Trong lúc cuộc khángchiến của nhân dân miền Nam đang phát triển thì triều đình Nguyễn đã kí Hiệpước Nhâm Tuất (5/6/1862) cắt 3 tỉnh miền Đông và đảo Côn Lôn cho Pháp,cùng nhiều điều khoản khác.Sau Hiệp ước 1862, thực dân Pháp thực hiện âm mưu chiếm nốt 3 tỉnhmiền Tây Nam Kì. Sáng ngày 20/6/1867, thực dân Pháp kéo tới dàn trận trướcthành Vĩnh Long, đưa thư đòi nộp thành. Đại diện của triều đình là Phan ThanhGiản đã nộp thành cho chúng và yêu cầu quan ở hai tỉnh An Giang và Hà Tiêncũng phải làm theo. Như vậy, chỉ trong vòng 5 ngày (từ 20 đến 24/6/1867), thựcdân Pháp đã chiếm gọn 3 tỉnh miền Tây mà không mất một viên đạn nào.Nhưng ngay sau đó chúng phải đối mặt với cuộc kháng chiến mạnh mẽ củanhân dân 3 tỉnh miền Tây, tiêu biểu như nghĩa quân của Nguyễn Trung Trựchoạt động mạnh ở Hà Tiên, Rạch Giá, Phú Quốc; nghĩa quân của Nguyễn HữuHuân hoạt động mạnh ở Mỹ Tho…Phong trào chống Pháp của nhân dân miềnNam dấy lên từ miền Đông sau đó lan qua miền Tây khiến cho kẻ thù khiếp sợ.Cuối cùng, do triều đình cố tình bỏ rơi, tìm cách ngăn cản, thậm chí tiếp tay choPháp đàn áp phong trào nên các cuộc khởi nghĩa lần lượt thất bại. Nhưng phongtrào chỉ tạm lắng xuống chờ đến khi có thời cơ thuận lợ sẽ bùng nổ trở lại.2. Chống Pháp mở rộng đánh chiếm Bắc Kì và Trung Kì (1873 – 1884).Âm mưu đánh chiếm Bắc Kì đã được thực dân Pháp lên kế hoạch từ lâu.Tháng 10/1873, chớp thời cơ triều đình Nguyễn yêu cầu Pháp “giải quyết vụĐuypuy”, Gacniê đã đem quân đánh chiếm Bắc Kì lần thứ nhất. Mờ sáng ngày20/11/1873, Gacniê hạ lệnh tấn công thành Hà Nội. Tổng đốc Nguyễn TriPhương đã bị trọng thương trong khi chỉ huy chiến đấu. Quân Pháp bắt giữ rồiTrường THPT Chuyên Thái Bình288HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIcố tình chạy chữa vết thương cho ông hòng mua chuộc về sau, nhưng ông đãnhịn ăn, cự tuyệt cho đến chết. Con trai ông là Nguyễn Lâm cũng hi sinh anhdũng.Sau khi chiếm được thành Hà Nội, quân Pháp toả đi đánh chiếm các tỉnhđồng bằng sông Hồng như Hưng Yên, Hải Dương, Phủ Lý, Ninh Bình, NamĐịnh trong vòng một tháng. Tuy nhiên, ngay từ đầu chúng đã gặp phải sứckháng cự quyết liệt của quân dân Hà Nội và khắp các nơi trên miền Bắc. Tiêubiểu nhất là trận Cầu Giấy (Hà Nội) ngày 21/12/1873. Trong trận này, quân tado Hoàng Tá Viêm chỉ huy phối hợp với đội quân Cờ đen của Lưu Vĩnh Phúcđã phục kích chặn đánh địch ở Cầu Giấy làm chủ tướng Gacniê chết tại trận.Chiến thắng Cầu Giấy (lần 1) đã làm cho quân Pháp hoang mang lo sợ, muốnbỏ thành mà chạy. Còn quân dân ta ở các nơi thì vô cùng phấn khởi, sẵn sàngxông lên quét sạch quân giặc. Nhưng triều đình Nguyễn một lần nữa bỏ lỡ thờicơ, không dám cùng nhân dân đánh giặc mà lại thương lượng với Pháp và điđến kí kết hiệp ước Giáp Tuất (15/3/1874). Với hiệp ước này, triều đình đã thừanhận chủ quyền của Pháp ở cả 6 tỉnh Nam Kì, nền ngoại giao Việt Nam lệ thuộcvào Pháp…Hiệp ước 1874 đánh dấu bước mới trong quá trình đầu hàng của triềuNguyễn, làm cho nhân dân cả nước hết sức phẫn nộ.Với hiệp ước 1874, Pháp đã chiếm được Nam Kì nhưng vẫn chưa thoảmãn âm mưu của chúng là chiếm toàn bộ Việt Nam. Vì vậy, sau hiệp ước chúngvẫn chuẩn bị đầy đủ những điều kiện để đánh chiếm Bắc Kì một lần nữa.Tháng 3/1882, lấy cớ triều đình Nguyễn vi phạm hiệp ước 1874, thực dânPháp đã phái Rivie mang quân ra Bắc lần thứ 2. Sáng ngày 25/4/1882, Rivie gửitối hậu thư cho tổng đốc thành Hà Nội là Hoàng Diệu yêu cầu ông nộp thành.Hạn trả lời thư chưa hết, hắn đã ra lệnh nổ súng đánh thành. Cuộc chiến đấudiễn ra ác liệt nhưng do hoả lực của giặc mạnh nên ta đã không chặn được bướctiến của chúng. Tổng đốc Hoàng Diệu đã dùng khăn lụa tuẫn tiết trong vườn VõMiếu, nêu cao tinh thần yêu nước bất khuất, một lòng sống chết với thành. SauTrường THPT Chuyên Thái Bình289HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIkhi chiếm xong thành Hà Nội (lần 2), quân Pháp lại mở rộng đánh chiếm cáctỉnh thành vùng đồng bằng sông Hồng. Những hành động của Rivie làm nhândân ta vô cùng căm giận. Nhân dân ta ở Hà Nội đã xiết chặt vòng vây. Ngày19/5/1883, tại Cầu Giấy, quân Pháp đã bị quân dân ta phục kích lần thứ 2, chủtướng Rivie bị chết tại trận, số còn lại tháo chạy về thành. Chiến thắng CầuGiấy (lần 2) đã làm nô nức nhân dân ta, quân Pháp hoang mang lo sợ, triều đìnhNguyễn lại một lần nữa nuôi ảo tưởng lợi dụng chiến thắng của nhân dân đểđàm phán với giặc.Tuy nhiên, tình hình của Pháp lúc này đã khác trước. Chúng không có ýđịnh thương lượng với triều đình Nguyễn mà muốn lợi dụng luôn cái chết củaRivie để làm cái cớ cho cuộc tấn công quân sự mới. Đúng lúc đó, vua Tự Đứcqua đời, triều đình Nguyễn rơi vào cảnh chia rẽ lục đục trong vấn đề tôn vươngvì vua Tự Đức không có con nối dõi.Chớp thời cơ, thực dân Pháp quyết định đánh thẳng vào Huế buộc triềuđình phải đầu hàng. Sáng 18/8/1883, quân Pháp tấn công cửa biển Thuận An.Quân ta kháng cự quyết liệt, tới chiều ngày 20/8 quân Pháp mới đổ bộ được lênThuận An. Mất Thuận An, triều đình Nguyễn vội xin đình chiến và chấp nhậnkí kết Hiệp ước Hăcmăng (25/8/1883) sau đó là Hiệp ước Patơnôt (6/6/1884),xác lập quyền đô hộ lâu dài và chủ yếu của Pháp ở Việt Nam. Đến đây, nhànước phong kiến Nguyễn đã đầu hàng hoàn toàn trước sự xâm lược của thựcdân Pháp. Nhưng phong trào đấu tranh của nhân dân ta vẫn tiếp tục phát triểntrong các giai đoạn tiếp theo.3. Nhận xét.Như vậy, quá trình xâm lược của Pháp đối với Việt Nam kéo dài gần 30năm và luôn vấp phải sự kháng cự quyết liệt của nhân dân ta. Trong thời gian đóta đã có nhiều cơ hội có thể đuổi được Pháp hoàn toàn ra khỏi nước ta. Nhưngtriều đình Nguyễn đã khước từ tất cả các cơ hội đó, đi từ kháng chiến sang đầuTrường THPT Chuyên Thái Bình290HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIhàng. Có thể nói triều đình phong kiến không còn là chỗ dựa tin tưởng chophong trào kháng chiến của nhân dân ta.Chương II: Con đường cứu nước giải phóng dân tộc cuối thế kỉ XIX(1884 – 1896).I. Con đường cứu nước theo hệ tư tưởng phong kiến – phong trào CầnVương.1. Nguyên nhân bùng nổ phong trào Cần Vương.Sau khi hoàn thành cuộc tấn công xâm lược nước ta, thực dân Phápchuyển sang chính sách “bình định”, tăng cường lực lượng quân sự tiến hànhnhững cuộc hành quân triệt hạ các căn cứ kháng chiếcủa nhân dân ta đã có từtrước hoặc vừa mới được hình thành ở các địa phương.Trong triều đình, đại bộ phận vua quan đã chấp nhận đầu hàng. Tuynhiên, phe chủ chiến do Tôn Thất Thuyết đứng đầu vẫn ngầm chuẩn bị chốngPháp, ấp ủ hi vọng khôi phục chủ quyền dân tộc khi thời cơ tới. Tôn ThấtThuyết đã bí mật cho người liên kết với các văn thân, sĩ phu ở các tỉnh, bí mậtcho xây dựng căn cứ Tân Sở trên miền rừng núi tỉnh Quảng Trị phòng khi cóbiến thì đưa vua và triều đình ra cố thủ. Một số đồn sơn phòng cũng được xâydựng ở Quảng Bình, Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hoá…, các đội quân Đoàn Kiệt,Phấn Nghĩa ngày đêm luyện tập chờ ngày sống mái với quân thù. Tôn ThấtThuyết còn tìm đưa một vị vua yêu nước lên ngôi. Ngày 2/8/1884, Ưng Lịch lênngôi vua lấy hiệu là Hàm Nghi.Hành động của phái chủ chiến khiến thực dân Pháp vô cùng lo lắng và cónhững hành động uy hiếp phái chủ chiến. Trước tình thế đó, Tôn Thất Thuyếtbuộc phải ra tay hành động trước.Đêm 4 rạng ngày 5/7/1885, Tôn Thất Thuyết bất ngờ cho quân đánh úptoà Khâm sứ và đồn Mang Cá. Quân Pháp lúc đầu hoảng hốt đối phó, nhưng sauđó chủng củng cố lại lực lượng và tổ chức phản công ngay trong sáng 5/7. TônTrường THPT Chuyên Thái Bình291HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIThất Thuyết đã đưa vua Hàm Nghi cùng đoàn tuỳ tùng chạy lên sơn phòng TânSở (Quảng Trị).Tại sơn phòng Tân Sở, ngày 13/7/1885, Tôn Thất Thuyết nhân danh nhàvua xuống chiếu Cần vương, kêu gọi văn thân cùng nhân dân cả nước đứng lêngiúp vua cứu nước. Chiếu Cần vương đã thổi bùng ngọn lửa yêu nước vốn đangâm ỉ cháy trong quần chúng nhân dân và nhanh chóng biến thành một phongtrào lớn, kéo dài hơn 10 năm, tới cuối thế kỉ XIX mới bị dập tắt.2. Đặc điểm của phong trào Cần vương.Phong trào Cần vương kéo dài 12 năm từ 1885 đến 1896, nổ ra trên phạmvi rộng lớn từ nam Trung Bộ chạy dài tới biên giới Việt – Trung, lan rộng tớibiên giới Việt – Lào.Trong giai đoạn đầu (1885 – 1888), phong trào nổ ra ở khắp các nơi vớinhiều cuộc khởi nghĩa như Mai Xuân Thưởng (Bình Định), Lê Trung Đình(Quảng Ngãi), Nguyễn Duy Hiệu (Quảng Nam), Phan Đình Phùng (Hà Tĩnh),Nguyễn Xuân Ôn (Nghệ An), Phạm Bành, Đinh Công Tráng (Thanh Hoá),Nguyễn Thiện Thuật (Hưng Yên), Tạ Hiện (Thái Bình)…Điểm nổi bật nhất củaphong trào Cần vương trong giai đoạn này là trong chừng mực nhất định phongtrào còn đặt dưới sự chỉ huy thống nhất của một triều đình kháng chiến, đứngđầu là vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết. Trong thời gian đầu phong trào đãgiành được một số thắng lợi nhất định. Nhưng sau đó, do địch có sức mạnhquân sự áp đảo, dồn dập mở nhiều cuộc tấn công vào các căn cứ kháng chiếnnên phong trào bị tổn thất lớn. Năm 1886, Tôn Thất cũng phải để vua HàmNghi ở lại với hai con trai của ông rồi lên đường sang Trung Quốc cầu viện.Trước vòng vây của thực dân Pháp, đến đầu tháng 11/1888, vua Hàm Nghi cũngbị bắt và bị đưa đi đày ở Angiêri cho đến khi qua đời ở đóSang giai đoạn thứ 2 (1889 – 1896), phong trào không phát triển rầm rộ,rộng khắp như giai đoạn trước đó mà thu hẹp dần, trọng tâm phong trào chuyểnlên vùng thượng du và trung du. Những cuộc khởi nghĩa còn lại là những cuộcTrường THPT Chuyên Thái Bình292HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIkhởi nghĩa lớn, có trình độ tổ chức cao, có địa bàn hoạt động rộng. Tiêu biểunhư khởi nghĩa Hương Khê ở Hà Tĩnh (1885 – 1896) do Phan Đình Phùng vàCao Thắng lãnh đạo. Cuối cùng, phong trào Cần vương chấm dứt khi tiếng súngkháng chiến của nghĩa quân Hương Khê tắt hẳn trên núi Vụ Quang (Hà Tĩnh)vào cuối năm 1896.3. Nhận xét.Trong bối cảnh lịch sử của đất nước nửa cuối thế kỉ XIX, chiếu Cầnvương đã đóng vai trò hết sức quan trọng vì nó đã nêu lên được mục đích, mụctiêu, động lực, đối tượng kêu gọi, người lãnh đạo phong trào kháng chiến chốngPháp. Tuy nhiên, chiếu Cần vương và phong trào Cần vương vẫn mang nặng tưtưởng phong kiến vì trong giai đoạn này người cầm cân nảy mực, có uy thế vềkinh tế, chính trị vẫn là giai cấp phong kiến. Vì vậy, trong giai đoạn này, ngoàingọn cờ phong kiến ra thì chưa có hệ tư tưởng nào thay thế được nó.Tuy nhiên, chiếu Cần vương cũng chỉ là ngọn cờ thúc đẩy phong tràokháng chiến chống Pháp trong giai đoạn đầu. Sang đến giai đoạn sau, khi vuaHàm Nghi bị bắt, phong trào kháng chiến vẫn tiếp tục diễn ra nhưng ý nghĩa“Cần vương” đã không còn như cũ. Lúc này đây, nhân dân tham gia khángchiến không còn vì chế độ phong kiến Nguyễn và một triều đình có “vua hiền,tôi giỏi” nữa, người ta chiến đấu chỉ vì độc lập tự do mà thôi. Thực sự hệ tưtưởng phong kiến đã không còn có thể tập hợp được nhân dân cả nước nữa vì nóđã trở nên quá lỗi thời và lạc hậu. Từ thế kỉ XVI, chế độ phong kiến Việt Namđã có biểu hiện của sự khủng hoảng suy vong, sang đến thế kỉ XIX nó càng trởnên trầm trọng khi chính quyền Nguyễn ra sức thực hiện những chính sách phảnđộng. Yêu cầu đặt ra đối với xã hội Viêt Nam lúc bấy giờ là phải xoá bỏ quanhệ sản xuất cũ thay thế quan hệ sản xuất mới tiến bộ hơn.Như vậy, thực tế lịch sử đã chứng minh con đường cứu nước theo hệ tưtưởng phong kiến đã không còn phù hợp với nhân dân Việt Nam. Phong tràoyêu nước Việt Nam cần phải có một luồng gió mới.Trường THPT Chuyên Thái Bình293HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIII. Cuộc khởi nghĩa tự phát cuối thế kỉ XIX – KN nông dân Yên Thế.1. Đặc điểm của KN nông dân Yên Thế.Khởi nghĩa nông dân Yên Thế nổ ra trước phong trào Cần vương và kếtthúc muộn hơn phong trào Cần vương, từ năm 1884 đến năm 1913.Yên Thế nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Bắc Giang, là nơi tập trung dân nghèo từkhắp các tỉnh vùng đồng bằng Bắc Kì về đây sinh sống. Khi thực dân Pháp mởrộng chiếm đóng Bắc Kì, Yên Thế trở thành đối tượng bình định của chúng. Vìvậy, mục tiêu của KN nông dân Yên Thế là bảo vệ quê hương, làng xóm, cuộcsống của chính những người dân ở đó.Lãnh đạo và lực lượng tham gia KN chủ yếu là những người nông dân,không có tôn chỉ mục đích rõ ràng nên phong trào mang tính tự phát.Khởi nghĩa nông dân Yên Thế cuối cùng bị thất bại do nhiều nguyênnhân như so sánh lực lượng chênh lệch, diễn ra ở địa bàn nhỏ hẹp huyện YênThế và một số vùng núi xung quanh thuộc Bắc Giang, Bắc Ninh, Thái Nguyên.2. Nhận xét.Khởi nghĩa nông dân Yên Thế tuy thất bại nhưng nó có ý nghĩa rất lớn,nó thể hiện tinh thần yêu nước và ý chí đấu tranh bất khuất của nhân dân ta, thểhiện sức mạnh to lớn của giai cấp nông dân.Phong trào tuy mang tính tự phát nhưng nó vẫn bị chi phối bởi hệ tưtưởng phong kiến. Mà hệ tư tưởng phong kiến không còn là sự lựa chọn thíchhợp của phong trào yêu nước Việt Nam giai đoạn cuối thế kỉ XIX. Khởi nghĩanông dân Yên Thế cũng chứng minh sức mạnh to lớn của người nông dânnhưng họ không thể trở thành người lãnh đạo vì giai cấp nông dân không đạidiện cho một phương thức sản xuất nào cả. Hơn nữa, người nông dân có tưtưởng tư hữu rất lớn khiến họ không có lý tưởng để tạo ra một chế độ xã hộimới.Như vậy, cuôc đấu tranh tự phát của những người nông dân cũng khôngphải là sự lựa chọn của lịch sử Việt Nam.Trường THPT Chuyên Thái Bình294HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIChương III: Con đường cứu nước giải phóng dân tộc những nămđầu thế kỉ XX.I. Sự ra đời của trào lưu dân tộc chủ nghĩa.1. Điều kiện xuất hiện trào lưu dân tộc chủ nghĩa.Vào cuối thế kỉ XIX, nhất là đầu thế kỉ XX, những phong trào dân tộc vàcải cách dân chủ theo khuynh hướng tư sản đã trở nên phổ biến và nổi bật ởnhiều nước châu Á. Có thể kể đến cuộc cải cách Minh Trị ở Nhật Bản, cuộc vậnđộng duy tân và cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc, cải cách Rama ở Xiêm…Những phong trào này đã tác động mạnh mẽ đến tình hình chính trị, xã hội nướcta.Trong khi đó, ở nước ta phong trào Cần vương thất bại đã đánh dấu sựthất bại của khuynh hướng cứu nước phong kiến. Nó đặt ra yêu cầu phải tìm ramột con đường cứu nước mới.Sau khi dập tắt phong trào Cần vương, thực dân Pháp đã thực hiệnchương trình khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897 – 1914). Cuộc khai thác đãtác động không nhỏ tới tình hình kinh tế, xã hội Việt Nam. Xã hội Việt Namphân hoá mạnh mẽ, tạo điều kiện tiền đề cho việc tiếp nhận một khuynh hướngcứu nước mớiĐi tiên phong trong việc tiếp thu và truyền bá tư tưởng mới dân chủ tưsản là những sĩ phu yêu nước phong kiến. Vốn là những người yêu nước và cótri thức, họ tiếp nhận tư tưởng mới và tạo thành phong trào yêu nước khuynhhướng chính trị mới – dân chủ tư sản. Tiêu biểu cho phong trào là Phan BộiChâu và Phan Chu Trinh. Họ nhận được sự ủng hộ của những nhà tư sản, tầnglớp tiểu tư sản mới nảy sinh trong các đô thị, cùng toàn thể đồng bào yêu nước.2. Những phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản.Phong trào yêu nước trong những năm đầu thế kỉ XX là thời kì quá độ từphạm trù cũ phong kiến sang phạm trù mới tư sản. Nó diễn ra phong phú, sôiđộng thu hút nhiều lực lượng tham gia dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu yêu nướcTrường THPT Chuyên Thái Bình295HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VItiến bộ. Phong trào này thể hiện ở 2 xu hướng: xu hướng bạo động do Phan BộiChâu đại diện và xu hướng cải cách do Phan Chu Trinh đề xướng.Phan Bội Châu (1867 – 1940), xuất thân trong một gia đình nhà nhonghèo yêu nước huyện Nam Đàn – Nghệ An. Kế thừa và tiếp thu truyền thốngđấu tranh vũ trang của quê hương mình, ông đã sớm có hoài bão cứu nước, cứudân khỏi ách nô lệ. Ông chủ trương dùng bạo động vũ trang đánh đuổi thực dânPháp để khôi phục độc lập dân tộc. Ông đã tổ chức lực lượng trong nước, tranhthủ viện trợ từ bên ngoài mà trước hết là từ Nhật.Năm 1905, ông thành lập Duy Tân hội và chọn Cường Để, cháu đích tôn6 đời của Gia Long, làm hội chủ. Mục đích của hội là đánh đuổi giặc Phápgiành độc lập dân tộc, thiết lập nền quân chủ lập hiến.Từ cuối năm 1905 đến giữa năm 1908, ông đã tổ chức phong trào ĐôngDu, tuyển chọn và đưa gần 200 thanh niên sang Nhật học tập. Phong trào đangtiến hành thuận lợi thì từ tháng 8/1908 thực dân Pháp đã câu kết với chính phủNhật để đàn áp phong trào. Tháng 3/1909, Phan Bội Châu bị trục xuất khỏiNhật Bản. Hội Duy Tân cũng ngừng hoạt động.Năm 1911, cách mạng Tân Hợi ở Trung Quốc bùng nổ và giành thắnglợi. Phan Bội Châu về Trung Quốc, thành lập Việt Nam Quang phục hội(6/1912) với mục đích: đánh đuổi giặc Pháp, khôi phục nước Việt Nam, thànhlập nước cộng hoà dân quốc Việt Nam. Ông còn thành lập Việt Nam Quangphục quân với chủ trương dùng bạo lực đánh đuổi giặc Pháp. VN Quang phụcquân đã nhiều lần cử người về nước trừ khử những tên thực dân đầu sỏ và taysai đắc lực của chúng. Thực dân Pháp đã tăng cường khủng bố. Ngày24/12/1913, Phan Bội Châu bị bắt giam tại nhà tù Quảng Đông (Trung Quốc).Hoạt động của Việt Nam Quang phục hội nói riêng và cách mạng Việt Nam nóichung gặp nhiều khó khăn.Trường THPT Chuyên Thái Bình296HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIPhan Chu Trinh (1872 – 1926), sinh ra tại phủ Tam Kì, tỉnh Quảng Nam.Ông xuất thân trong một gia đình theo nghề võ, từ nhỏ đã nổi tiếng thông minh,học giỏi và sớm có ý thức cứu nước cứu nhà.Năm 1905, Phan Chu Trinh sang Nhật tham quan các trường học, khảocứu tình hình giáo dục, chính trị của Nhật Bản. Ở đây, ông đã gặp Phan BộiChâu và rất hoan nghênh phong trào Đông Du nhưng phản đối chủ trương bạođộng và cầu viện nước ngoài của Phan Bội Châu. Phan Chu Trinh chủ trươngđấu tranh ôn hoà, công khai nhằm “khai thông dân trí, mở mang dân quyền, dựavào Pháp đánh đổ vua quan phong kiến hủ bại”.Từ năm 1906, dưới sự lãnh đạo của Phan Chu Trinh và những sĩ phu tiếnbộ đất Quảng, một cuộc vận động duy tân đã dấy lên ở Trung Kì. Năm 1908,phong trào bị thực dân Pháp đàn áp, Phan Chu Trinh bị bắt và bị kết án tù 3 nămở Côn Đảo.Năm 1911, thực dân Pháp đưa ông sang Pháp. Suốt những năm sống ởPari, ông vẫn theo đuổi đường lối cải cách, kêu gọi thực hiện dân quyền, cảithiện dân sinh.Ngoài những hoạt động của Phan Bội Châu và Phan Chu Trinh còn cóhoạt động của những nhà nho yêu nước khác như Lương Văn Can với việcthành lập Đông Kinh nghĩa thục. Đây vừa là trường học, vừa là một tổ chức yêunước với mục đích đổi mới phương pháp giáo dục, tuyên truyền cổ vũ các tưtưởng mới vào sâu trong quần chúng nhân dân.3. Nhận xét.Những hoạt động cứu nước của 2 nhà yêu nước họ Phan là sự tiếp nốiphong trào yêu nước và cách mạng nước ta sau thất bại của phong trào Cầnvương. Đồng thời nó cũng đánh dấu sự phát triển của phong trào yêu nước vàcách mạng Việt Nam, mở đầu cho khuynh hướng dân chủ tư sản ở nước ta.Phong trào đã có đóng góp to lớn cho cách mạng Việt Nam:Trường THPT Chuyên Thái Bình297HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI- Thức tỉnh, cổ vũ mạnh mẽ lòng yêu nước, khơi dậy ý chí đấu tranh giànhđộc lập dân tộc của nhân dân ta.- Tạo ra một sự chuyển biến về chất trong nội dung tư tưởng cho phongtrào yêu nước, mở ra một khuynh hướng cứu nước mới: khuynh hướngdân chủ tư sản.- Làm phong phú các hình thức đấu tranh của phong trào yêu nước ViệtNam đầu thế kỉ XX: vừa vũ trang bạo động, vừa cải cách canh tân đấtnước, đổi mới về chính trị, văn hoá xã hội sâu rộng trong quần chúngnhân dân.Những phong trào yêu nước đầu thế kỉ XX tuy diễn ra mạnh mẽ nhưng cuốicùng đều bị thất bại. Xét riêng trong tư tưởng của từng ông, chúng ta thấy:Phan Bội Châu chủ trương bạo động là đi theo truyền thống của dân tộcnhưng ông lại chủ trương dựa vào Nhật để đánh Pháp. Như vậy, ông đã khôngnhìn rõ được bản chất của chủ nghĩa đế quốc là như nhau, bất luận là da trắnghay da vàng, chúng đều là những kẻ ăn bám và bóc lột.Còn Phan Chu Trinh, ông lại chủ trương dựa vào Pháp để đánh đổ vua quanphong kiến mà không thấy được rằng thực dân Pháp mới là kẻ thù lớn nhất củadân tộc.Như vậy, cả hai ông đã tiếp thu tư tưởng cứu nước mới nhưng do tiếp thuchưa “tới nơi” nên còn nhiều hạn chế. Hơn nữa, tư tưởng dân chủ tư sản đối vớinước ta là mới mẻ, nhưng nếu so với sự phát triển của nó thì nó đã trở nên lỗithời và đặc biệt không thể phù hợp với xã hội Việt Nam. Xã hội Việt Nam là xãhội thuộc địa nửa phong kiến, tồn tại nhiều mâu thuẫn trong đó cơ bản nhất làmâu thuẫn dân tộc và giai cấp. Muốn thực sự được giải phóng, ta phải thực hiệntốt cả hai nhiệm vụ dân tộc và dân chủ. Nhưng nếu lựa chọn con đường cứunước theo khuynh hướng dân chủ tư sản ta sẽ không làm được điều đó. Và thựctế lịch sử phong trào yêu nước Việt Nam trong những năm tiếp theo, đặc biệt làTrường THPT Chuyên Thái Bình298HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIsự ra đời, hoạt động và thất bại của Việt Nam Quốc dân đảng đã chứng minhđiều đó.Sự thất bại của phong trào là cơ sở để Nguyễn Ái Quốc ra đi và lựa chọncon đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc: con đường cách mạng vô sản.II. Những hoạt động đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc và việc lựa chọn conđường cứu nước mới.1.Nguyên nhân NAQ ra đi tìm đường cứu nước.Nguyễn Ái Quốc tên ngày nhỏ là Nguyễn Sinh Cung, sinh ngày19/5/1890 tại làng Hoàng Trù, xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, Nghệ An. Ngườisinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, có cha là cụ Nguyễn Sinh Cung đãtừng đỗ phó bảng, mẹ là bà Hoàng Thị Loan.Người sinh ra trong cảnh nước mất nhà tan, nhân dân rên xiết lầm thandưới gót giày xâm lược của thực dân Pháp. Dưới ách thống trị của thực dânPháp, nhân dân Việt Nam không chỉ bị bóc lột về kinh tế, mà còn phải chịu nỗinhục mất nước. Độc lập tự do là khát vọng của cả dân tộc Việt Nam. Hoàn cảnhđó đặt ra cho mọi người Việt Nam yêu nước nhiệm vụ phải đấu tranh giải phóngdân tộc. Nguyễn Ái Quốc từ sớm đã kế thừa và tiếp thu ý chí đó nên sẵn sàngtham gia đấu tranh giải phóng dân tộc.Trong khi đó, những phong trào yêu nước cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉXX đã lần lượt bị thất bại. NAQ rất khâm phục tinh thần yêu nước của những vịlãnh đạo cách mạng tiền bối và đương thời nhưng không tán thành con đườngcủa họ. Vì vậy, NAQ quyết định ra đi tìm một con đường cứu nước mới.Do được tiếp xúc với nền văn minh của Pháp từ rất sớm nên Nguyễn ÁiQuốc đã quyết định sang phương Tây để tìm hiểu xem nước Pháp và các nướckhác làm thế nào, rồi trở về giúp đồng bào, giải phóng dân tộc.Trên cơ sở đó, ngày 5/6/1911, Nguyễn Ái Quốc đã ra đi tìm đường cứunước.2. Những hoạt động đầu tiên của Nguyễn Ái Quốc (1911 – 1920).Trường THPT Chuyên Thái Bình299HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VINgày 5/6/1911, Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước tại bến cảngNhà Rồng trên con tàu buôn Latusơ Tơrêvin của Pháp. Từ năm 1911 đến năm1917, NAQ đã đi qua nhiều nước ở châu Á, châu Âu, châu Phi và châu Mĩ vàlàm nhiều nghề khác nhau để sinh sống. Qua quá trình thực tiễn, NAQ đã nhậnthức được rằng ở đâu bọn đế quốc thực dân cũng tàn bạo và độc ác, ở đâunhững người lao động cũng bị áp bức bóc lột dã man.Cuối năm 1917, NAQ từ Anh trở về Pháp, gia nhập Đảng Xã hội Pháp vìđây là tổ chức chính trị tiến bộ duy nhất ở Pháp lúc đó.Tháng 6/1919, NAQ thay mặt những người Việt Nam yêu nước ở Phápgửi lên Hội nghị Vecxai bản yêu sách của nhân dân An Nam đòi chính phủPháp phải thừa nhận các quyền tự do, dân chủ, quyền bình đẳng và tự quyết củadân tộc Việt Nam. Bản yêu sách không được chấp nhận, qua đó NAQ nhận thứcđược rằng : muốn cứu nước giải phóng dân tộc chỉ có thể dựa vào sức của chínhmình.Tháng 7/1920, NAQ đọc được bản sơ thảo lần thứ nhất những luận cươngvề vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Lênin. Từ đó, NAQ khẳng định:muốn cứu nước và giải phóng dân tộc phải đi theo con đường cách mạng vôsản.Tháng 12/1920, NAQ tham dự đại hội lần thứ 18 của Đảng Xã hội Pháphọp tại Tua. Tại đây, NAQ đã bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế cộngsản và tham gia thành lập Đảng cộng sản Pháp.3. Nhận xét.Như vậy, trải qua quá trình hoạt động từ năm 1911 – 1920, NAQ đã tìmra con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam đó là con đường cáchmạng vô sản. NAQ lựa chọn con đường này vì người đã nhìn rõ bản chất củachủ nghĩa đế quốc và những mâu thuẫn tồn tại bên trong không thể giải quyếtđược của nó như: mâu thuẫn giữa đế quốc với đế quốc, mâu thuẫn giưa thuộcđịa với thuộc địa, mâu thuẫn giữa tư sản với vô sản và vì vậy, NAQ không lựaTrường THPT Chuyên Thái Bình300HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘHỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VIchọn con đường cách mạng tư sản. Hơn nữa, sau khi cách mạng tháng MườiNga bùng nổ và giành thắng lợi, NAQ đã thấy rằng đây là cách mạng vô sản,nhưng đối với các thuộc địa trong đế quốc Nga, đó còn là cuộc cách mạng giảiphóng dân tôc. Lần đầu tiên cuộc cách mạng này đã thực sự giải phóng nhândân lao động, đưa nhân dân lao động lên làm chủ chính quyền và tự quyết địnhvận mệnh của mình. Đó chính là điều phù hợp với hoàn cảnh lịch sử Việt Namvà được lịch sử Việt Nam lựa chọn.C/ Kết luận.Thực tiễn phong trào cứu nước giải phóng dân tộc ở Việt Nam trong giaiđoạn cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX diễn ra hết sức phong phú, sôi nổi. Quađó ta nhận thấy rất rõ một quá trình đấu tranh không những chống lại kẻ thù củadân tộc mà còn là quá trình đấu tranh để tìm ra được một con đường cứu nướcđúng đắn, phù hợp với lịch sử dân tộc. Quá trình đó diễn ra gay go, phức tạp,kéo dài nhưng cuối cùng cũng thành công. Đó cũng là đóng góp và công lao đầutiên, lớn nhất của NAQ đối với phong trào cách mạng Việt Nam.Trường THPT Chuyên Thái Bình301[…]… lựa chọn các vấn đề lịch sử cụ thể, chuyên sâu về lịch sử Việt Nam giai đoạn từ năm 1858 đến năm 1918 để giảng dạy cho đối tượng học sinh là học sinh giỏi, từ đó đề xuất được phương pháp ôn tập hiệu quả, mang lại kết quả cao trong kì thi chọn học sinh giỏi Quốc gia Đồng thời, sau khi hoàn thiện chuyên đề, đây có thể được coi là một tài liệu tham khảo cho học sinh và giáo viên khi học tập và giảng dạy. .. kết quả giảng dạy học sinh giỏi Quốc gia môn Lịch sử trong tất cả các trường ngày càng đạt hiệu quả cao hơn Như vậy, việc nghiên cứu chuyên đề có ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn lớn B NỘI DUNG I Lựa chọn vấn đề dạy cho học sinh giỏi Quốc gia phần Lịch sử Việt Nam từ năm 1858 đến năm 1918 Với việc lựa chọn các vấn đề dạy cho học sinh giỏi Quốc gia phần Lịch sử Việt Nam tôi xin được trình bày theo… hội Việt Nam Trường THPT Chuyên Thái Bình 22 HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ HỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI Phần II Phương pháp ôn tập Lịch sử Việt Nam từ 1858 – 1918 cho HSG quốc gia 1 Yêu cầu chung khi tổ chức ôn tập Lịch sử Việt Nam từ 1858 – 1918 cho HSG quốc gia Trên cơ sở đã biên soạn các vấn đề chuyên sâu về phần Lịch sử Việt Nam từ 1858 – 1918, giáo viên cần lựa chọn. .. những giải pháp tối ưu nhằm nâng cao hiệu quả công tác bồi dưỡng học sinh giỏi quốc gia môn lịch sử Xin chân thành cảm ơn! Trường THPT Chuyên Thái Bình 33 HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ HỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI Chuyên đề xếp loại A: LỰA CHỌN VẤN ĐỀ DẠY VÀ PHƯƠNG PHÁP ÔN TẬP CHO HỌC SINH GIỎI QUỐC GIA KHI GIẢNG DẠY LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ NĂM 1858 ĐẾN NĂM 1918 Nguyễn… quan trọng của giai đoạn lịch sử này nên chúng tôi mạnh dạn trình bày một số nội dung trong chuyên đề Lựa chọn vấn đề dạy và phương pháp ôn tập cho học sinh giỏi Quốc gia khi giảng dạy phần lịch sử Việt Nam từ năm 1858 đến năm 1918 để tham gia Hội thảo khoa học lần thứ VI của các trường THPT Chuyên Khu vực Duyên hải – Đồng bằng Bắc Bộ năm 2013 2 Mục đích của đề tài Việc nghiên cứu chuyên đề có mục đích… bài tập phong phú, đa dạng tương ứng với các chuyên đề và rèn kĩ năng làm bài cho học sinh Đây là một yêu cầu rất quan trọng để hình thành cho học sinh kĩ năng làm bài thi và ứng phó với các dạng đề thi 2 Một số biện pháp tổ chức ôn tập Lịch sử Việt Nam từ 1858 – 1918 cho HSG quốc gia 2.1 Tổ chức cho HS trao đổi thảo luận theo chủ đề Một trong những biện pháp dạy học các chuyên đề cho học sinh lớp chuyên. .. đoạn, từng vấn đề, từng nội dung cụ thể là hết sức quan trọng Một bộ môn với lượng kiến thức lớn, nhiều sự kiện như môn Lịch sử sẽ dễ trở thành môn học nhàm chán, tẻ nhạt, một môn học về những sự kiện “cũ kỹ” đã trải qua từ rất lâu và không tạo ra được hứng thú học tập cho học sinh nếu như không có một phương pháp dạy tích cực, đổi mới, phù hợp với từng giai đoạn lịch sử cụ thể Lịch sử Việt Nam từ năm 1858. .. của mình Và những thành quả mà chúng ta đạt được sẽ là sự động viên to lớn để thầy và trò tiếp tục phấn đấu trong giảng dạy và học tập Trên đây là một số kinh nghiệm của chúng tôi trong việc lựa chọn vấn đề dạy và phương pháp ôn tập cho HSG quốc gia khi giảng dạy Lịch sử Việt Nam từ 1858 – 1918 Những kinh nghiệm này được chúng tôi rút ra từ thực tiễn bồi dưỡng HSG ở trường trong nhiều năm và đã đem… cả giai đoạn lịch sử Việt Nam từ năm 1858 đến năm 1918, sau đó tiến hành lựa chọn, đưa ra một số vấn đề, nội dung, câu hỏi Trường THPT Chuyên Thái Bình 35 HỘI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN KHU VỰC DUYÊN HẢI – ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ HỘI THẢO KHOA HỌC LẦN THỨ VI chuyên sâu để giải quyết Thiết nghĩ, đối tượng nghiên cứu của chuyên đề chính là các vấn đề được lựa chọn dạy cho học sinh giỏi Quốc gia – đây là bộ phận học. .. THPT Chuyên Nguyễn Tất Thành – Yên Bái A PHẦN MỞ ĐẦU 1 Lý do chọn đề tài Một trong những nhiệm vụ then chốt, mũi nhọn của trường THPT Chuyên khác với các trường THPT khác chính là nhiệm vụ bồi dưỡng học sinh giỏi Đối với giáo viên các trường Chuyên nói chung, giáo viên dạy bộ môn Lịch sử trong trường Chuyên nói riêng, vấn đề lựa chọn nội dung giảng dạy và phương pháp ôn tập cho học sinh theo từng giai … số vấn đề chuyên sâu phần Lịch sử Việt Nam từ 1858 – 1918 Nội dung Lịch sử Việt Nam từ 1858 – 1918 Một số vấn đề chuyên sâu phần Lịch sử Việt Nam từ 1858 – 1918 Phần II: Phương pháp ôn tập Lịch. .. Lịch sử Việt Nam từ 1858 – 1918 cho HSG quốc gia Yêu cầu chung tổ chức ôn tập Lịch sử Việt Nam từ 1858 – 1918 cho HSG quốc gia Một số biện pháp tổ chức ôn tập Lịch sử Việt Nam từ 1858 – 1918 cho. .. THỨ VI Chuyên đề xếp loại A: LỰA CHỌN VẤN ĐỀ DẠY VÀ PHƯƠNG PHÁP ÔN TẬP CHO HỌC SINH GIỎI QUỐC GIA KHI GIẢNG DẠY LỊCH SỬ VIỆT NAM TỪ NĂM 1858 ĐẾN NĂM 1918 Nguyễn Thị Thanh Huyền Trường THPT Chuyên

Xem thêm :  Cần thợ nail USA
Xem thêm bài viết thuộc chuyên mục: Traveller